CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 GIỚI THIỆU VỀ ONG Vespa velutina Ong bắt mồi chân vàng, Vespa velutina (Hình 1.1) là một loài ong có nguồn gốc từ các nước khu vực Châu Á [1] và đã xâm nhập vào một số khu vực của Châu Âu, lần đầu tiên xuất hiện ở Pháp vào năm 2004 [1]. Như một kẻ săn mồi nói chung, chúng là một loài gây hại cho ong mật và là mối quan tâm chính của nhiều người nuôi ong.1 Ong Vespa velutina (Lepeletier) [1] Luan van 6 1.1 Phân loại khoa học Giới (regnum) : Animalia Ngành (phylum) : Arthropoda Lớp (class) : Insecta Bộ (ordo) : Hymenoptera Họ (familia) : Vespidae Phân họ (subfamilia) : Vespinae Chi (genus) : Vespa Loài (species) : V.2 Phân bố của ong Vespa velutina Vespa velutina có nguồn gốc từ Châu Á, là loài bản địa ở Đông Nam Á, xuất hiện ở Hàn Quốc [1], Trung Quốc [2] và Nhật Bản [3] và mốt số quốc gia Châu Á khác. Nó được du nhập vào Pháp vào năm 2004, rất có thể thông qua việc nhập khẩu các chậu cây cảnh [2].
Loài này có khả năng xâm lấn rất cao và dễ dàng lây lan sang các khu vực châu Âu khác như Ý [4], Anh [5], Quần đảo Balearic [6] và miền bắc nước Đức [7] Phân bố của loài ong Vespa velutina ở Việt Nam Loài ong Vespa velutina có thể được tìm thấy ở các tỉnh của Việt Nam như: Hà Giang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Lâm Đồng, v.3 Hình thái của ong Vespa velutina V. velutina rất đa dạng về màu sắc và 10 phân loài đã được xác định [8], [9], [10]. Villemant (Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia, Paris, thông tin cá nhân của Pháp, 2013) mô tả Vespa velutina nigrithorax (Hình 1.3) như sau: Luan van 7 Ong cái: Đầu và ngực nhọn, có lông tơ mịn mọc rải rác, bụng có rãnh. Cơ thể màu nâu sẫm, mặt và miệng có màu cam (trừ răng sẫm màu); râu màu nâu ở mặt lưng, màu cam ở bụng.
Mặt lưng của các đoạn bụng màu nâu với các rìa đỉnh rõ ràng hơn: một dải mỏng màu vàng ở đoạn thứ nhất và dải mỏng màu cam ở đoạn thứ hai và thứ ba; đoạn bụng thứ tư gần như hoàn toàn màu cam với một vạch đen hình tam giác ở giữa, thường không nhìn thấy khi ong bắp cày còn sống; đoạn bụng thứ năm và thứ sáu có màu nâu cam nhiều hơn hoặc ít hơn. Phần bụng màu nâu, đỉnh hình tam giác thường nhạt hơn; phân đoạn thứ hai và thứ ba màu vàng toàn thân với một vạch đen ở giữa. Chân màu nâu trừ tarsi vàng; cánh màu nâu xám. Không có sự khác biệt rõ rệt về hình thái giữa con cái (ong thợ) hữu tính và bất dục.
Một số ong thợ nhỏ hơn (đặc biệt là vào mùa xuân) nhưng vào mùa thu, nhiều ong thợ lớn như những ong chúa tương lai. Bên trong đàn, có thể nhận ra ong chúa đẻ trứng bằng phần bụng căng phồng và vào cuối mùa, đôi cánh bị hư hại.2 Ong Vespa velutina nigrithorax cái mặt lưng (phía trên) và bụng (phía dưới) [11] Luan van 8 Con đực: rất giống con cái về kích thước và màu sắc, râu dài hơn. Mặt bụng của bụng màu nâu, đỉnh cụt có một đôi đốm vàng. Ong đực và ong cái có thể phân biệt với nhau bằng các râu của chúng, với các râu ong cái có vẻ mỏng hơn và chiều dài ngắn hơn so với râu của ong đực.
