Luận văn đánh giá tác động khai thác mỏ đá Thung Chuông - ĐHKHTN Hà Nội

Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường từ hoạt động khai thác đá vôi tại xã Đức Long, huyện Nho Quan. Đề xuất giải pháp quản lý bền vững khu vực mỏ đá vôi Núi

Trường đại học

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Khoa học Môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

107
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về khai thác đá vôi ảnh hưởng hệ sinh thái mỏ núi Thung Chuông

Khai thác vật liệu xây dựng, đặc biệt là đá vôi tại khu vực mỏ núi Thung Chuông (xã Đức Long, huyện Nho Quan, Ninh Bình) gây ra những biến đổi nghiêm trọng đến hệ sinh thái địa phương. Hoạt động này phá vỡ cấu trúc địa hình, làm giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường không khí và nước do bụi, khí thải và nước thải từ quá trình khai thác. Nghiên cứu đánh giá tác động của hoạt động khai thác nhằm xác định mức độ ảnh hưởng và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý khu vực mỏ. Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng sinh thái rừng nhiệt đới thứ sinh, nơi tồn tại các hệ sinh thái đa dạng như rừng thường xanh, trảng cỏ và thảm thực vật ven suối. Hoạt động khai thác không chỉ gây mất cân bằng sinh thái mà còn đe dọa sinh kế của cộng đồng địa phương phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên.

1.1. Hiện trạng khai thác đá vôi tại khu vực nghiên cứu

Khu vực mỏ núi Thung Chuông đã và đang được khai thác đá vôi với quy mô lớn trong nhiều năm qua. Phương pháp khai thác chủ yếu là lộ thiên, sử dụng thuốc nổ để phá đá, kết hợp với các thiết bị cơ giới như máy xúc, xe tải. Theo thống kê, sản lượng khai thác trung bình hàng năm đạt khoảng 500.000 tấn đá vôi, phục vụ nhu cầu vật liệu xây dựng cho khu vực và các tỉnh lân cận. Tuy nhiên, hoạt động khai thác đã gây ra những hậu quả rõ rệt như sạt lở đất, xói mòn, suy giảm chất lượng đất do mất lớp phủ thực vật. Ngoài ra, bụi từ quá trình khai thác và vận chuyển gây ô nhiễm không khí, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái xung quanh.

1.2. Đặc điểm hệ sinh thái khu vực mỏ núi Thung Chuông

Hệ sinh thái khu vực mỏ núi Thung Chuông thuộc kiểu rừng nhiệt đới thứ sinh, với sự đa dạng về thảm thực vật và động vật. Các loài thực vật chủ yếu bao gồm các loài thuộc họ Poaceae như cỏ tranh (Imperata cylindrica), lau sậy (Saccharum spontaneum), cùng một số loài cây bụi và thân gỗ nhỏ. Động vật tại đây khá nghèo nàn, chủ yếu là các loài động vật đất, côn trùng, bò sát và một số loài chim nhỏ. Hệ sinh thái này có khả năng tái sinh tự nhiên nhưng diễn ra rất chậm do tác động của con người. Việc khai thác đá vôi đã làm suy giảm đáng kể diện tích rừng, dẫn đến mất nơi cư trú của nhiều loài động vật và giảm khả năng cung cấp nguồn tài nguyên sinh học cho cộng đồng địa phương.

II. Phân tích tác động môi trường từ khai thác đá vôi đến hệ sinh thái

Hoạt động khai thác đá vôi tại mỏ núi Thung Chuông gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và sinh kế của người dân. Tác động rõ rệt nhất là sự phá hủy cảnh quan địa hình, dẫn đến xói mòn đất và sạt lở. Quá trình nổ mìn và vận chuyển đá tạo ra lượng lớn bụi, khí thải chứa các hợp chất lưu huỳnh và nitơ, gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng. Nước mưa rửa trôi các hạt bụi và hóa chất từ bãi thải, dẫn đến ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm. Sự suy giảm đa dạng sinh học là hệ quả trực tiếp khi môi trường sống của nhiều loài động thực vật bị thu hẹp. Theo nghiên cứu thực địa, mật độ loài thực vật giảm tới 40% tại các khu vực khai thác so với vùng chưa bị tác động. Động vật hoang dã cũng bị ảnh hưởng khi nguồn thức ăn và nơi cư trú bị phá hủy.

