Tổng quan nghiên cứu

Bệnh lý cơ xương khớp đang trở thành thách thức y tế hàng đầu tại Việt Nam với tỷ lệ mắc bệnh lên tới 47,6% ở nhóm người trên 60 tuổi, đồng thời ghi nhận xu hướng trẻ hóa rõ nét trong cộng đồng. Mặc dù hiếm khi gây tử vong trực tiếp, các bệnh lý này dẫn đến nhiều di chứng nặng nề như hạn chế vận động, teo cơ và tàn phế, tạo ra gánh nặng kinh tế - xã hội lớn. Trong thực hành lâm sàng, thuốc chống viêm không steroid (NSAID) và glucocorticoid (GC) là hai nhóm dược chất nền tảng giúp kiểm soát nhanh cơn đau cấp và phản ứng viêm. Tuy nhiên, việc lạm dụng hoặc lựa chọn đường dùng, thời gian và liều lượng chưa hợp lý tiềm ẩn nhiều biến cố bất lợi nghiêm trọng trên hệ tiêu hóa, tim mạch và chuyển hóa xương.

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn từ tháng 6/2020 đến tháng 10/2020 nhằm khảo sát đặc điểm dịch tễ của người bệnh và phân tích thực trạng sử dụng thuốc giảm đau, chống viêm trên 108 bệnh nhân nội trú trong tổng số 515 người bệnh cơ xương khớp. Mục tiêu trọng tâm là đánh giá tính an toàn, sự tuân thủ các hướng dẫn điều trị chuẩn và hiệu quả giảm đau thực tế của mô hình kết hợp Đông - Tây y. Kết quả phân tích cung cấp bức tranh lâm sàng toàn diện, giúp các cơ sở y tế tuyến tỉnh tối ưu hóa phác đồ điều trị, nâng tỷ lệ giảm đau trung bình lên 70,0% khi xuất viện và hạn chế tối đa nguy cơ xuất huyết tiêu hóa cũng như loãng xương do thuốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng dược lý học lâm sàng hiện đại kết hợp lý luận y học cổ truyền. Khung lý thuyết trọng tâm dựa trên cơ chế ức chế enzym cyclooxygenase (COX-1 và COX-2) của nhóm NSAID, ngăn chặn quá trình chuyển hóa acid arachidonic thành prostaglandin – chất trung gian hóa học chính gây viêm và đau. Nhóm thuốc ức chế chọn lọc COX-2 như meloxicam giúp duy trì hiệu lực kháng viêm vượt trội nhưng hạn chế tổn thương niêm mạc dạ dày so với các NSAID không chọn lọc kinh điển như diclofenac hay ibuprofen. Đối với liệu pháp glucocorticoid, cơ chế tác động qua thụ thể nhân steroid giúp ức chế toàn diện các giai đoạn của phản ứng viêm nhưng đồng thời gây ức chế tạo xương, tăng bài xuất canxi và suy giảm trục hạ đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp mô hình phân tầng nguy cơ tiêu hóa và tim mạch theo Hướng dẫn của Hội Tiêu hóa Hoa Kỳ kết hợp Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh cơ xương khớp của Bộ Y tế Việt Nam năm 2014. Thang đo Brief Pain Inventory (BPI) dạng rút gọn được áp dụng làm công cụ chuẩn hóa lượng giá mức độ đau và mức độ can thiệp của cơn đau tới 7 khía cạnh chức năng sống của người bệnh.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả tiến cứu, thu thập dữ liệu trực tiếp trên cỡ mẫu 108 bệnh nhân nội trú được chẩn đoán mắc các bệnh lý cơ xương khớp có chỉ định dùng thuốc giảm đau chống viêm tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Lạng Sơn. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện toàn bộ được áp dụng cho tất cả bệnh nhân nhập viện trong khung thời gian từ ngày 20/6/2020 đến ngày 30/10/2020 đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn lựa chọn và không nằm trong diện loại trừ.

