ĐẶT VẤN ĐỀ Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc các bệnh cơ xương khớp gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây và đang có xu hướng trẻ hóa [18], [21], [22]. Các bệnh cơ xương khớp thường không gây tử vong, tuy nhiên để lại nhiều di chứng nặng nề cho người mắc, bệnh kéo dài quá lâu không được điều trị hợp lý sẽ dẫn đến các biến chứng nguy hiểm đến sức khỏe người bệnh như hạn chế vận động, teo cơ, thậm chí là bại liệt, tạo ra gánh nặng cho gia đình, xã hội. Theo số liệu thống kê của nhiều bệnh viện thì tần xuất mắc bệnh xương khớp ở nước ta lên tới 47,6% số người trên 60 tuổi. Nếu như trước kia, các bệnh xương khớp thường gặp nhất là viêm cột sống dính khớp, bệnh hệ thống, thì ngày nay loãng xương sau mãn kinh và loãng xương tuổi già, thái hóa khớp, các bệnh xương khớp do chuyển hóa (gút, bệnh xương khớp sau chạy thận nhân tạo, tổn thương xương khớp do sử dụng corticoids…), cùng nhiều bệnh khác đang trở thành vấn đề thời sự của những năm gần đây [26].
Thuốc sử dụng trong điều trị các bênh bệnh cơ - xương - khớp chủ yếu là thuốc giảm đau chống viêm steroid và non - steroid (NSAID), thuốc giảm đau ngoại vi, thuốc giảm đau dạng opoid, thuốc giãn cơ trung ương và một số nhóm thuốc giảm đau khác. Hai nhóm thuốc giảm đau chống viêm steroid và non - steroid được sử dụng phổ biến trong điều trị các bệnh cơ - xương - khớp. Tuy nhiên, việc lựa chọn thuốc, dạng dùng, đường dùng, thời gian dùng của các thuốc này không phải lúc nào cũng hợp lý. Chính vì vậy, đi kèm với hiệu quả điều trị sẽ có rất nhiều tác dụng không mong muốn và việc sử dụng thuốc chưa hợp lý sẽ dẫn đến những hậu quả nguy hại cho sức khỏe [8][10][27].
Với mong muốn đem lại hiệu quả tối ưu trong công tác điều trị, hạn chế tác dụng không mong muốn của thuốc, mang lại lợi ích thiết thực, sự hài lòng cho người bệnh; đồng hành với bác sỹ trong công tác điều trị, đề tài nghiên cứu: “Phân tích tình hình sử dụng thuốc giảm đau, chống viêm trong điều trị một số bệnh cơ - xương - khớp tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Lạng Sơn” được tiến hành với các mục tiêu sau: 1 - Khảo sát đặc điểm bệnh nhân điều trị bệnh cơ - xương - khớp tại bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Lạng Sơn. - Phân tích việc sử dụng thuốc giảm đau, chống viêm trong điều trị một số bệnh cơ - xương - khớp tại bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Lạng Sơn. Tổng quan về một số bệnh cơ - xương - khớp 1. Khái niệm Bệnh cơ - xương - khớp là những bệnh lý gây rối loạn chức năng sinh lý của cơ xương khớp.
Với các triệu chứng chính là hiện tượng đau nhức, hạn chế vận động [6], [28]. Một số bệnh cơ - xương - khớp thường gặp tại bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Lạng Sơn như: viêm khớp dạng thấp, đau thần kinh tọa, hội chứng cánh cổ - vai - cánh tay, thoái hóa khớp gối… [4].Viêm khớp dạng thấp Định nghĩa: Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là bệnh tự miễn dịch thường gặp đặc trưng bởi quá trình viêm mạn tính các khớp. VKDT nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn tới tổn thương sụn khớp, hủy xương gây dính và biến dạng khớp. VKDT diễn biến phức tạp, ngoài các biểu hiện tại khớp còn có các biểu hiện ngoài khớp và toàn thân ở nhiều mức độ khác nhau [1],[3],[4].
Nguyên nhân: cho đến nay nguyên nhân gây bệnh vẫn chưa rõ ràng, VKDT được coi là một bệnh tự miễn với sự tham gia của nhiều yếu tố như nhiễm khuẩn hoặc di truyền [29]. Các yếu tố nhiễm khuẩn như virus hay vi khuẩn đã được đề cập đến. Tuy nhiên, hiện nay chưa có một tác nhân nhiễm khuẩn nào được xác minh chắc chắn [5]. Yếu tố di truyền được đề cập đến do có nhiều công trình nghiên cứu nêu lên mối liên quan giữa bệnh VKDT và yếu tố kháng nguyên phù hợp tổ chức HLA - DR4 [30].