2.1. Ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và sinh cảnh

Khai thác đá vôi đã dẫn đến sự suy giảm đáng kể đa dạng sinh học tại khu vực mỏ núi Thung Chuông. Nhiều loài thực vật quý hiếm như Macaranga denticulata, Chromolaena odorata đã biến mất khỏi khu vực khai thác. Động vật cũng chịu tác động nghiêm trọng, đặc biệt là các loài chim, bò sát và động vật có vú nhỏ. Mất môi trường sống khiến nhiều loài phải di cư hoặc bị tuyệt diệt cục bộ. Theo đánh giá, diện tích rừng tự nhiên giảm từ 65% xuống còn 30% sau 10 năm khai thác. Sự suy giảm này không chỉ ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái mà còn đe dọa sự tồn tại của các loài có giá trị bảo tồn.

2.2. Ô nhiễm môi trường đất nước và không khí

Quá trình khai thác đá vôi tạo ra lượng lớn bụi mịn (PM10, PM2.5) và khí thải từ máy móc, góp phần làm tăng mức độ ô nhiễm không khí tại khu vực lân cận. Bụi đá vôi và các hạt kim loại nặng từ thuốc nổ tích tụ trong đất, làm suy giảm chất lượng đất trồng. Nước mưa rửa trôi các chất thải từ bãi thải, dẫn đến ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm. Theo kết quả phân tích mẫu đất, hàm lượng kim loại nặng như chì, cadimi tăng cao vượt ngưỡng cho phép tại các khu vực khai thác. Tình trạng ô nhiễm này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, gây ra các bệnh về hô hấp, tiêu hóa và ung thư.

III. Giải pháp sử dụng hợp lý khu vực mỏ đá vôi núi Thung Chuông

Để giảm thiểu tác động tiêu cực từ hoạt động khai thác đá vôi, cần áp dụng các giải pháp quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên mỏ. Giải pháp đầu tiên là lập quy hoạch khai thác bền vững, giới hạn sản lượng khai thác và phân vùng khai thác hợp lý. Thứ hai, triển khai các biện pháp phục hồi sinh thái sau khai thác, bao gồm trồng cây bản địa, tái tạo thảm thực vật và xây dựng hệ thống thoát nước. Thứ ba, áp dụng công nghệ khai thác tiên tiến như khai thác bán cơ giới, sử dụng thuốc nổ có kiểm soát để giảm thiểu tác động đến môi trường. Ngoài ra, tăng cường giám sát môi trường và tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên là cần thiết. Các giải pháp này cần được triển khai đồng bộ bởi chính quyền địa phương, doanh nghiệp khai thác và cộng đồng dân cư.

3.1. Biện pháp phục hồi sinh thái sau khai thác

Phục hồi sinh thái sau khai thác là giải pháp quan trọng để tái lập hệ sinh thái tại khu vực mỏ núi Thung Chuông. Phương pháp phục hồi bao gồm trồng cây bản địa như Keo (Acacia spp.), Lim xanh (Erythrophleum fordii), kết hợp với các loài cỏ chịu hạn như cỏ tranh (Imperata cylindrica) để ổn định đất. Ngoài ra, xây dựng hệ thống thoát nước bằng các rãnh thoát, hồ điều tiết nhằm ngăn chặn xói mòn và ô nhiễm nước. Theo kinh nghiệm từ các dự án phục hồi tại Việt Nam, tỷ lệ sống của cây trồng sau 3 năm có thể đạt 70-80% nếu được chăm sóc đúng cách. Đồng thời, hạn chế chăn thả gia súc trong khu vực phục hồi để tránh phá hoại cây non.

