Chương 1. Khung lý thuyết nghiên cứu giải quyết việc làm trong quá trình đô thị hoá - Chương 2. Thực trạng giải quyết việc làm trong quá trình đô thị hoá ở huyện Đông Anh - Chương 3. Xu thế đô thị hóa trong thời gian tới và đề xuất về giải quyết việc làm cho lao động huyện Đông Anh đến năm 2020 5 CHƢƠNG 1.
KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ 1. Đô thị Đô thị là một khái niệm đã được xuất hiện từ khá lâu và được quan tâm nghiên cứu trong nhiều năm trở lại đây. Thuật ngữ "đô thị" được bắt nguồn từ tiếng la tinh: Urbanus - thuộc về đô thị, Urban - thành thị, đô thị, châu thị,. "Đô thị là một khái niệm cơ bản và được sử dụng khá thống nhất ở các quốc gia, nhằm chỉ những nơi có dân cư đông đúc, sinh sống bằng các nghề phi nông nghiệp".Harold Chestnut của Đại học kỹ thuật Presden (Hoa Kỳ): "Đô thị là các điểm dân cư ở đó biểu hiện một quá trình kinh tế - xã hội - kỹ thuật gắn bó mật thiết với nhau.
Các hoạt động của đô thị được phản ánh thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh, sinh sống, đi lại, vui chơi giải trí,. của dân cư, chúng tồn tại và phát triển theo các quy luật của xã hội". Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Hà Nội, năm 1995: “Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp”.S Đàm Trung Phường: “Đô thị là một đơn vị kinh tế - xã hội phản ánh sự vận động của bản thân lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, từ đó làm cho cấu trúc của đô thị thường xuyên có sự chuyển hóa; sự chuyển hóa này vừa mang tính sinh học vừa mang tính cơ học. Đô thị là một cơ thể sống luôn vận động, phát triển trên cơ sở đan kết tổng hòa cân bằng động của nhiều ngành trong một đơn vị lãnh thổ và sự tác động tương hỗ của các hệ thống nội lực, ngoại lực theo nhiều chiều khác nhau”.
6 Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/05/2009 thì, một đơn vị hành chính để được phân loại là đô thị thì phải có các tiêu chuẩn cơ bản như sau: 1. Chức năng đô thị Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định. Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên. Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động. Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật: a) Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị; b) Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững. Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên. Đô thị hóa Đô thị hóa là một hiện tượng xã hội phổ biến ở mọi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mình.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Minh: “Đô thị hóa là quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của con người. Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư và những yếu tố vật chất, mà còn là sự chuyển hóa những kiểu mẫu của đời sống xã hội. Trong quá trình đô thị hóa đã diễn ra sự phổ biến các giá trị văn hóa và lối sống đô thị vào cuộc sống nông thôn”.Alaev “Đô thị hóa là một quá trình kinh tế - xã hội được gia tăng mạnh mẽ trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, biểu hiện của nó là sự tăng nhanh về số lượng và quy mô của các điểm dân cư đô thị, sự tập trung hóa về dân cư trong các thành phố và đặc biệt là trong các thành phố lớn, sự phổ biến lối sống đô thị trong toàn bộ mạng lưới dân cư. Đô thị hóa là sự phản ánh những chuyển biến sâu sắc trong cấu trúc kinh tế và trong các hoạt động của đời sống xã hội”.
Theo Trung tâm định cư của Liên hợp quốc (Habitat), đô thị hóa là quá trình mà nhờ nó, dân cư của các quốc gia, chuyển dịch từ các nghề nghiệp nông thôn sang các nghề nghiệp đô thị, và vì thế mà diễn ra sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn sang đô thị ở các quy mô khác nhau. Đô thị hóa không đơn thuần là vấn đề dân số học, mà nó là vấn đề bao trùm về sự phân bố; đô thị hóa có thể được hiểu như là sự biểu hiện của các mô hình phát triển các điểm dân cư. Theo giáo sư Đàm Trung Phường, “đô thị hóa là quá trình chuyển dịch lao động từ hoạt động sơ khai nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên sẵn có như các hoạt động của ngành nông, lâm, ngư nghiệp, khai thác phân tán trên các địa bàn rộng sang những hoạt động tập trung hơn như các hoạt động sản xuất công nghiệp và thương mại dịch vụ,. cũng có thể nói là chuyển từ hoạt động nông nghiệp phân tán, sang các hoạt động phi nông nghiệp tập trung trên một địa bàn thích hợp được gọi là đô thị”.
8 Như vậy, tùy theo từng quan điểm thì xuất hiện các khái niệm khác nhau về đô thị hóa, tuy nhiên, đều có những nét chung cơ bản phản ánh đặc trưng của đô thị hóa là: quá trình tập trung dân số ở các đô thị, và sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống. Quá trình đô thị hóa là quá trình công nghiệp hóa đất nước, đồng thời cũng là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu dân cư, cơ cấu đất đai, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc. biến nông thôn thành thành thị, hay nói cách khác đô thị hóa là quá trình biến các vùng nông thôn với hoạt động nông nghiệp là chủ yếu thành các đô thị (thành phố, thị xã, thị trấn) với các hoạt động phi nông nghiệp là chủ yếu, từng bước xóa bỏ thói quen của những người nông dân, xây dựng phong cách, thói quen, tư duy, và lối sống của người dân trong các đô thị. Một trong những tiêu chí quan trọng của quá trình đô thị hóa là tỷ lệ dân số sống trong khu vực đô thị so với tổng dân số trên cùng một tỉnh, một vùng hay cả nước.
Bên cạnh tăng trưởng tỷ lệ đô thị hóa, các tiêu chí về tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP từ các khu vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch (khu vực phi nông nghiệp) chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng GDP quốc gia. Các tiêu chí này cùng với tỷ lệ đô thị hóa cao sẽ đem lại hiệu quả phát triển tổng hợp trong quá trình đô thị hóa theo hướng tích cực. Các nước có tỷ lệ đô thị hóa cao đồng nghĩa với tốc độ tăng trưởng khu vực đô thị và cả nước cao. Thí dụ Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc) có tỷ lệ đô thị hóa gần 100%, Hàn Quốc 91%, Thái Lan 87%, Indonesia 78,5%, Philippines 77%,.
Ở các nước đang phát triển, đô thị hoá là sự bùng nổ về dân số và sự phát triển công nghiệp. Do sự yếu kém của công tác quản lý đô thị, đô thị hoá ở các nước đang và kém phát triển là sự gia tăng dân số không dựa trên cơ sở phát triển kinh tế. Những vấn đề đô thị như giao thông, ô nhiễm môi trường nảy sinh và không thể giải quyết trong một sớm một chiều. Mâu thuẫn giữa đô thị và nông thôn ngày càng trở nên sâu sắc.
Trong khi đó ở các nước phát triển, đô thị hoá 9 là sự phát triển theo chiều sâu (phát huy các ảnh hưởng tích cực, hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực của quá trình đô thị hoá). Đô thị hoá nâng cao điều kiện sống và làm việc, công bằng xã hội và rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Một trong những tiêu chí để đánh giá quá trình đô thị hoá chính là dựa trên quy mô và mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, hệ thống các công trình hạ tầng đô thị. Cũng dựa trên những tiêu chí này thì đô thị được chia làm sáu loại: - Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc.
- Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành. - Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị. - Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị. - Đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn.
* Phân loại quá trình đô thị hoá: - Đô thị hoá tập trung: là sự tích tụ các nguồn lực tư bản và chất xám để hình thành nên các trung tâm đô thị công nghiệp tập trung cao độ, những thành phố “toàn cầu” như Seoul, Tokyo.