ĐẶT VẤN ĐỀ Lạm dụng nhóm ma túy dạng Amphetamin (ATS) liên tục gia tăng tại nhiều quốc gia trên thế giới và đã trở thành vấn đề toàn cầu trong những năm gần đây. Theo báo cáo “World Drug Report 2022” của Văn phòng Liên Hiệp Quốc về chống Ma túy và Tội phạm (UNODC), từ năm 2010 - 2020, số lượng ATS bị thu giữ tăng lên 15% mỗi năm, tính đến năm 2020 là 525 tấn ATS. Trong đó, 72% ATS bị thu giữ là Methamphetamin (MET), 17% là Amphetamin. Đồng thời, gần 16000 địa điểm và các cơ sở liên quan đến sản xuất ATS đã bị dỡ bỏ trên 45 quốc gia với hơn 94% liên quan đến sản xuất MET [43].
Đông Nam Á, đặc biệt là tiểu vùng hạ lưu sông Mê Kông, chiếm gần 89% tổng số vụ bắt giữ vào năm 2021 [42]. Ở Việt Nam, theo báo cáo của bộ Công An, trong năm 2021 và 5 tháng đầu năm 2022, gia tăng 89% các vụ bắt giữ liên quan đến MET [4]. Tình hình trên cho thấy tính cấp thiết của việc phát hiện sớm và ngăn chặn sản xuất bất hợp pháp ma túy cùng với kiểm soát sử dụng, buôn bán trái phép chúng, đặc biệt là MET. Cần thiết phải có các nghiên cứu để giám sát việc sản xuất ma túy theo hướng nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm để phát hiện sớm các cơ sở sản xuất ma túy, trước khi chúng được đưa ra tiêu thụ trên thị trường.
Quá trình sản xuất MET cần có các nguyên liệu ban đầu như tiền chất, dung môi, chất độn. Việc phát hiện các tiền chất lưu lại trong nước thải đóng vai trò quan trọng, giúp khoanh vùng và triệt phá các cơ sở sản xuất ma túy bất hợp pháp. Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về định lượng tiền chất của MET trong nước thải bằng sắc ký lỏng khối phổ hai lần (LC-MS/MS) [18], [34]. hoặc sắc ký khí khối phổ (GC-MS) [19], [28].
Tại Việt Nam, nghiên cứu về vấn đề này còn đang rất hạn chế. Mặt khác, nước thải có nhiều thành phần và nồng độ chất phân tích nhỏ, nồng độ thay đổi liên tục tại các thời điểm lấy mẫu gây ra những thách thức cho quá trình phân tích. Do đó, kỹ thuật chiết pha rắn (SPE) với khả năng làm giàu mẫu tốt, hiệu suất chiết cao, ổn định và phân tích bằng LC-MS/MS cho độ nhạy, độ chọn lọc cao là lựa chọn tối ưu. Xuất phát từ những vấn đề trên, đề tài “Xây dựng phương pháp phân tích một số tiền chất Methamphetamin trong nước thải bằng LC-MS/MS” được thực hiện với mục tiêu như sau: Xây dựng và thẩm định được phương pháp định lượng một số tiền chất sử dụng trong sản xuất Methamphetamin trong nước thải bằng kỹ thuật chiết pha rắn (SPE) và sắc ký lỏng khối phổ hai lần (LC-MS/MS).
Định nghĩa về chất gây nghiện Theo Luật phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14 của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 30/03/2021, định nghĩa chất ma túy là các chất gây nghiện, hướng thần được quy định trong danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành. Trong đó, chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng [15]. Ma túy tổng hợp là các loại ma túy do con người tổng hợp nên từ các hóa chất khác nhau, không phải thành phần từ thiên nhiên [10]. Điển hình của nhóm này là các chất kích thích dạng Amphetamine (Amphetamine Type Stimulants - ATS).
ATS là tên gọi chung của một nhóm chất kích thích có cấu trúc hóa học dạng Amphetamine; bao gồm Amphetamine (AM), Methamphetamin (MET), 3,4- methylenedioxy Methamphetamin (MDMA). Chúng có thể được hít, hút, tiêm hoặc sử dụng qua đường trực tràng và có tác dụng kích thần tạo cảm giác hưng phấn, khoái cảm, chống mệt mỏi… khi sử dụng liều cao kéo dài có thể gây hoang tưởng, ảo giác [7]. MET được xếp vào danh mục II (chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền) theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP của Chính phủ về danh mục các chất ma túy và tiền chất [10]. Đây là loại thuốc gây nghiện cao với đặc tính kích thích hệ thần kinh trung ương mạnh.
UNODC báo cáo MET là loại thuốc bị lạm dụng nhiều nhất trên toàn thế giới [37]. Tình hình sử dụng và sản xuất Methamphetamin 1. Sử dụng và sản xuất Methamphetamin trên thế giới Mô hình sử dụng ma túy bất hợp pháp đã thay đổi đáng kể trong những năm gần đây. Sự xuất hiện của các chất nhóm ATS ở nhiều quốc gia đang lấn át các loại ma túy khác như heroin, thuốc phiện và cần sa.
Theo báo cáo “World Drug Report 2022” của UNODC, việc buôn bán ATS tiếp tục mở rộng về mặt địa lý, với 117 quốc gia báo cáo các vụ bắt giữ ATS trong năm 2016‒2020 so với 84 trong năm 2006‒2010. Đồng thời, số lượng ATS bị thu giữ (525 tấn) đã tăng gấp 5 lần từ năm 2010 đến 2020. Trong đó, 72% ATS bị thu giữ là MET, 17% là Amphetamin và 4% là thuốc lắc, phần còn lại là ATS khác [43]. Việc sản xuất bất hợp pháp ATS ngày càng gia tăng.000 địa điểm và các cơ sở liên quan đến sản xuất ATS đã bị dỡ bỏ trên 45 quốc gia.
Hơn 94% liên quan đến 2 sản xuất MET, với 69% là các địa điểm bị tháo dỡ tham gia vào quá trình sản xuất MET, 19% là bãi đổ chất thải, 11% là nhà kho dùng để chứa hóa chất [43]. Khu vực Đông và Đông Nam Á, đang được xem là nơi sản xuất và cung ứng lượng MET bất hợp pháp lớn nhất thế giới. Đông Nam Á, đặc biệt là tiểu vùng hạ lưu sông Mê Kông (bao gồm Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam), tiếp tục chiếm tỷ lệ ngày càng tăng các vụ bắt giữ MET trong khu vực, chiếm gần 89% tổng số vụ bắt giữ được báo cáo vào năm 2021. Theo ước tính của UNODC, đã có trên 152 tấn MET dạng tinh thể được sản xuất tại khu vực này [40], [42].
Sử dụng và sản xuất Methamphetamin tại Việt Nam Ma túy tổng hợp nhóm ATS xuất hiện tại Việt Nam vào những đầu những năm 2000, tại các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, v. Đó là những viên màu hồng (MET dạng viên nén) được gọi là Hồng phiến. Tới thời điểm hiện nay, ATS đã xuất hiện đa dạng hơn, gồm MET dạng tinh thể (ma túy đá), MET dạng bột, hồng phiến, thuốc lắc dạng viên và Ecstacy dạng dung dịch [3]. Nằm gần Tam giác vàng của Lào, Myanmar và Thái Lan nên sản xuất và sử dụng ma túy đã xuất hiện rất sớm tại Việt Nam.
Việc lạm dụng ATS hiện đang phổ biến trên khắp 63 tỉnh thành của nước ta. Vào cuối năm 2020, ước tính có 190.000 người sử dụng ATS, chiếm 80% số trường hợp sử dụng ma túy bất hợp pháp được ghi nhận chính thức, tăng gấp sáu lần kể từ năm 2017 [40], [41]. Hoạt động sản xuất ATS trái phép ở nước ta đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Từ năm 2010 đến 2014, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy đã phát hiện và triệt phá trên 20 điểm sản xuất trái phép MET dạng tinh thể.