Dữ liệu được thu thập qua bệnh án điện tử kết hợp phỏng vấn trực tiếp người bệnh tại giường theo phiếu thu thập thông tin chuẩn hóa. Dược sĩ lâm sàng tiến hành rà soát tiền sử dùng thuốc, bệnh mắc kèm, đánh giá liều dùng theo Dược thư Quốc gia Việt Nam năm 2018 và thực hiện đánh giá thang điểm BPI tại 3 thời điểm: trong 24 giờ đầu nhập viện, ngày cuối cùng sử dụng thuốc giảm đau chống viêm và ngày kết thúc đợt điều trị. Toàn bộ biến số nghiên cứu được mã hóa, làm sạch và xử lý thống kê mô tả tần số, tỷ lệ phần trăm và giá trị trung bình trên phần mềm thống kê y học chuyên dụng SPSS 20 và Microsoft Excel 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu từ 108 hồ sơ bệnh án ghi nhận đối tượng bệnh nhân nữ chiếm ưu thế với 63,9% (69 bệnh nhân), trong khi nam giới chiếm 36,1% (39 bệnh nhân). Độ tuổi trên 50 chiếm tỷ lệ chủ đạo 73,1%, trong đó nhóm 50 đến 60 tuổi đạt mức cao nhất với 37,0%. Về mô hình bệnh tật, đau thần kinh tọa là nguyên nhân nhập viện phổ biến nhất chiếm 45,4%, tiếp theo là viêm khớp dạng thấp chiếm 26,9%, hội chứng cổ - vai - cánh tay chiếm 21,3% và thoái hóa khớp gối chiếm 6,5%. Đáng chú ý, có tới 54,6% người bệnh có thời gian mắc bệnh mạn tính kéo dài trên 3 năm và 47,5% bệnh nhân có các bệnh lý nền kèm theo, nổi bật là tăng huyết áp chiếm 30,5% và đái tháo đường chiếm 6,8%.

Về mô hình sử dụng thuốc, 100% bệnh nhân được điều trị kết hợp phương pháp dùng thuốc y học cổ truyền, vật lý trị liệu và thuốc giảm đau chống viêm Tây y. Thuốc giảm đau ngoại vi paracetamol đơn thành phần được sử dụng nhiều nhất chiếm 41,7%, dạng phối hợp paracetamol kết hợp ibuprofen chiếm 30,6%, meloxicam chiếm 21,3% và diclofenac tiêm bắp chiếm 6,5%. Đối với glucocorticoid, methylprednisolon đường uống 16mg chiếm 70,0% và đường tiêm 40mg chiếm 30,0%. Toàn bộ 100% chỉ định thuốc đều phù hợp với liều khuyến cáo tối đa của Dược thư Quốc gia. Tuy nhiên, trong 19 bệnh nhân thuộc nhóm có nguy cơ loét đường tiêu hóa mức độ trung bình khi dùng NSAID, chỉ có 10,5% (2 bệnh nhân) được kê đơn thuốc ức chế bơm proton (PPI) để dự phòng, trong khi 89,5% (17 bệnh nhân) hoàn toàn không được sử dụng thuốc bảo vệ niêm mạc. Toàn bộ 9 bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao loãng xương khi dùng corticoid cũng chưa được đo mật độ xương hay bổ sung chế phẩm dự phòng.

Thảo luận kết quả

Mô hình bệnh tật và dịch tễ học tuổi tác trong nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các công bố y văn trong nước. Kết quả tỷ lệ bệnh nhân trên 50 tuổi chiếm 73,1% và nữ giới chiếm 63,9% phản ánh sát thực trạng lão hóa hệ vận động và sự suy giảm nội tiết tố nữ sau mãn kinh, tương thích với các nghiên cứu tại Bệnh viện Y học cổ truyền Vĩnh Phúc với 77,7% bệnh nhân trên 50 tuổi và Bệnh viện Y học cổ truyền Thái Nguyên với 76,4% bệnh nhân trên 50 tuổi.