3.2. Quản lý khai thác bền vững và giám sát môi trường

Quản lý khai thác bền vững yêu cầu xây dựng kế hoạch khai thác chi tiết, phân vùng khai thác theo mức độ nhạy cảm sinh thái. Doanh nghiệp khai thác phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về môi trường, sử dụng công nghệ khai thác tiên tiến để giảm thiểu tác động. Giám sát môi trường bao gồm quan trắc chất lượng không khí, nước, đất định kỳ và công khai kết quả cho cộng đồng. Theo Luật Bảo vệ môi trường 2020, doanh nghiệp phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và thực hiện các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm. Ngoài ra, khuyến khích doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001 về quản lý môi trường.

IV. Kết luận và khuyến nghị sử dụng hợp lý khu vực mỏ đá vôi

Nghiên cứu đã chứng minh hoạt động khai thác đá vôi tại mỏ núi Thung Chuông gây ra những tác động tiêu cực nghiêm trọng đến hệ sinh thái và môi trường sống của cộng đồng địa phương. Để giảm thiểu những tác hại này, cần áp dụng đồng bộ các giải pháp như quy hoạch khai thác bền vững, phục hồi sinh thái sau khai thác, quản lý môi trường chặt chẽ và nâng cao nhận thức cộng đồng. Các giải pháp này không chỉ giúp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững của khu vực. Chính quyền địa phương cần phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp khai thác và cộng đồng dân cư để triển khai các biện pháp bảo vệ môi trường. Ngoài ra, nghiên cứu đề xuất mở rộng mô hình nghiên cứu sang các khu vực khai thác khác tại tỉnh Ninh Bình để đánh giá tác động tổng thể và đề xuất giải pháp toàn diện.

4.1. Đánh giá hiệu quả các giải pháp đề xuất

Các giải pháp phục hồi sinh thái và quản lý khai thác đề xuất trong nghiên cứu đã được thử nghiệm tại một số khu vực mỏ đá vôi tại Ninh Bình. Kết quả cho thấy sau 2 năm triển khai, diện tích thảm thực vật tăng 25%, mật độ loài thực vật tăng 30%, và chất lượng đất cải thiện đáng kể. Hệ thống thoát nước cũng hoạt động hiệu quả, giảm thiểu tình trạng xói mòn và ô nhiễm nước. Tuy nhiên, hiệu quả của các giải pháp phụ thuộc nhiều vào sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp, chính quyền và cộng đồng. Việc thiếu sự tham gia của cộng đồng có thể dẫn đến thất bại trong triển khai.

4.2. Định hướng nghiên cứu và ứng dụng trong tương lai

Trong tương lai, nghiên cứu nên tập trung vào việc đánh giá tác động dài hạn của hoạt động khai thác đến hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng. Ngoài ra, cần nghiên cứu ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS để giám sát diễn biến môi trường theo thời gian thực. Các giải pháp phục hồi sinh thái nên được đa dạng hóa, kết hợp giữa các loài cây bản địa và các loài có giá trị kinh tế để tăng tính bền vững. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên là cần thiết. Nghiên cứu cũng đề xuất xây dựng các mô hình khai thác bền vững tại các khu vực mỏ đá vôi khác tại tỉnh Ninh Bình.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Luận văn thạc sĩ đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vật liệu xây dựng tới hệ sinh thái đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý khu vực mỏ đá vôi núi thung chuông xã đức long huyện nho quan tỉnh ninh bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 ~ TỎNG QUAN CÁC VẤN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về hệ sinh thái trên thế giới và Việt Nam 1. Các nghiên cứu về hệ sinh thái trên thế giới Các công trình nghiên cứu đồ sộ về hệ thực vật trên thế giới chủ yếu tập trung ở thế kỷ 19 và thế kỷ 20. Có thể kế đến một số nghiên cứu điển hình như: Thực vật chí Hong Kong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc và trung tâm Ấn Độ (1874), Thực vật chí Ấn Độ 7 tập (1872 — 1897), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1892 — 1925), Thực vật chí Hải Nam (1972 — 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977).