Ngoài ra, VKDT có liên quan rõ rệt đến giới tính và lứa tuổi. VKDT thường xuất hiện hoặc nặng hơn ở thời kỳ sau sinh đẻ, sau mãn kinh, chứng tỏ có vai trò của hormon giới tính [29]. Phương pháp điều trị bằng thuốc - Thuốc y học hiện đại: Các thuốc kháng viêm không steroid: các thuốc kháng viêm ức chế chọn lọc COX - 2 (được chọn lựa đầu tiên vì thường phải sử dụng dài ngày và ít có tương tác bất lợi với methotrexat: celecoxib, meloxicam, etoricoxib); Các thuốc thuốc kháng viêm ức chế COX không chọn lọc (diclofenac). Điều trị cơ bản bằng các thuốc chống thấp làm thay đổi tiến triển của bệnh (Disease Modifying Anti Rheumatic Drug-DMARDs) để làm chậm hoặc làm ngừng tiến triển của bệnh, cần điều trị lâu dài và theo dõi các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng trong suốt thời gian điều trị: methotrexat, sulfasalazin, hydrocloroquin.
- Thuốc y học cổ truyền: dùng bài cổ phương “Quế chi thược dược tri mẫu thang” gia giảm tùy thể bệnh, Tam tý ẩm, bài “Độc hoạt tang ký sinh” gia giảm, Phong tê thấp, Cồn xoa bóp. Đau thần kinh tọa Định nghĩa: đau thần kinh tọa còn gọi là đau thần kinh hông to, biểu hiện bởi cảm giác đau dọc theo đường đi của thần kinh tọa: đau tại cột sống thắt lưng lan tới mặt ngoài đùi, mặt trước ngoài cẳng chân, mắt cá ngoài và tận ở các ngón chân. Tùy theo vị trí tổn thương mà hướng lan của đau có khác nhau. Thường gặp đau thần kinh tọa một bên, ở lứa tuổi lao động (30-50 tuổi).
Trước kia tỷ lệ gặp ở nam cao hơn nữ, song các nghiên cứu năm 2011 cho thấy tỷ lệ gặp ở nữ cao hơn nam. Nguyên nhân thường gặp nhất là do thoát vị đĩa đệm. Tỷ lệ đau thần tọa do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng tại cộng đồng miền Bắc Việt Nam là 0,64% (2010) [1], [3], [4]. Nguyên nhân: nguyên nhân hàng đầu gây chèn ép rễ thần kinh tọa là thoát vị đĩa đệm; trượt đốt sống; thoái hóa cột sống thắt lưng gây hẹp ống sống thắt lưng.
Các nhóm nguyên nhân do thoái hóa này có thể kết hợp với nhau; các nguyên nhân hiếm gặp hơn: viêm đĩa đệm đốt sống, tổn thương thân đốt sống (thường do lao, vi khuẩn, u), chấn thương, tình trạng mang thai…[1], [3], [4]. Phương pháp điều trị dùng thuốc: - Thuốc y học hiện đại Nhóm giảm đau: paracetamol hoặc kết hợp thuốc giảm đau trung ương nhẹ như codein hoặc tramadol [1], [4]. 4 Thuốc chống viêm không steroid: dùng một trong các NSAID không chọn lọc hoặc có ức chế chọn lọc COX-2 như ibubrofen, naproxen, piroxicam, meloxicam, celecoxib. Để giảm nguy cơ tiêu hóa (đặc biệt khi sử dụng các NSAID không chọn lọc) nên xem xét sử dụng phối hợp với một thuốc bảo vệ dạ dày như thuốc nhóm ức chế bơm proton (PPI).