Như với tất cả các Bộ cánh màng, con cái có ngòi độc còn con đực thì không.3 Ong Vespa velutina nigrithorax cái (bên trái) và đực (bên phải) [12] 1.2 GIỚI THIỆU VỀ NỌC ONG Các sinh vật sử dụng nọc độc như một thứ vũ khí hoá học hiệu quả để tự vệ và săn bắt con mồi, vì vậy nọc của chúng được tiến hoá theo hướng đặc trưng cho loài và độc tính cao. Bên cạnh đó, nọc độc cũng là nguồn dự trữ các hợp chất có hoạt tính sinh học quý, mang lại nhiều hứa hẹn trong việc tìm tòi và phát triển các loại thuốc chữa bệnh (Hình 1. Luan van 9 Hình 1.4 Nọc ong săn mồi như một nguồn của các hợp chất có hoạt tính sinh học và các ứng dụng của chúng [13].1 Các thành phần của nọc ong Nọc ong là một hỗn hợp phức tạp chứa 3 nhóm chất chính: gồm các enzyme có bản chất là protein (hyaluronidase, phospholipase A và B, phosphatase acid, các protease, esterase và glucidase); các peptide nhỏ (apamin là chất độc thần kinh, melittin là chất độc gây tan máu, MCD peptide - Mast cell degranulating peptide, kinin, bradykinin, kháng nguyên 5, mastoparan); và cuối cùng gồm các phân tử nhỏ khác như các amin gây viêm (histamin, noradrenalin, dopamin, serotonin, acetylcholine) (Bảng 1. Luan van 10 Hyaluronidase Phospholipase A2 Melittin Mastoparan Hình 1.5 Một số hợp chất trong thành phần trong nọc ong Luan van 11 1.1 Các enzyme Hyaluronidase và Phospholipase là hai enzyme chính có trong nọc độc của các loài ong.
Hai enzyme này có thể kích hoạt phản ứng miễn dịch, bằng cách cảm ứng IgE gây ra các phản ứng quá mẫn dẫn đến phá huỷ lớp lipid kép trong màng tế bào, gây độc tế bào hoặc kích thích miễn dịch đối với các loại tế bào khác [15], [16]. Hyaluronidase thuỷ phân và cắt đặc hiệu acid hyaluronic, có thể được sử dụng như các tác nhân gây mê, giảm đau, chống ung thư và cũng hỗ trợ sự phân tán thuốc trong mô [17]. Phospholipase A-2 (PLA2) là thành phần chủ yếu thứ 2 của nọc ong, chiếm 10-12% trọng lượng khô của nọc. PLA2 là một enzyme phụ thuộc vào canxi mà thủy phân sn-2 este của glycerophospholipids để tạo ra một acid béo và một lysophospholipid.
Nó có thể phá hủy phospholipids, phá vỡ tính toàn vẹn của lớp lipid kép, do đó làm cho các tế bào dễ bị suy thoái hơn. Trên thực tế, các sản phẩm phản ứng PLA2, chẳng hạn như lysophosphatidylcholine, acid lysophosphatidic và sphingosine 1- phosphate, có thể có tác dụng gây độc tế bào hoặc kích thích miễn dịch trên các loại tế bào khác nhau, gây viêm và phản ứng miễn dịch [16] 1.2 Các peptide MCD peptide (Mast cell degranulating peptide) là một peptide tích điện dương gồm 22 amino acid chứa 2 cầu disulfide giữa Cys3 và Cys15, Cys5 và Cys19, có cấu trúc giống như apamin, [18]. Peptide này có tiềm năng kháng viêm, tuy nhiên khi ở nồng độ thấp MCD peptide lại là chất trung gian mạnh của quá trình phân rã tế bào mast và giải phóng chủ động histamine từ các tế bào mast, mà được hiện diện trong việc truyền máu và trong tất cả các cô được truyền dịch bằng máu [19]. Bradykinin là peptide thuộc nhóm protein kinin, tác động vào hai thụ thể được ký hiệu là B1 và B2 gây đau và làm giảm huyết áp [19].
Đối với thụ thể B1 chỉ được biểu hiện do tổn thương mô và nó được cho là có vai trò gây đau mãn tính. Ngược lại, thụ thể B2 được biểu hiện chủ yếu, tham gia vào quá trình Luan van 12 giãn mạch thông qua việc giải phóng prostacyclin, oxit nitric, và yếu tố tăng phân cực có nguồn gốc nội mô, do đó góp phần làm giảm huyết áp [19], [20]. Adolapin là peptide đầu tiên được tinh sạch từ nọc ong trong thập kỷ 80, ức chế hoạt động của protstaglandin gây ra hiệu quả giảm đau và kháng viêm mạnh khi thử nghiệm trên chuột [21], [22]. Melittin là peptide độc hoà tan trong nước chiếm 50% trọng lượng khô của nọc.