Các nghiên cứu tập trung vào việc điều tra thong kê số lượng loài ở vùng, khu vực, một quốc gia cụ thể. Trên cơ sở đó đánh giá độ phong phú về thành phần loài, sự phân bố của hệ thực vật theo các bậc taxon, theo các yếu tố địa lý, dạng sống, giá trị sử dụng. Phân loại thảm thực vật: Thảm thực vật được phân chia theo nhiều hệ thống tùy theo phương pháp tiếp cận của các tác giả. Trong đó phô biến nhất là 5 cách phân loại sau: - Phân loại dựa vào điều kiện sinh thái: Tiêu biểu cho cách tiếp cận này có thé ké đến Sennhicop (1964), Warming (1896), Richards P.

- Phân loại theo cấu trúc ngoại mạo: Cơ sở phân loại trong hệ thống phân loại này là dựa vào hình thái ngoại mạo của thảm thực vật - dạng sống ưu thế cùng điều kiện sống. Thang phân loại được chia thành lớp quần hệ, mỗi lớp lại chia thành các lớp phụ, tiếp đến là nhóm quân hệ và quần hệ. Tác tác giải phân loại theo cách tiếp cận này như Rubel (1930), Mausel (1954), Ellenberg, Mueller và Dombois (1967),UNESCO (1973). - Phân loại theo động thái và nguồn gốc phát sinh: Đây là cách phân loại thảm thực vật thành quần xã cao đỉnh, quần xã dẫn xuất, hay là quần xã ở các giai đoạn của quá trình hình thành quần xã cao đỉnh, các quần xã có sự giống nhau về loài ưu thê, vê trạng thái của các loài ưu thê trong câu trúc của quân xã.

Đại diện cho trường phái này là Ramenski (1938), Sotrava (1972), Clemets (1916), Whittaker (1953). - Ngoài ra còn có thể phân loại theo thành phần hệ thực vật hoặc phân theo mục đích kinh doanh: Braun - Blanquet (1928), Morodov G. Các nghiên cứu về hệ sinh thái ở Việt Nam 1. Nghiên cứu về thực vật a.

Phân loại thảm thực vật Nghiên cứu về các thảm thực vật Việt Nam, từ xưa đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu. Phương pháp áp dụng để phân loại thảm thực vật thì có nhiều cách, tuy nhiên cách tiếp cận được sử dụng phô biến nhất là phân loại theo sinh thái phát sinh quần thể của Thái Văn Trừng (1978) và phân loại theo cấu trúc ngoại mạo cua UNESCO (1973). Thái Văn Trừng (1978, 1999) đã căn cứ vào quan điểm sinh thái phát sinh quần thể thực vật để phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam. Tư tưởng học thuật của quan điểm này là trong một môi trường sinh thái cụ thê chỉ có thể xuất hiện một kiểu thảm thực vật nguyên sinh nhất định.

Trong môi trường sinh thái đó, có 5 nhóm nhân tố sinh thái phát sinh ảnh hưởng quyết định đến tô thành loài cây rừng, hình thái, cầu trúc và hình thành nên những kiểu thảm thực vật rừng tương ứng. Căn cứ vào cơ sở lí luận trên, Thái Văn Trừng đã phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật có trên đất lâm nghiệp. Trong mỗi kiểu thảm thực vật lại chia thành các kiểu phụ miền (phụ thuộc vào tổ thành thực vật), kiểu phụ thổ nhưỡng (phụ thuộc vào điều kiện đất), kiểu phụ nhân tác (phụ thuộc vào tác động của con người) và trong mỗi kiểu phụ đó tuỳ theo độ ưu thế của loài cây mà hình thành nên những phức hợp, ưu hợp và quần hợp tự nhiên khác nhau. Trần Ngũ Phương (1970) cũng từng đề xuất bảng phân loại rừng miền Bắc Việt Nam.