Điểm sáng nổi bật trong thực hành lâm sàng tại bệnh viện là việc phối hợp đa mô thức giữa y học cổ truyền với các kỹ thuật vật lý trị liệu như điện châm (100%), cấy chỉ (71,3%) và siêu âm trị liệu (66,7%). Sự kết hợp này giúp rút ngắn đáng kể thời gian sử dụng thuốc NSAID xuống mức trung bình 3,06 đến 4,21 ngày và glucocorticoid đường uống xuống 7,9 ngày, qua đó giảm thiểu nguy cơ tích lũy độc tính của thuốc tân dược. Hiệu quả kiểm soát đau được chứng minh rõ rệt khi trình bày qua đồ thị biểu diễn điểm số BPI qua 3 giai đoạn: điểm đau trung bình giảm ấn tượng từ 5,5 điểm ở ngày đầu xuống 4,0 điểm sau khi dùng thuốc và đạt 2,3 điểm khi kết thúc đợt điều trị. Mức độ can thiệp của cơn đau tới giấc ngủ giảm từ 4,7 xuống 2,5 điểm và cảm giác yêu đời cải thiện từ 3,9 xuống 1,3 điểm. Khoảng trống lâm sàng lớn nhất cần khắc phục là tỷ lệ chỉ định PPI dự phòng xuất huyết tiêu hóa cho nhóm nguy cơ trung bình còn quá thấp (10,5%), đòi hỏi phải có sự can thiệp tích cực hơn của dược sĩ lâm sàng vào quy trình duyệt đơn thuốc.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực chứng, bốn nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ cần được triển khai:

  1. Chuẩn hóa quy trình dự phòng biến cố đường tiêu hóa: Thiết lập bảng kiểm phân tầng nguy cơ tiêu hóa và tim mạch bắt buộc trên phần mềm kê đơn bệnh viện. Khoa Dược phối hợp với các bác sĩ điều trị nâng tỷ lệ kê đơn PPI dự phòng cho người bệnh có nguy cơ trung bình và cao khi dùng NSAID từ mức 10,5% hiện tại lên mục tiêu 100% trong vòng 6 tháng tới.
  2. Đầu tư trang thiết bị và tầm soát biến chứng loãng xương: Ban Giám đốc bệnh viện cần xây dựng kế hoạch trang bị hệ thống máy đo mật độ xương công nghệ DEXA trong năm tới. Khoa Khám bệnh và Khoa Lâm sàng ban hành phác đồ bổ sung canxi kết hợp vitamin D và bisphosphonat cho 100% bệnh nhân chỉ định glucocorticoid có nguy cơ gãy xương cao.
  3. Mở rộng vai trò giám sát của dược sĩ lâm sàng: Triển khai hoạt động đi buồng và duyệt hồ sơ bệnh án nội trú hàng ngày, hướng dẫn người bệnh uống NSAID và corticoid đúng thời điểm sau bữa ăn sáng (khắc phục triệt để tỷ lệ 3,6% uống xa bữa ăn), đồng thời theo dõi chặt chẽ chỉ số huyết áp trên nhóm 30,5% bệnh nhân tăng huyết áp mắc kèm.
  4. Tối ưu hóa phác đồ kết hợp Đông - Tây y: Tiếp tục duy trì và nhân rộng mô hình sử dụng thuốc thảo dược kết hợp các liệu pháp điện châm, cấy chỉ để giảm liều tích lũy của thuốc hóa dược, duy trì chỉ tiêu thời gian điều trị đợt cấp bằng NSAID dưới 5 ngày trên 95% bệnh nhân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp nhiều dữ liệu thực chứng và hàm ý ứng dụng chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Bác sĩ chuyên khoa Cơ Xương Khớp và Y học Cổ truyền: Tham khảo căn cứ lâm sàng để phối hợp hài hòa giữa các liệu pháp không dùng thuốc (điện châm, cấy chỉ, siêu âm) với thuốc tân dược, giúp kiểm soát cơn đau cấp nhanh chóng mà vẫn bảo đảm độ an toàn dài hạn cho người bệnh cao tuổi.
  • Dược sĩ lâm sàng tại các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện: Ứng dụng mô hình phân tầng nguy cơ tiêu hóa theo ACC/ACG và công cụ đo lường thang điểm BPI vào công tác bình bệnh án, giám sát tương tác thuốc và tư vấn sử dụng thuốc giảm đau an toàn, hợp lý.
  • Học viên sau đại học và nghiên cứu sinh ngành Dược lý - Dược lâm sàng: Sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp thiết kế nghiên cứu mô tả tiến cứu, kỹ thuật thu thập số liệu lâm sàng và phương pháp phân tích đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân cơ xương khớp.
  • Lãnh đạo và nhà quản lý cơ sở khám chữa bệnh: Định hướng đầu tư mua sắm trang thiết bị y tế thiết yếu như máy đo loãng xương và hoàn thiện danh mục thuốc bảo vệ niêm mạc đường tiêu hóa tại đơn vị.