Đây là peptide xoắn lưỡng phần ( một phân tử có cả tính chất ưa nước và kỵ nước ) bao gồm 26 gốc amino acid và trong đó cùng đầu N chủ yếu kỵ nước và vùng đầu C là ưa nước. Melittin là thành phần hoạt động chính của nọc ong (apitoxin) và chịu trách nhiệm phá vỡ và giết các tế vào. Khi một số peptide melittin tích tụ trong màng tế bào, quá trình đóng gói phospholipid bị phá vỡ nghiêm trọng, do đó dẫn đến ly giải tế bào [23]. Melittin và phospholipase A-2 ức chế sự tăng sinh tế bào khối u và do đó có giá trị tiềm năng cho chữa trị ung thư và giảm khả năng nhiễm HIV-1 [24].
Apamin là độc tố thần kinh trong nọc ong gồm có 18 gốc amino acid với hai cầu nối disulfide mà liên kết vị trí 1 với 11 và vị trí 3 với 15 [25]. Apamin được biết từ rất lâu như là chất ức chế chọn lọc cao của các kênh K+ đã kích hoạt Ca2+ (kênh SK) được biểu hiện trong hệ thống thần kinh trung ương. Loại kênh này đóng một vai trò quan trọng trong các hoạt động lặp đi lặp lại trong các tế bào thần kinh, ngăn chặn nhiều hiệu ứng ức chế siêu phân cực [26]. Mastoparan là một peptide lưỡng phần hoạt động trên màng với 14 amino acid, cảm ứng sự vận chuyển tính thấm của màng nên ảnh hưởng đến khả năng sống sót của tế bào [27].3 Các phân tử nhỏ khác Ngoài 2 thành phần cơ bản ở trên, trong nọc ong còn chứa một số phân tử nhỏ khác như các chất khoáng, các amino acid và các chất có hoạt tính giống như amin.
Trong nhóm này kể đến histamine là một chất chính điển hình, tham gia vào quá trình gây viêm thông qua việc làm tăng tính thấm của thành mao mạch [22]. Luan van 13 Tương tự như vậy noradrenalin và dopamine làm tăng nhịp đập của tim và gây ra tăng tuần hoàn máu. Tuy nhiên giống như histamin, tác dụng của hai catecholamine này phần lớn bị lu mờ bởi những thành phần khác của nọc độc [22]. Serotonin hoạt động như một chất kích thích và góp phần gây ra những cơn đau.
Cuối cùng, acetylcholine có thể làm tăng cảm giác đau của một vết chích bằng cách kích thích thụ thể đau đồng thời với tác dụng của histamine [22].1 Một số protein và peptide chính được tìm thấy trong nọc ong [22]. Nọc ong mật Nọc ong vò vẽ % Tỉ lệ trong Kiểu và MW (Da) (bee) (wasp) nọc khô Phospholipase A2 Phospholipase A2 Enzyme (~18 kDa) 10-12 Phospholipase B Phospholipase B Enzyme (~26 kDa) 1 Hyaluronidase Hyaluronidase Enzyme (~54 kDa) 1.5-2 Phosphatase Phosphatase Enzyme (~60 kDa) 1 - Gluosidase - Gluosidase Enzyme (~170 kDa) 0.6 Melittin - Peptide (2847 Da) 40-50 Apamin - Peptide (2027 Da) 2-3 MCD peptide - Peptide (2593 Da) 2-3 - Mastoparan Peptide (1422 Da) - - Bradykinin Peptide (1060 Da) - Luan van 14 1.2 Ứng dụng của nọc ong Nọc ong là một chất độc với con người, vì vậy hiểu biết cặn kẽ đặc tính về thành phần phân tử, tác dụng phụ và độc học của chúng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ con người cũng như tìm kiếm các thuốc mới một cách an toàn, hiệu quả. Nọc ong mật đã được nghiên cứu rất nhiều trong thế kỷ trước [18], [28].