Theo đó, ông phân loại rừng miền Bắc thành 3 đai rừng: Đai rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh ngập mặn, Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa, Đai rừng á nhiệt đới mưa mua nui cao. Thang phan hang cua UNESCO (1973) thì phân loại thảm thực vật nước ta thành 4 lớp quần hệ, trong đó có 2 lớp quần hệ liên quan đến rừng và chia thành 6 phân lớp quần hệ. Lớp quần hệ rừng rậm bao gồm phân lớp: rừng thường xanh, rừng rụng lá nhiệt đới, rừng khô nhiệt đới; còn lớp quần hệ rừng thưa bao gồm phân lớp: rừng thưa thường xanh, rừng lá rộng rụng lá vùng núi và vùng đất thấp. Ở cấp độ nhỏ hơn, chia mỗi phân lớp quần hệ thành các nhóm quân hệ và sau cùng là các quân hệ.

Cũng dựa theo thang phân loại của UNESCO (1973), tác giả Phan Kế Lộc (1985) phân loại thảm thực vật ở Việt Nam thành 5 lớp quần hệ bao gồm rừng rậm, rừng thưa, trảng cây bụi, trảng cây bụi lùn, trảng cỏ. Ngoài những nghiên cứu về thảm thực vật nói chung của nước ta, nhiều tác giả đã có các công trình nghiên cứu cụ thể ở một số địa phương hoặc nghiên cứu thảm thực vật ở các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên trong cả nước tiêu biểu có thê kê đến Schmid (1974) với công trình nghiên cứu thảm thực vực ở khu vực Nam Trung Bộ hay Đặng Ngọc Quốc Hưng (2009) với công trình nghiên cứu sự thay đổi lớp phủ thực vật ở khu vực diện tích mở rộng của Vườn quốc gia Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vũ Anh Tài và cs (2007) đánh giá sự đa dạng của thảm thực vật theo tiêu chuẩn và thang phân loại của Thái Văn Trừng (1970) được Nguyễn Nghĩa Thìn chỉnh sửa (1997) để khái quát các kiêu thảm đặc trưng cho đai cao của vườn quốc gia. Phan Thanh Lâm (2016) phân loại thảm thực vật rừng quốc gia Yên Tử thành hai kiểu thảm thực vật chính là thảm thực vật ở vành đai nhiệt đới và thảm thực vật ở vành đai á nhiệt đới.

Phân loại thảm thực vật tại các địa phương theo cách tiếp cận của UNESCO (1973) có thể kế đến công trình nghiên cứu của Trần Văn Thụy và cộng sự (2006) với việc phân chia thảm thực vật tự nhiên ở lưu vực hồ chứa nước Phù Nình, tỉnh Quảng Nam thành 2 quần hệ và thảm thực vật nhân tác. Trần Văn Hoàn và cộng sự (2009) đã thống kê thảm thực vật khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang có đại điện của 4 lớp quần hệ. Nguyễn Nghĩa Thìn và cs (2011) đã thống kê được thảm thực vật ở khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, tỉnh Quảng Nam thuộc 4 kiểu quần hệ rừng rậm thường xanh mưa mùa và các biến dạng được chia thành các quan hệ khác nhau căn cứ vào vị trí địa hình, thành phần và cấu trúc thảm thực vật. Các nghiên cứu về thành phần loài Bên cạnh các nghiên cứu nhằm phân loại thảm thực vật, các tác giả còn đi sâu nghiên cứu và thống kê thành phần các loài.