Thuốc giãn cơ Các vitamin nhóm B (B1, B6, B12), mecobalamin Tiêm glucocorticoid cạnh sống [1]. - Thuốc y học cổ truyền: dùng bài cổ phương “Quế chi thược dược tri mẫu thang” gia giảm tùy thể bệnh, Tam tý ẩm, bài “Độc hoạt tang ký sinh” gia giảm, Phong tê thấp, cồn xoa bóp. Hội chứng cổ - vai - cánh tay Định nghĩa: hội chứng cổ vai cánh tay còn gọi là hội chứng vai cánh tay (scapulohumeral syndrome) hay bệnh lý rễ tủy cổ (cervicalradiculopathy), là một nhóm các triệu chứng lâm sàng liên quan đến các bệnh lý cột sống cổ có kèm theo các rối loạn chức năng rễ, dây thần kinh cột sống cổ và/hoặc tủy cổ, không liên quan tới bệnh lý viêm. Biểu hiện lâm sàng thường gặp là đau vùng cổ, vai và một bên tay, kèm theo một số rối loạn cảm giác và/hoặc vận động tại vùng chi phối của rễ dây thần kinh cột sống cổ bị ảnh hưởng [1], [4].
Nguyên nhân: nguyên nhân thường gặp nhất (70-80%) là do thoái hóa cột sống cổ, thoái hóa các khớp liên đốt và liên mỏm bên làm hẹp lỗ tiếp hợp, hậu quả là gây chèn ép rễ/dây thần kinh cột sống cổ tại các lỗ tiếp hợp; thoát vị đĩa đệm cột sống cổ (20-25%), đơn thuần hoặc phối hợp với thoái hóa cột sống cổ. [1] Phương pháp điều trị bằng thuốc: - Thuốc y học hiện đại. Thuốc giảm đau: paracetamol hoặc kết hợp opiad nhẹ như codein hoặc tramadol [1], [4]. Thuốc kháng viêm không steroid: diclofenac, piroxicam, meloxicam, celecoxib, etoricoxib.
5 Thuốc giãn cơ: epirison, tolperison, hoặc mephenesin, hoặc diazepam Các vitamin nhóm B (B1, B6, B12), mecobalamin. Corticosteroid đường uống: prednisolone, methylprednisolone. - Thuốc y học cổ truyền: Tam tý ẩm, các bài cổ phương gia giảm (Can khương thương truật linh phụ thang, Độc hoạt tang ký sinh, Quế chi thược dược tri mẫu thang, Tứ vật đào hồng thang.), Phong tê thấp. Thoái hóa khớp gối Định nghĩa: thoái hoá khớp gối là hậu quả của quá trình cơ học và sinh học làm mất cân bằng giữa tổng hợp và huỷ hoại của sụn và xương dưới sụn.
Sự mất cân bằng này có thể được bắt đầu bởi nhiều yếu tố: di truyền, phát triển, chuyển hoá và chấn thương, biểu hiện cuối cùng của thoái hóa khớp là các thay đổi hình thái, sinh hoá, phân tử và cơ sinh học của tế bào và chất cơ bản của sụn dẫn đến nhuyễn hoá, nứt loét và mất sụn khớp, xơ hoá xương dưới sụn, tạo gai xương và hốc xương dưới sụn [1]. Bệnh thường gặp ở nữ giới, chiếm 80% các trường hợp thoái hóa khớp gối [1], [4]. Nguyên nhân: thoái hoá khớp nguyên phát là nguyên nhân chính, xuất hiện muộn, thường ở người sau 60 tuổi, có thể ở một hoặc nhiều khớp, tiến triển chậm. Ngoài ra có thể có yếu tố di truyền, yếu tố nội tiết và chuyển hoá (mãn kinh, đái tháo đường.) có thể gia tăng tình trạng thoái hóa [1], [4].
Thoái hoá khớp thứ phát: bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nguyên nhân có thể do sau các chấn thương khiến trục khớp thay đổi (gãy xương khớp, can lệch.); các bất thường trục khớp gối bẩm sinh: khớp gối quay ra ngoài (genu valgum); khớp gối quay vào trong (genu varum); khớp gối quá duỗi (genu recurvatum.) hoặc sau các tổn thương viêm khác tại khớp gối (viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, lao khớp, viêm mủ, bệnh gút, chảy máu trong khớp - bệnh Hemophilie…) [1], [4]. Phương pháp điều trị dùng thuốc: -Thuốc y học hiện đại 6 Nhóm giảm đau: paracetamol hoặc kết hợp opiat nhẹ như codein hoặc tramadol [1], [4]. Thuốc kháng viêm không steroid: etoricoxib, celecoxib, meloxicam; thuốc chống viêm không steroid khác: diclofenac, piroxicam. Corticosteroid: không có chỉ định cho đường toàn thân [1] Thuốc giãn cơ Các vitamin nhóm B (B1, B6, B12), mecobalamin [3].