LỜI MỞ ĐẦU Trên thế giới, caffeine được sử dụng giống như một chất kích thích than kinh trung ương, có tác dụng gây hưng phấn và kéo dài thời gian tỉnh táo. Cho đến nay cà phê vẫn là thức uống được tiêu thụ rộng rãi nhất trên thế giới và caffeine được hấp thu vào người dưới dạng thức uống như trà, cà phê, nước uống có gas và nước tăng lực hay các loại dược phẩm. Người ta ước lượng rang cà phê chứa hơn chất hoá học, dù con số chính xác vẫn chưa được xác định. Nó tùy thuộc vào chủng loại và sự đa dạng của giống loài và cách chúng được trồng.
thu hái và chế biến.Trong đó chất thu hút nhiều sự quan tâm nhất là caffeine trong cà phê và hương thơm của cà phê. Các ảnh hưởng về tâm sinh | của caffeine đã và đang được nghiên cứu rộng rãi. Có hai loại hạt cà phê cơ bản là Arabica và Robusta. Arabica là loại hạt có chất lượng cao hơn thường được sử dụng cho những người sảnh cà phê.
Robusta có chất lượng thấp hơn và thường được dùng để đóng gói sẵn, chế biến cà phê hòa tan hoặc chế biến cà phê bột. Hạt Robusta có hàm lượng caffeine cao hơn hạt Arabica. Tuy nhiên, không phải là loại cà phê Arabica hay Robusta quyết định đến hàm lượng caffeine có trong tách cà phê mà là sự đa dạng của các loại hạt, của nơi trồng, các cách rang xay, bí quyết pha chế.thậm chí đến cả tên thương hiệu của nhà sản xuất đều có ảnh hưởng đến hàm lượng caffeine có trong tách ca phê. Tuy nhiên, để tăng lợi nhuận và giảm giá thành, một số nơi chế biến cà phê đã có những hành vi lừa gạt, gian dối người tiêu dùng.
Người ta đã độn thêm bắp hoặc đậu nành rang cháy đen vào. Và khi đó nhà sản xuất phải dùng thêm các chất phụ gia, phẩm màu như caramel, chất tạo vị đăng, chất tạo ngọt, chất tạo bọt, tinh cà phê. dé bổ sung lại hương vi của cà phê. XIV Luận văn cao học HV: Nguyễn Phương Quyên Bên cạnh caffeine, van đề về hương thơm của cà phê và những tim hiểu khoa học về các hợp chất tạo nên mùi thơm đặc trưng rất riêng của cà phê đã và đang được nghiên cứu nhiều.
Mỗi năm, các công trình nghiên cứu đã bố sung thêm những chất mới vào danh sách hợp hương cà phê. Chúng tôi tiễn hành nghiên cứu định danh một số hợp chất trong hương một số cà phê ở Việt Nam. Xuất phát từ van dé chất lượng cà phê, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Phân tích hàm lượng caffeine trong các loại cà phê trên thị trường bằng phương pháp sắc kí long hiệu năng cao (HPLC)” nhằm nghiên cứu góp phan vào việc đánh giá chất lượng cà phê hiện nay. Trong để tài này kỹ thuật sắc kí lỏng hiệu năng cao (HPLC) và GC- MS được áp dụng.
Đây là hai kỹ thuật được áp dụng pho biến hiện nay trong các phòng phân tích với hiệu quả tách cao,d6 chính xác cao cũng như có thé tự động hóa được trong trường hợp phân tích hàng loạt. XV Luận văn cao học HV: Nguyễn Phương Quyên CH ƠNG 1 TONG QUAN 1.1 Tổng quan về cà phê[1, 2, 17, 29] 1.1 Phân loại và đặc điểm một số giống cà phê 1.1 Cà phê chè - Tên khoa hoc: Coffea Arabica L. Đây là cà phê duoc trông lâu đời nhất, có gía trị kinh tế và tiêu thụ nhiều nhất trên thế giới vì thơm ngon dịu (chiếm 70% sản lượng cà phê trên thế giới). Trên thị trường cà phê chè được đánh giá cao hơn cà phê vối (Coffea Canephora Chev.
hay Coffea Robusta Chev.) vì có hương vi thơm ngon và chứa it hàm lượng caffeine hon. - Cây có tán lớn màu xanh đậm, lá hình bầu dục chiều dài 12 cm, rộng 5 cm. Cây trưởng thành có thé cao từ 4 - 6 m, nếu dé mọc hoang dã có thé cao tới 15m. Hoa màu trắng, nhị vàng, hoa thường nở về đêm và nở hết vào 4 - 5 giờ sáng, cây cà phê chè có khả năng tự thụ phan cao khoang 90%.
