Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm trong quá trình đô thị hóa Chương 2. Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm trong quá trình đô thị hóa tỉnh Thái Bình Chương 3. Đề xuất một số giải pháp CHUONG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 1. Tổng quan về đô thị 1. Khái niệm Rat nhiều khái niệm khác nhau về đô thị và sau đây là một số khái niệm phố biến Theo Giáo trình Kinh tế và Quản lý đô thị, (Đại học Kinh té quoc ddan năm 2003) : Đô thị là điểm tập trung dân cu cao với mật độ dân số cao chu yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đây sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của một nước, của một miền lãnh thé, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện. Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam: Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và lao động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp.org : đô thị là một khu vực có mật độ các công trình kiến trúc gia tăng do con người xây dựng so với các khu vực lân cận.
Đô thị là nơi tập trung dân cư đông đúc, có thé là thành phó, thị xã hay thị tran nhưng thuật ngữ này thông thường không mở rộng đến các khu định cư nông thôn như làng, xã, ấp hay bản. Từ những khái niệm trên ta có thé tổng quát chung nhất định nghĩa đô thị như sau: - Không gian địa ly xác định - Quy mô, mật độ dân số lớn - Lao động chủ yếu là lao động phi nông nghiệp 1. Phân loại Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ : Về việc phân loại đô thị 10 Đô thị được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận. Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc.
Đô thị loại I, loại I là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành. Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thỊ. Đô thị loại IV là thị xã thuộc tinh có các phường nội thị và các xã ngoại thi. Đô thị loại IV, đô thị loại V là thi tran thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn.
Đặc trưng của đô thị - Đô thị nhw một cơ thé sống: Đặc điểm này xuất phát từ tính chất cấu trúc hoàn chỉnh và đồng bộ của từng bộ phận cũng như của toàn bộ cơ thé đô thị và tính chất luôn vận động của ⁄ no. Hé thống chức năng vận động của đô thị là toàn bộ các hoạt động của nền kinh tế - xã hội đô thị trên cơ sở hạ tầng đô thị. Giống như một cơ thé sông, bat ky một sự “trục trac” nào trong hệ thống cấu trúc cũng sẽ dẫn tới những rối loạn trong các hoạt động đô thị. Vì vậy, sự cân bang, én dinh, bén vững là mục tiêu số 1 của đô thị.
- Đô thị luôn luôn phát triển: Đặc điểm này vừa biểu hiện tính “sống” của đô thị, đồng thời biểu hiện sự găn kết chặt chẽ giữa đô thị với xã hội lời người. Sự hình thành và phát triển của đô thị gắn liền với lịch sử phát triển của loài người, đặc biệt là găn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Xã hội loài người luôn phát triển, kinh tế hàng hóa luôn phát triển do đó đô thị luôn phát triển. Đặc điểm này cũng cho thấy sự hình thành , tổn tại, phát triển của đô thị chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế - xã hội.
Đặc biệt là các quy luật của nền kinh tế thị trường. Tác động này vừa là thời cơ, vừa là thách thức cho sự phát triển ôn định, bền vững của đô thị. 11 Mặc dù các đô thị được hình thành và phát triển theo các quy luật khách quan của nền kinh tế - xã hội, nhưng con người có thê tham gia và điều khiến được sự phát triển đó. Nói cách khác, đô thị được coi là một hệ điều khiển, tuy nhiên là một hệ mở, một hệ điều khiển bán hoàn chỉnh.
Con người chỉ có thể điều chỉnh được sự hình thành, hoạt động và phát triển của đô thị theo đúng các quy luật khách quan của nó. Con người có thể định hướng, có thể can thiệp vào sự vận động của đô thị, chứ không thể “bắt” đô thị vận động theo ý chủ quan trái với quy luật của mình. Tổng quan về đô thị hóa 1. Khái niệm Trên quan điểm một vùng, đô thị hóa là một quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị.
Theo quan điểm kinh tế quốc dân: đô thị hóa là một quá trình biến đổi về phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố tri dân cư những vùng không phải đô thị thành đô thị đồng thời phát triển các đô thị hiện có theo chiêu sâu. Đô thị hóa là sự quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức sống đô thị của các nhóm dân cư. Khi kết thúc thời kỳ quá độ thì các điều kiện tác động đến đô thị hóa cũng thay đổi và xã hội sẽ phát triển trong các điều kiện mới, đặc biệt là thay đôi cơ cau dân cư. Tóm lại đô thị hóa là quá trình có thé định nghĩa ở nhiều góc độ khác nhau.