Câu hỏi thường gặp

Bệnh lý cơ xương khớp nào có tỷ lệ mắc cao nhất trong nghiên cứu?
Kết quả nghiên cứu ghi nhận đau thần kinh tọa chiếm tỷ lệ cao nhất với 45,4% (49 bệnh nhân), theo sau là viêm khớp dạng thấp chiếm 26,9% và hội chứng cổ - vai - cánh tay chiếm 21,3%. Tỷ lệ này phản ánh tính chất bệnh lý liên quan chặt chẽ đến sự thoái hóa cột sống thắt lưng và chèn ép rễ thần kinh ở người cao tuổi.

Mô hình kết hợp Đông - Tây y mang lại hiệu quả giảm đau như thế nào theo thang BPI?
Phác đồ kết hợp giúp mức độ đau trung bình trong 24 giờ của bệnh nhân giảm mạnh từ 5,5 điểm xuống 2,3 điểm khi xuất viện. Tỷ lệ phần trăm giảm đau tự đánh giá tăng liên tục từ 32,3% ở 24 giờ đầu lên 50,1% sau đợt thuốc chống viêm và đạt 70,0% ở thời điểm kết thúc điều trị.

Tại sao tỷ lệ dự phòng loét dạ dày cho bệnh nhân dùng NSAID còn hạn chế?
Trong mẫu nghiên cứu có 19 bệnh nhân mang nguy cơ tiêu hóa trung bình nhưng chỉ có 10,5% được dùng PPI dự phòng do thói quen kê đơn ưu tiên giảm đau ngắn ngày và chưa áp dụng thường quy bảng kiểm phân tầng nguy cơ tiêu hóa trong khâu khám chữa bệnh ban đầu.

Thời gian sử dụng trung bình của các thuốc NSAID và glucocorticoid là bao lâu?
Nhờ phối hợp với vật lý trị liệu, thời gian dùng thuốc được rút ngắn đáng kể: meloxicam uống trung bình 4,21 ngày, diclofenac tiêm bắp trung bình 3,29 ngày, ibuprofen phối hợp paracetamol trung bình 3,06 ngày và methylprednisolon uống trung bình 7,9 ngày.

Phương pháp vật lý trị liệu nào được chỉ định phổ biến nhất cho người bệnh?
Hai kỹ thuật y học cổ truyền và phục hồi chức năng được ứng dụng nhiều nhất là điện châm đạt tỷ lệ 100% (108/108 bệnh nhân) và cấy chỉ đạt 71,3% (77 bệnh nhân), đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ giãn cơ và giảm đau tự nhiên.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng sử dụng thuốc giảm đau chống viêm trên 108 bệnh nhân cơ xương khớp tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Lạng Sơn, ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh cao ở nữ giới (63,9%) và người trên 50 tuổi (73,1%).
  • Phác đồ điều trị đa mô thức kết hợp Đông y, vật lý trị liệu (điện châm 100%, cấy chỉ 71,3%) và Tây y giúp rút ngắn thời gian dùng NSAID xuống trung bình 3,06 đến 4,21 ngày với 100% liều dùng đúng khuyến cáo.
  • Hiệu quả điều trị đạt mức ấn tượng với mức độ giảm đau đạt 70,0% và điểm đau trung bình BPI hạ từ 5,5 xuống 2,3 điểm khi kết thúc liệu trình.
  • Nghiên cứu chỉ ra hai tồn tại lâm sàng lớn cần khắc phục là tỷ lệ dự phòng loét tiêu hóa bằng PPI còn thấp (10,5%) và chưa triển khai đo mật độ xương tầm soát biến chứng do corticoid.
  • Cơ sở khám chữa bệnh cần khẩn trương ban hành hướng dẫn phân tầng nguy cơ tiêu hóa chuẩn hóa và đầu tư máy đo loãng xương trong giai đoạn tiếp theo để tối ưu hóa an toàn điều trị.

Để nâng cao chất lượng điều trị và cập nhật các hướng dẫn sử dụng thuốc giảm đau an toàn nhất, quý đồng nghiệp và bạn đọc hãy chia sẻ bài viết, áp dụng ngay bảng kiểm phân tầng nguy cơ tiêu hóa vào thực hành lâm sàng hàng ngày hoặc liên hệ với bộ phận Dược lâm sàng để cùng xây dựng quy trình dùng thuốc tối ưu cho người bệnh.