Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. - Chương 2: Quy trình và phương pháp nghiên cứu. - Chương 3: Thực trạng quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tài chính tại Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội. - Chương 4: Định hướng và một sô giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính theo cơ chế tư chủ tài chính tại Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội.
4 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình nghiên cứu Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, cũng như trong các chính sách của từng quốc gia. Với tình hình gánh nặng đối với ngân sách nhà nước là rất lớn, thâm hụt ngân sách và nợ công liên tục tăng thì việc quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm đặc biệt.
Vì vậy để thực hiện lộ trình tự chủ cho các ĐVSNCL thì Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban hành rất nhiều Nghị định, Thông tư quy định, khuyến khích các ĐVSNCL thực hiện cơ chế tự chủ: - Chính phủ (2002). Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 quy định về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp công lập. Nghị định đã phân loại các ĐVSNCL, quy định về nguồn tài chính, sử dụng các nguồn tài chính; nhằm nâng cao tính chủ động trong hoạt động cung cấp dịch vụ; nâng cao chất lượng dịch vụ và thu nhập của người lao động, giảm bớt sự bao cấp từ ngân sách nhà nước (NSNN). - Bộ Tài chính (2002).
Thông tư số 25/2002/TT-BTC ngày 21/3/2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu. - Chính phủ (2006). Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Trong đó quy định bên cạnh quyền tự chủ về tài chính, ĐVSNCL còn được tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và nhân sự.
5 z - Bộ Tài chính (2006). Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 9 tháng 8 năm 2006 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25 tháng 4 năm 2006 quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. - Chính phủ (2015). Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.
Trong đó, Chính phủ khuyến khích và tạo ra điều kiện cho tất cả các ĐVSNCL, các đơn vị cam kết tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư được thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm một cách toàn diện về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính, đưa ra lộ trính tính giá dịch vụ công của các ĐVSNCL. - Chính phủ (2016). Nghị định số 141/2016/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2016 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác. Quy định chi tiết riêng về cơ chế tự chủ đối với các ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp khác, đưa ra lộ trình tính giá dịch vụ công của các ĐVSNCL trong lĩnh vực này.
- Bộ Tài chính (2017). Thông tư số 145/2017/TT-BTC ngày 29 tháng 12 năm 2017 hướng dẫn cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định số 141/2016/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2016 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác. Bên cạnh đó, đã có khá nhiều những công trình nghiên cứu, các bài viết liên quan đến lĩnh vực này như: - Nguyễn Tấn Lượng, 2011. Hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường đại học công lập tự chủ tài chính trên địa bàn TP.
Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.Tác giả đã nghiên cứu, phân tích thực trạng các nguồn lực và việc sử dụng các nguồn lực tài chính tại các trường đại học công lập tự chủ tài chính trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và đưa ra các 6 z giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính cho các đơn vị. - Vũ Thị Thanh Thủy, 2012. Quản lý tài chính các trường Đại học công lập ở Việt Nam. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Tác đã nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý tài chính các trường Đại học công lập Việt Nam, đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính các trường Đại học công lập Việt Nam. - Mai Thị Hoa, 2015. Quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam. Luận văn thạc sỹ.
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả đã phân tích, đánh giá được thực trạng công tác quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo, đề xuất các các giải pháp nhắm tăng cường hiệu quả quản lý tài chính tại các đơn vị. - Trần Quang Huy, 2015. Quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học và công nghệ tại Viện Vật lý, Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam.
Luận văn thạc sỹ. Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả đã phân tích, đánh giá được thực trạng, tính đặc thù trong công tác quản lý tài chính tại Viện Vật lý, Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học và công nghệ tại Viện Vật lý, Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam. - Nguyễn Tất Nguyên, 2015.
Quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại Trường Cao đẳng nghề Đắk Lắk. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Tác giả đã phân tích, đánh giá được thức trạng, tính đặc thù trong công tác quản lý tài chính các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực dạy nghề, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học và công nghệ tại Trường Cao đẳng nghề Đắk Lắk. - Đặng Thị Hà, 2018. Quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại các trường đại học công lập – Thực trạng và giải pháp.
Đăng trên Tạp chí Quản lý Nhà nước ngày 03/05/2018; Công trình đã đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại các 7 z trường đại học được giao tự chủ, đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ hiện nay. - Đinh Thị Hiếu, 2019. Những thay đổi cơ bản trong cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập. Đăng trên Tạp chí Tài chính ngày 03/02/2019; công trình đã phân tích rõ được những thay đổi cơ bản trong cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, những vướng mắc khó khăn khi áp dụng cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập.
Khoảng trống nghiên cứu Từ những nghiên cứu kể trên cho ta thấy tại Việt Nam đã có nhiều các đề tài nghiên cứu khác nhau về quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập. Dù vậy chưa có đề tài nghiên cứu về quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tài chính tại Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội giai đoạn 2016-2018. Mỗi một đơn vị sự nghiệp công lập khác nhau thì có những đặc điểm, chức năng, và nhiệm vụ riêng. Chính vì vậy rất cần có nghiên cứu cụ thể tại Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội, từ đó để đánh giá thực trạng và đưa ra những giải pháp mang tính khả thi, phù hợp cho việc quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tài chính tại Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội.
Cơ sở lý luận về Quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tài chính 1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập. Khái niệm, đặc điểm, phân loại đơn vị sự nghiệp công lập 1. Một số khái niệm, đặc điểm Theo quy định tại Điều 9, Luật Viên chức số 58/2010/QH12 quy định về khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập : “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” Ta thấy đơn vị sự nghiệp có những tính chất, đặc điểm sau: 8 z - Được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; - Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; - Đơn vị sự nghiệp công lập phải có tư cách pháp nhân, có tài khoản, con dấu riêng.
- Đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước trong các ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật. - Viên chức và lao động hợp đồng là lực lượng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập.