Tổng quan nghiên cứu

Tăng huyết áp là một trong những thách thức y tế cộng đồng nghiêm trọng nhất của thế kỷ 21, hiện tác động đến gần 1 tỷ người trên toàn cầu và dự kiến sẽ tăng lên mức 1,5 tỷ người vào năm 2025. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, căn bệnh này là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới gần 8 triệu ca tử vong mỗi năm do các biến chứng tim mạch nguy hiểm như đột quỵ, nhồi máu cơ tim và suy tim. Tại Việt Nam, khảo sát dịch tễ học cho thấy khoảng 47,3% đến 48% người trưởng thành mắc tăng huyết áp, nhưng có tới 69% trong số đó chưa kiểm soát được huyết áp về mức an toàn. Tại tỉnh Lạng Sơn, một địa bàn miền núi biên giới với hơn 700.000 dân, số lượng người bệnh được ghi nhận mắc tăng huyết áp năm 2019 đã vượt mốc 40.000 người, tạo nên áp lực điều trị rất lớn cho hệ thống khám chữa bệnh ngoại trú.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết hai vấn đề cốt lõi: phân tích mô hình sử dụng thuốc hạ áp thực tế và đánh giá hiệu quả kiểm soát huyết áp trên bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2020 đến ngày 30/06/2020. Mục tiêu cụ thể là lượng hóa cơ cấu các nhóm thuốc, đánh giá tính hợp lý của các phác đồ đơn trị liệu và phối hợp, đồng thời xác định tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu sau 6 tháng theo dõi liên tục. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp bằng chứng lâm sàng trực tiếp từ bệnh viện tuyến tỉnh hạng I, giúp tối ưu hóa danh mục thuốc, nâng cao hiệu quả cá thể hóa điều trị và hỗ trợ đắc lực cho công tác dược lâm sàng tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng Khuyến cáo chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp năm 2018 của Hội Tim mạch học Việt Nam phối hợp cùng Phân hội Tăng huyết áp Việt Nam, đồng thời đối chiếu với các hướng dẫn quốc tế từ Hội Tim mạch Châu Âu. Khung lý thuyết tập trung vào việc chuẩn hóa định nghĩa tăng huyết áp khi trị số huyết áp phòng khám có huyết áp tâm thu từ 140 mmHg trở lên hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mmHg trở lên. Trọng tâm của lý thuyết điều trị hiện đại là phân tầng nguy cơ tim mạch tổng thể dựa trên tổn thương cơ quan đích và các bệnh lý đồng mắc, từ đó xác định huyết áp mục tiêu cần đạt là dưới 140/90 mmHg cho đa số người bệnh và hướng tới đích dưới 130/80 mmHg nếu dung nạp tốt.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các nguyên lý Dược lâm sàng về chỉ định bắt buộc trong lựa chọn thuốc cho nhóm đối tượng đặc biệt như đái tháo đường, suy tim, bệnh mạch vành hoặc bệnh thận mạn. Năm nhóm thuốc hạ áp chính được đánh giá toàn diện gồm: thuốc chẹn kênh calci, thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin, thuốc lợi tiểu và thuốc chẹn beta giao cảm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc hồi cứu trên đối tượng bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú có sổ theo dõi định kỳ tại phòng khám ngoại trú thuộc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 281 bệnh nhân thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn khắt khe: từ 18 tuổi trở lên, bắt đầu điều trị từ tháng 01/2020 và duy trì tái khám ít nhất 4 lần trong suốt 6 tháng theo dõi liên tục; tiêu chuẩn loại trừ áp dụng cho phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện không xác suất được sử dụng nhằm thu thập toàn bộ các trường hợp hợp lệ trong thực tế khám chữa bệnh, giúp phản ánh chân thực nhất bức tranh kê đơn ngoại trú.

Nguồn dữ liệu được trích xuất đồng bộ từ phần mềm quản lý thông tin bệnh viện kết hợp hồ sơ bệnh án giấy tại 6 mốc thời gian từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2020, tương ứng tổng số 1.631 đơn thuốc. Các biến số nghiên cứu bao gồm đặc điểm nhân khẩu học, bệnh mắc kèm, các xét nghiệm sinh hóa cơ bản và chi tiết từng hoạt chất, hàm lượng, phác đồ điều trị. Dữ liệu được quản lý và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS phiên bản 22.0. Các biến định tính được trình bày dưới dạng tần số và tỷ lệ phần trăm, các biến định lượng được biểu diễn qua giá trị trung bình kèm độ lệch chuẩn, với ngưỡng ý nghĩa thống kê được xác lập tại mức p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 281 bệnh nhân tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nữ chiếm 54,4% (153 người), cao hơn so với bệnh nhân nam chiếm 45,6% (128 người). Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 60,91 ± 9,66 tuổi, trong đó nhóm người cao tuổi từ 65 tuổi trở lên chiếm tỷ trọng áp đảo với 74,7% (210 người), còn nhóm từ 18 đến 64 tuổi chỉ chiếm 25,3% (71 người). Tỷ lệ bệnh nhân duy trì tái khám định kỳ qua các tháng rất ổn định, đạt từ 95,0% đến 97,5%, trong đó có 231 bệnh nhân tái khám đủ cả 6 tháng. Về bệnh mắc kèm, rối loạn lipid máu là yếu tố nguy cơ phổ biến nhất với tỷ lệ 23,8% (67 người), tiếp theo là suy tim chiếm 1,8% (5 người) và đái tháo đường chiếm 1,1% (3 người).

Cơ cấu sử dụng các nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp (N = 1.631 đơn thuốc):

Phân tích 1.631 đơn thuốc điều trị ghi nhận có 21 chế phẩm thuốc thuộc 6 nhóm dược lý khác nhau, bao gồm 13 dạng đơn chất và 8 dạng viên phối hợp cố định liều. Nhóm thuốc chẹn thụ thể angiotensin được chỉ định nhiều nhất với tỷ lệ 48,6%, bám sát phía sau là nhóm thuốc lợi tiểu đạt 47,3%. Nhóm ức chế men chuyển và chẹn kênh calci lần lượt chiếm 35,6% và 32,1%, trong khi nhóm chẹn beta giao cảm chỉ chiếm 5,1%. Xét về chiến lược điều trị, phác đồ phối hợp 2 thuốc chiếm ưu thế vượt trội trong suốt 6 tháng với tỷ lệ dao động từ 52,0% đến 56,0%, phác đồ đơn trị liệu chiếm từ 29,0% đến 37,0%, phối hợp 3 thuốc chiếm từ 10,0% đến 19,0%, và phối hợp 4 thuốc chỉ xuất hiện ở mức 0,4% đến 0,7%.

Tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu qua 6 tháng theo dõi:
T1 (Tháng 1): [47,3%] =====================>
T2 (Tháng 2): [46,5%] ====================>
T3 (Tháng 3): [46,8%] ====================>
T4 (Tháng 4): [45,0%] ===================>
T5 (Tháng 5): [45,3%] ===================>
T6 (Tháng 6): [44,0%] ==================>

Về hiệu quả hạ áp, trị số huyết áp tâm thu trung bình toàn mẫu dao động từ 142,13 mmHg đến 144,47 mmHg, và huyết áp tâm trương trung bình dao động từ 91,76 mmHg đến 92,50 mmHg qua 6 tháng; sự khác biệt giữa các thời điểm không có ý nghĩa thống kê với p = 0,65. Tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu tại thời điểm bắt đầu là 47,3%, sau đó có xu hướng giảm nhẹ và đạt 44,0% ở tháng thứ 6. Trong nhóm 231 bệnh nhân tái khám liên tục, có 33,3% bệnh nhân duy trì phác đồ không đổi, 24,3% đổi thuốc 1 lần và 17,8% đổi thuốc 2 lần. Đáng chú ý, ở nhóm chưa đạt mục tiêu, có khoảng 44,0% đến 57,0% bệnh nhân được tăng liều hoặc phối hợp thêm thuốc, tuy nhiên vẫn còn từ 1,9% đến 7,7% trường hợp bị giảm thuốc hoặc hạ liều một cách chưa hợp lý.

Thảo luận kết quả

Cơ cấu bệnh nhân với gần 75% trên 65 tuổi hoàn toàn phù hợp với quy luật sinh lý bệnh tim mạch, khi tình trạng xơ cứng mạch máu gia tăng theo tuổi thọ. Tỷ lệ nữ giới mắc bệnh cao hơn nam giới (54,4% so với 45,6%) cũng tương đồng với nhiều công bố y học trong nước tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh. Sự thống trị của nhóm thuốc chẹn thụ thể angiotensin (48,6%) và lợi tiểu (47,3%) phản ánh xu hướng điều trị cập nhật, ưu tiên khả năng dung nạp tốt, ít gây tác dụng phụ ho khan so với nhóm ức chế men chuyển, đồng thời kiểm soát thể tích tuần hoàn tối ưu ở người cao tuổi.

Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu dừng lại ở mức 44,0% đến 47,3% là một con số phản ánh đúng thực trạng khó khăn trong quản lý ngoại trú tại các địa phương miền núi. Kết quả này thấp hơn mức 71,48% ghi nhận trong một số chương trình quản lý điểm tại các thành phố lớn, nguyên nhân xuất phát từ việc phần lớn người bệnh tuổi cao có nhiều yếu tố nguy cơ xơ vữa đi kèm nhưng tỷ lệ sử dụng phác đồ phối hợp 3 thuốc còn rất khiêm tốn (dưới 19%).

Các dữ liệu lâm sàng trong nghiên cứu này rất thích hợp để mô tả qua biểu đồ thanh ngang xếp chồng thể hiện dịch chuyển cơ cấu phác đồ qua 6 mốc thời gian, kết hợp cùng đồ thị đường biểu diễn biến thiên trị số huyết áp tâm thu nhằm làm rõ mối tương quan giữa quyết định thay đổi thuốc của thầy thuốc và đáp ứng hạ áp thực tế của người bệnh.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Tăng cường ứng dụng viên phối hợp liều cố định: Bác sĩ điều trị tại Khoa Khám bệnh cần ưu tiên khởi đầu hoặc chuyển đổi sang các dạng thuốc phối hợp 2 đến 3 hoạt chất trong một viên nén, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu lên trên 65% trong vòng 12 tháng tới.
  • Thành lập tổ Dược lâm sàng tư vấn ngoại trú: Khoa Dược Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn cần phân công dược sĩ lâm sàng trực tiếp giám sát đơn thuốc ngoại trú, rà soát 100% các ca bệnh có chỉ định bắt buộc như đái tháo đường và suy tim, cam kết giảm tỷ lệ kê đơn chưa phù hợp xuống dưới 5% trong vòng 6 tháng.
  • Chuẩn hóa quy trình điều chỉnh phác đồ theo hướng dẫn quốc gia: Hội đồng Thuốc và Điều trị bệnh viện cần ban hành phác đồ điều trị nội bộ cập nhật theo hướng dẫn năm 2018, tổ chức tập huấn chuyên môn định kỳ 3 tháng một lần cho toàn bộ đội ngũ y bác sĩ nhằm khắc phục triệt để tình trạng giảm thuốc không hợp lý khi bệnh nhân chưa kiểm soát được huyết áp.
  • Triển khai giải pháp số hóa nhắc lịch tái khám và tuân thủ thuốc: Phòng Công nghệ thông tin phối hợp phòng khám thiết lập hệ thống tin nhắn tự động nhắc lịch khám định kỳ và hướng dẫn lối sống lành mạnh, hướng đến mục tiêu duy trì tỷ lệ tái khám đúng hẹn trên 98% và giảm thiểu nguy cơ gián đoạn điều trị của người bệnh vùng cao.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Bác sĩ chuyên khoa Tim mạch và Nội tổng quát: Cung cấp cơ sở thực chứng về hiệu quả của các phác đồ hạ áp trên nhóm bệnh nhân cao tuổi ngoại trú, hỗ trợ ra quyết định lâm sàng và điều chỉnh liều chính xác.
  • Dược sĩ lâm sàng và Cán bộ quản lý Dược bệnh viện: Tài liệu tham khảo giá trị để đánh giá mô hình tiêu thụ thuốc thực tế, xây dựng danh mục thuốc đấu thầu hợp lý và triển khai hoạt động bình bệnh án ngoại trú hiệu quả.
  • Lãnh đạo bệnh viện và Nhà quản lý Y tế tuyến tỉnh: Nguồn dữ liệu khoa học tin cậy giúp đánh giá chất lượng chương trình quản lý bệnh mạn tính không lây nhiễm, từ đó hoạch định chính sách phân bổ nguồn lực y tế phù hợp với đặc thù địa phương.
  • Học viên sau đại học và Sinh viên ngành Y Dược: Cung cấp phương pháp luận chuẩn mực về thiết kế nghiên cứu theo dõi dọc trong Dược lý - Dược lâm sàng, từ kỹ thuật thu thập số liệu đến các bước phân tích thống kê chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

1. Nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp nào được kê đơn nhiều nhất tại bệnh viện?
Nhóm thuốc chẹn thụ thể angiotensin được chỉ định nhiều nhất với tỷ lệ 48,6% trên tổng số 1.631 đơn thuốc, tiếp theo là nhóm thuốc lợi tiểu với tỷ lệ 47,3%. Sự lựa chọn này phù hợp với cơ cấu bệnh nhân chủ yếu là người cao tuổi cần kiểm soát huyết áp êm dịu và giảm thiểu tối đa tác dụng phụ gây ho khan.

2. Tỷ lệ kiểm soát huyết áp đạt mục tiêu của bệnh nhân sau 6 tháng thay đổi như thế nào?
Tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu tại thời điểm bắt đầu theo dõi là 47,3%, sau đó giảm nhẹ qua các tháng và đạt 44,0% ở tháng thứ 6. Trị số huyết áp tâm thu trung bình vẫn dao động ở mức 142,13 mmHg đến 144,47 mmHg, cho thấy việc kiểm soát huyết áp lâu dài còn gặp nhiều thách thức.

3. Tại sao phác đồ phối hợp 2 thuốc lại chiếm tỷ lệ cao nhất trong nghiên cứu?
Phác đồ phối hợp 2 thuốc chiếm từ 52,0% đến 56,0% tổng số đơn thuốc vì đây là khuyến cáo hàng đầu của Hội Tim mạch học Việt Nam nhằm tác động đồng thời vào nhiều cơ chế bệnh sinh, nâng cao hiệu quả hạ áp nhanh chóng và giảm thiểu tác dụng không mong muốn so với việc tăng liều đơn trị liệu.

4. Việc lựa chọn thuốc cho bệnh nhân có bệnh mắc kèm đã chuẩn xác theo khuyến cáo chưa?
Nghiên cứu ghi nhận việc tuân thủ khuyến cáo ở nhóm có chỉ định bắt buộc vẫn còn hạn chế. Cụ thể, trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm đái tháo đường, tỷ lệ dùng đúng phác đồ khuyến cáo chỉ đạt 33,3% đến 66,6%; ở bệnh nhân suy tim, tỷ lệ này dao động từ 40,0% đến 80,0% tùy từng tháng theo dõi.

5. Luận văn đã chỉ ra những thiếu sót gì trong việc điều chỉnh phác đồ thuốc ngoại trú?
Nghiên cứu phát hiện có khoảng 15,0% đến 28,0% bệnh nhân dù đã đạt huyết áp mục tiêu nhưng vẫn bị thay đổi thuốc hoặc tăng liều không cần thiết. Ngược lại, có từ 1,9% đến 7,7% bệnh nhân chưa đạt mục tiêu nhưng lại bị giảm thuốc hoặc hạ liều, làm ảnh hưởng đến tính ổn định của quá trình điều trị.

Kết luận

  • Đề tài đã khảo sát toàn diện 281 bệnh nhân và 1.631 đơn thuốc ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn, ghi nhận đặc điểm mẫu chủ yếu là người cao tuổi từ 65 tuổi trở lên (74,7%) và có tỷ lệ mắc kèm rối loạn lipid máu đạt 23,8%.
  • Phác đồ phối hợp 2 thuốc giữ vai trò chủ đạo (52,0% - 56,0%), trong đó nhóm chẹn thụ thể angiotensin (48,6%) và nhóm lợi tiểu (47,3%) là hai nhóm dược lý được chỉ định phổ biến nhất.
  • Tỷ lệ kiểm soát huyết áp đạt mục tiêu còn ở mức trung bình (44,0% - 47,3%), đồng thời trị số huyết áp trung bình chưa có sự cải thiện rõ rệt qua 6 tháng theo dõi liên tục.
  • Quá trình điều chỉnh đơn thuốc ngoại trú còn tồn tại một số điểm chưa hợp lý ở cả nhóm bệnh nhân đã đạt và chưa đạt mục tiêu điều trị, đòi hỏi sự can thiệp sâu sát hơn từ chuyên môn Dược lâm sàng.
  • Trong thời gian tới, bệnh viện cần khẩn trương chuẩn hóa quy trình điều trị ngoại trú, đẩy mạnh ứng dụng viên phối hợp liều cố định và thành lập đơn vị tư vấn dùng thuốc tại phòng khám để tối ưu hóa sức khỏe cho người bệnh tim mạch trên địa bàn.