Qua hinh oval, mỗi quả chứa hai hạt cà phê. Được trồng chủ yếu ở các nước có khí hậu nhiệt đới. Tuy nhiên điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của cây cà phê chè là những vùng đất cao từ 1375-1830 m và khô ráo. Cà phê chè sau khi trồng khoảng 3 đến 4 năm thì có thể bắt đầu cho thu hoạch cho đến 25 năm thì dừng lại.
1 Luận văn cao học HV: Nguyễn Phương Quyên 1.2 Cà phê voi - lên khoa hoc: Coffea Canephora Chev. hoặc Coffea Robusta Chev. - Là dang cây gỗ hoặc cây bụi, thông thường Robusta cao từ 5 — 7 m, chiéu cao của cây trưởng thành có thé lên tới 10 m. Vỏ quả cứng và dai hơn cà phê Ababica - Hạt nhỏ hon hat cà phê Arabica.
Hàm lượng caffeine trong hạt cà phê Robusta khoảng 2-4%, trong khi ở cà phê Arabica chỉ khoảng 1-2%. - Là cây quan trọng thứ hai trong các loài cà phê. Khoảng 39% các sản phẩm cà phê được sản xuât từ loại cà phê này. -Nước xuất khẩu cà phê vối lớn nhất thế giới là Việt Nam.
Luận văn cao học HV: Nguyễn Phương Quyên 1.3 Cà phê mít -Tén khoa học: Coffea Excelsa Chev. (Chari) hoặc Coffea Liberica Chev. Hàm lượng cafeine trong hat khoảng | ,02-1,15%. Ca phê mit it thom, có vị chua chat lượng nước uông it được ưa chuộng.
Hiện nay, hai loài cà phê được trồng nhiều nhất trên thế giới là cà phê Arabica và cà phê Robusta. Trong đó ca phê Arabica chiếm 70% tổng sản lượng cà phê trên thé giới, còn cà phê Robusta chiếm khoảng 30%. Các cà phê khác chiếm tỉ lệ không đáng kế. Trong hai loại cà phê phố biến nói trên, ca phê Arabica thường được đánh giá tốt hơn về các tính chất hương vị, và thường được sản xuất cà phê rang xay.
Cà phê Robusta thì thường được sử dụng để sản xuất cà phê hòa tan. Nước sản xuất cà phê Arabica nhiều nhất thé giới là Brazil, còn nước sản xuất cà phê Robusta nhiều nhất thé giới là Việt Nam. Gần như toàn bộ lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đều là Robusta.2 Thanh phan hóa hoc trong hat cà phê. Luận văn cao học HV: Nguyễn Phương Quyên Cà phê là một thức uống kích thích thần kinh, uống cà phê hoạt động trí óc minh mẫn hơn và thông qua sự kích thích thần kinh, tăng cường hoạt năng của những bộ máy khác trong cơ thé: trợ tim, xúc tiễn sự tuần hoàn của máu, thông tiểu, phan ứng của bắp thịt nhạy, khỏe hơn.
Tác dụng sinh lý ở trên chủ yếu là do tác dụng của caffeine, một thành phần quan trọng không thể thiếu trong cà phê. Trong nước cà phê có một lượng đáng kê các vitamine nhóm B, nhất là vitamin PP, do chất Trigonelline trong cà phê nhân chuyển hóa trong quá trình rang. Dé giải thích nguyên nhân nghiện cà phê phô biến trong gan một nửa dân số thé giới, các nhà khoa hoc Thụy Sĩ đã tiễn hành phân tích hạt cà phê, cho thay trong hạt cà phê có 670 hợp chất tạo mùi hương tong hợp tuyệt vời (chè có 404, cacao có 385). Hạt cà phê xanh giàu glucid và lipid, glucid chiếm hơn 50% phân lớn là các polysaccharide.