Nguyên liệu sản xuất chủ yếu dựa vào nguồn Ephedrin (EPD), Pseudoephedrin (PEPD) có trong một số loại tân dược [3]. Cuối năm 2016, ngay tại Hà Nội phát hiện một vụ sản xuất MET dạng tinh thể, thu giữ hơn 10 kg sản phẩm. Tháng 08/2019, Bộ Công an đã đồng loạt khám xét nhà xưởng của Công ty Xuất Nhập khẩu Đồng An Viên (Kon Tum), thu giữ khoảng 140 lít dung dịch dạng sệt chứa MET. Trên 13 tấn hóa chất, tiền chất, 20 tấn máy móc, thiết bị, dụng cụ được lắp đặt thành dây chuyền (hệ thống bình phản ứng, máy gia nhiệt, máy li tâm, máy sấy khô…) được phát hiện.
Tại 2 kho hàng khác ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, công an thu giữ gần 200 thùng phuy chứa hóa chất, 400 bao hóa chất cùng nhiều tang vật có liên quan để sản xuất ma túy [5]. Năm 2020, mặc dù số liệu thống kê cho thấy lượng ma túy bị bắt giữ thấp hơn so với năm 2019, nhưng 6 tháng đầu năm số vụ bắt giữ liên quan đến ma túy đã tăng gần 10%. Việc sử dụng các chất ma túy tổng hợp như MET dạng tinh thể và Ketamin tăng 3 nhanh, số người sử dụng ma túy gia tăng trở lại, với tỷ lệ nghiện ở trẻ em từ 12-18 tuổi ngày càng tăng [44]. Như vậy, liên tiếp trong thời gian qua, MET không chỉ được buôn bán mà còn được sản xuất trái phép với số lượng lớn tại Việt Nam.
Do đó, đánh giá số lượng MET được sản xuất hàng năm là việc làm cần thiết song không đơn giản. Công việc này hiện gặp nhiều khó khăn do quá trình sản xuất được thực hiện bí mật. Việc ước tính thường gián tiếp dựa vào số lượng tiền chất, chất độn, dung môi, chất vô cơ có trong quá trình sản xuất hoặc lượng ma túy thu được. Tổng quan về đối tượng nghiên cứu Theo Luật Phòng chống ma túy: “Tiền chất là hóa chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma túy được quy định trong danh mục tiền chất do Chính phủ ban hành” [9].
Dựa vào vai trò trong quá trình sản xuất ma túy, nguyên liệu được chia thành các nhóm như tiền chất, hoá chất, dung môi, chất xúc tác. Các chất này xuất hiện trong nước thải ở dạng nguyên thể (các dung môi, hầu hết các chất hữu cơ); dạng phân hủy hay dạng phân ly. Chính vì vậy, việc phân tích các nhóm dung môi; chất vô cơ; tiền chất; chất ma túy và chất độn trong nước thải giúp truy nguyên nguồn gốc cơ sở sản xuất ma túy. Nghiên cứu này tập trung vào nghiên cứu nhóm tiền chất của MET.
Các phương pháp tổng hợp Methamphetamin Cho đến nay, các phương pháp tổng hợp MET được sử dụng rộng rãi nhất trong các phòng thí nghiệm bí mật vẫn đang sử dụng Ephedrin/Pseudoephedrin (EPD/PEPD) hoặc 1-phenyl-2-propanon (P2P) làm nguyên liệu ban đầu [22], [35], [45]. Đi từ Ephedrin hoặc Pseudoephedrin Dưới đây là 6 quy trình phổ biến nhất để sản xuất MET từ EPD/PEPD [37], [45]: Hình 1. Quy trình tổng hợp MET từ EPD/PEPD 4 Quy trình Nagai liên quan đến phospho đỏ và acid hydroiodic (HI). Nhóm hydroxyl trong nguyên liệu ban đầu trải qua quá trình thay thế ái nhân bằng iodua để tạo thành Iodoephedrin/ Iodopseudoephedrin.
Sau đó Phospho đỏ sẽ loại Iod để tạo thành Phospho triiodid, từ đó tạo MET [29], [21]. Moscow và Hypo tương tự như quy trình Nagai. Moscow liên quan đến Phospho đỏ và Iod [33].