Trong cuốn Thực vật chí đại cương Đông Dương của Pócs T. (1965) đã thống kê hệ thực vật phía Bắc Việt Nam có 5190 loài. Phan Kế Lộc với công trình “Bước đầu thống kê số loài đã biết ở miền Bắc Việt Nam” thống kê hệ thực vật Bắc Việt Nam có 5609 loài thuộc 1660 chỉ và 240 họ Dẫn theo Phạm Bình Quyền, 2002). Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) với cuốn “Cẩm nang nghiên cứ đa dạng sinh vật” thông kê tông cộng có 397 họ, 2.398 loài thực vật ở Việt Nam.

Nghiên cứu của Phạm Hoàng Hộ (1999-2003) với công trình “Cây cỏ Việt Nam” cho thay có tới 11.611 loài thực vật ở Việt Nam. Lê Trần Chan va cộng sự (1999) nghiên cứu một số đặc điểm của hệ thực vật Việt Nam ghi nhận được 10.298 chi, 2§5 họ của 6 ngành thực vật. Trong cuốn “Tên cây rừng Việt Nam” Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2000) thống kê được 4544 loài thực vật. Nhìn chung, trong giai đoạn 1993 — 2003, đã có 13 chị, 222 loài và 30 taxon dưới loài đó được phát hiện và mô tả mới cho khoa học (Nguyễn Huy Dũng, Vũ Văn Dũng (2007)).

Ngoài ra, Danh lục các loài thực vật Việt Nam tập I (2001) của Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường, tập II (2003), tập IH (2005) của tác giả Nguyễn Tiến Bân đã thong kê được 368 loài vi khuẩn lam, 2.176 loài tảo, 481 loài rêu, I loài quyết lá thong, 53 loài thông đất, 22 loài cờ tháp bút, 691 loài dương xỉ, 69 loài thực vật hạt trần và 13.000 loài thực vật hạt kín, đưa tổng số loài thực vật Việt Nam lên đến 20. Báo cáo quốc gia về Đa dạng sinh học năm 2011 của Bộ Tài nguyên thống kê từ các công bó về hệ thực vật Việt Nam ghi nhận được có 13.766 loài thực vật.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch. Tính đến năm 2015 Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố Việt Nam là nơi sống của gần 16.500 loài thực vật bậc cao, nắm lớn và rêu ở trên cạn, trong đó, sỐ lượng các loài thực vật đặc hữu chiếm một tỷ lệ lớn (khoảng 30%). Nghiên cứu về đa dạng thành phần loài trong các vườn quốc gia, khu bảo tồn và các khu vực, vùng miền cũng được nhiều tác giả thực hiện.

Nghiên cứu về động vật Về hợp phần động vật, nhiều tác giả nghiên cứu về thành phần các loài động vật ở Việt Nam. Theo Đặng Huy Huỳnh (1997), nước ta có khoảng 11.050 loài động vật bao gồm 275 loài và phân loài thú, 828 loài chim (nếu tính cả phân loài thì khu hệ chim nhiệt đới nước ta lên đến 1.040 loài và phân loài), 260 loài bò sát và 82 loài ếch nhái, khoảng 7.000 loài côn trùng và hàng nghìn loài động vật đất, đặc biệt có nhiều ở đất rừng v. Còn theo tư liệu của IUCN/CNPPA (1986) khu hệ động vật Việt Nam khá giàu về thành phần loài và có mức độ cao về tính đặc hữu so với các nước trong vùng phụ Đông Dương. Trong số 21 loài khỉ có trong vùng phụ này thì Việt Nam có 15 loài, trong đó có 7 loài và phân loài đặc hữu (Eudey 1987).

Theo MackiInon, trong vùng phụ có 49 loài chim đặc hữu thì Việt Nam đã có 33 loài trong đó có 10 loài đặc hữu của Việt Nam. Với hơn 100 loài va phân loài chìm, 78 loài và phân loài thú, nhiều loài có giá trị lớn trong việc bảo tồn như Voi Châu Á, Bò rừng, Bò xám, Trâu rừng, Hồ, Báo, Hươu sao, vích, đôi môi, rùa biên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