Thành phần hóa học của cà phê nhân phụ thuộc vào chủng loại, độ chín điều kiện canh tác, phương pháp chế biến và bảo quản. Thành phần hóa học trong cà phê có ảnh hưởng rat tốt trong quá trình đánh giá chất lượng thử ném cảm quan. Nước: Trong nhân cà phê đã sây khô còn khoảng 10-12% nước ở dạng liên kết. Sau khi rang, hàm lượng nước trong cà phê còn khoảng 2,7%.
Hàm lượng nước trong cà phê ảnh hưởng trực tiếp đến chat lượng cà phê. Nếu độ am cao, vi sinh vật dé phát triển và hương cà phê dễ bị tốn that. Chất khoáng: Hàm lượng chất khoáng trong cà phê khoảng 3-5%, chủ yếu là Kali, Magie, Phospho, Clo ngoài ra còn có nhôm, sắt, đồng, iot, lưu huỳnh. Những chất này ảnh hưởng không tốt đến mùi cà phê rang.
Cà phê có lượng khoáng càng thấp thì càng tốt. Glucide: chiếm khoảng 50% tong lượng chất khô trong cà phê. Các chất này không tham gia vào thành phan nước uống mà có tác dụng tạo màu sắc và vị caramel cho cà phê. Proteine: Hàm lượng protein trong ca phê không cao nhưng có vai tro quan trọng trong việc hình thành hượng vị cho sản phẩm.
Trong đó, các acid amine chứa lưu 4 Luận văn cao học HV: Nguyễn Phương Quyên huỳnh như cyctine, methionine là quan trọng nhất, chúng tạo nên hương thơm mạnh cho cả phê rang. Đặc biệt, methionine và proline có tác dụng làm giảm tốc độ oxy hóa các chất thơm, giúp giữ được mùi thơm của cà phê trong quá trình bảo quản. Lipid: hàm lượng lipid trong cà phê lớn (10-13%) gồm có dau và sáp. Trong quá trình chế biến, một phan acid béo tham gia phản ứng dưới tác dụng của nhiệt độ cao tạo nên hương thơm cho sản phẩm.
Lượng lipid còn lại không bị biến đổi chính là dung môi tốt để hòa tan các chất thơm. Các ankaloid: Trong cà phê có các ankaloid như caffeine, trigonelline, betaine, coline. Trong đó, quan trọng nhất là caffeine và trigonellin. + Caffeine: Hàm lượng khoảng 1-3% phụ thuộc vào chung loại, điều kiện khí hậu, điêu kiện canh tác.
+ Trigonelline: là ankaloid không có hoạt tính sinh lý, ít tan trong ethanol, không tan trong chloroform và ether, tan nhiều trong nước nóng. Tính chất quý của trigonelline là dưới tac dụng của nhiệt độ cao, nó bi nhiệt phân tạo thành acid nicotinic (tiền vitamin PP). Hiện nay, người ta đã tìm ra có tới 70 chất thơm hỗn hop lại thành mùi thom của cà phê. Ngoài ra, trong nhân cà phê còn có một lượng đáng ké vitamin.
Trong cà phê chủ yếu là vitamin nhóm B như BI, B2, Bó, B12 và các loại acid hữu cơ là tiền các loại vitamin. Trong những hợp chất hiện diện trong thành phần hóa học của cà phê, chỉ có caffeine là bên nhiệt, nó không bị phá hủy bởi quá trình rang cà phê. Những hợp chất khác như protein, sugar, chlorogenic acid, trigonelline và chất béo có thé bị phá hủy và tham gia vào các phản ứng diễn ra trong quá trình rang cà phê, hình thành hương cả phê. Luan văn cao hoc HV: Nguyễn Phương Quyên Bang 1.1 Thành phân hóa hoc của hat cà phê [29] Component Arabica Robusta Constituents Solube carbohydrates 9-125 6-11,5 Fructose, glucose, galactose, Monosaccharides 0.