Một cách tông quát: Dé thi hóa là quá trình biến đổi về phân bo các lực lượng sản xuất trong nên kinh tế quốc dân, bồ trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiêu sâu trên cơ sở đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dan 560. Đặc điểm của đô thị hóa — Đô thị hoá là sự phát triên vê quy mô, sô lượng, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành các chùm đô thị. — Đô thị hoá gắn liền với một thể chế kinh tế xã hội nhất định, gắn liền với sự biến đổi về kinh tế xã hội của đô thị và nông thôn, sự biến đồi ay thé hién 6 su phát trién công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ. Phương hướng, điều kiện phát triển của đô thị hoá phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuât và quan hệ sản xuât.
12 + Ở các nước phát triên, đô thị hoá đặc trưng cho sự phát triên các nhân tô theo chiêu sâu, tạo điêu kiện đê điêu tiệt và khai thác tôi đa các ích lợi, hạn chê bât lợi của quá trình đô thi hoá, nâng cao điêu kiện sông va làm việc, công bang xã hội, xóa bỏ khoảng cách thành thị và nông thôn. + Ở các nước đang phát triển, như Việt Nam, biểu hiện của đô thị hoá là sự bùng nổ về dân số, sự phát triển công nghiệp tỏ ra yếu kém, sự gia tăng dân số không dựa trên cơ sở phát triển công nghiệp và phát triển kinh tế. Mau thuẫn giữa thành thị và nông thôn có biểu hiện gia tăng do sự mất cân đối trong các cơ hội phát triển. + Công nghiệp hoá là cơ sở cho sự phát triển của đô thị hoá.
Đô thị hóa trên thế giới bắt đầu từ cách mạng thủ công nghiệp ( tượng trưng là cái sa quay ); sau đó là cách mạng công nghiệp (tượng trưng là máy hơi nước) đã thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc với năng suất lao động cao hơn và đã phân công lại lao động xã hội, làm thay đổi cơ cấu lao động xã hội, đồng thời, cách mạng công nghiệp đã tập trung hoá lực lượng sản xuất ở mức độ cao dẫn đến hình thành đô thị mới, mở rộng quy mô đô thị cũ. Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ( tượng trưng cho nó là những cỗ máy vi tính, những siêu xa lộ thông tin và điện thoại di động ) thì sự phát triển đô thị hoá đã và sẽ mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Như vậy, dựa vào 2 đặc điểm của đô thị hóa ở trên, ta có thể khẳng định: Mỗi nền văn minh đều tạo ra một phong cách sông, làm việc thích hợp, một hình thái phân bố dân cư, một cấu trúc đô thị thích hợp. Tác động của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội Dù là đô thị hóa theo chiều rộng hay theo chiều sâu, thì đô thị hóa luôn luôn có tác động mạnh và trực tiếp đến dân số cũng như lao động việc làm.
Việc hình thành đô thị về cơ bản là cần có một quy mô dân số phù hợp, quá trình đô thị hóa khiến đô thị mở rộng và phát triển chăng những tác động đến dân số về mặt lượng mà còn cả về mặt chất. Đồng thời chất lượng dân sé, lao động lại tác động ngược trở lại quá trình đô thị hóa, là một trong những nhân tô quyết định đến tốc độ đô thị hóa. Từ đó có thé thay mối quan hệ giữa đô thị hóa và van dé dân số lao động việc làm là mối quan hệ hai chiều, khó có thé tách rời. Tác động đến quy mô dân số, lao động đô thị.
Đô thị hóa góp phần thúc đây sự phát triển nền kinh tế đô thị, vì vậy nó khiến cho dân số đô thị ngày một tăng lên. Bên cạnh yếu tố gia tăng tự nhiên yếu tố di cư cũng tác động không hề nhỏ 13 đến dân số đô thị. Bởi sự đa dạng về ngảnh, lĩnh vực kinh tế mà các đô thị lớn luôn thu hút một lực lượng lớn lao động từ khắp nơi đồ về, bởi vậy mà tại nơi đây luôn có quy mô dân số cũng như quy mô lao động rất lớn. Tuy nhiên nó cũng đồng thời gây ra tình trạng quá tải dân số tại các đô thị lớn mà tiêu biểu là thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.