MỞ ĐẦU. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU. Tổng quan về chất thải nguy hại. Khái niệm về chất thải và chất thải nguy hại.
Các tính chất và thành phần nguy hại của CTNH. Phân loại CTNH. Quản lý Chất thải nguy hại. Khái niệm quản lý chất thải và quản lý CTNH.
Các giải pháp quản lý CTNH. Một số mô hình quản lý chất thải nguy hại. Một số mô hình quản lý chất thải nguy hại hiện có ở Việt Nam. Tổng quan về tình hình xử lý và các loại hình công nghệ xử lý chất thải nguy hại hiện đang áp dụng tại Việt Nam.
18 CHƢƠNG II. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Địa điểm nghiên cứu. Thời gian nghiên cứu.
Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu. 30 CHƢƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Tình hình phát sinh chất thải nguy hại tại Việt Nam.
Tình hình thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại. Tình hình xử lý chất thải nguy hại tại Việt Nam. Tình hình quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam. Khung pháp lý trong quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam.
Khung thể chế trong việc quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam. Về công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát. Các thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý chất thải nguy hại:. Đề xuất giải pháp quản lý để hoàn thiện thể chế và chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam.
Nghiên cứu chỉnh sửa Luật Bảo vệ môi trƣờng (đối với phần quản lý chất thải nguy hại). Xây dựng hệ thống thông tin quản lý tích hợp chất thải nguy hại. 64 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO.Error! Bookmark not defined.
3 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BTNMT : Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng. BVMT : Bảo vệ môi trƣờng. BXD : Bộ Xây dựng. CTNH : Chất thải nguy hại QLCTNH : Quản lý chất thải nguy hại CTR : Chất thải rắn.
CTRCNNH : Chất thải rắn công nghiệp nguy hại CTRYT : Chất thải rắn y tế KCN : Khu công nghiệp. CXL : Chủ xử lý CNT : Chủ nguồn thải CVC : Chủ vận chuyển QCVN : Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trƣờng. Sự cần thiết của đề tài Quản lý chất thải nguy hại (CTNH) là một vấn đề tƣơng đối bức xúc trong công tác bảo vệ môi trƣờng tại Việt Nam. Theo Báo cáo hiện trạng môi trƣờng năm 2010, tổng lƣợng CTNH phát sinh hàng năm của Việt Nam trong năm 2010 vào khoảng 840 ngàn tấn.
Tuy nhiên, theo ƣớc tính sơ bộ của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng tại 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng, năm 2011 lƣợng CTNH đã vƣợt con số này. Theo một điều tra khảo sát của JICA, tổng lƣợng chất thải phát sinh tại Việt Nam năm 2010 là trên 31,5 triệu tấn, trong đó chất thải công nghiệp là 5,5 triệu tấn và CTNH là 0,86 triệu tấn. Theo dự báo, tổng lƣợng chất thải phát sinh năm 2015 sẽ khoảng 43. Do lƣợng phát sinh CTNH ngày càng gia tăng, nếu không có các biện pháp quản lý phù hợp sẽ dẫn đến nguy cơ gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng bắt nguồn từ các hoạt động không kiểm soát nhƣ vận chuyển trái phép hoặc xử lý không an toàn về môi trƣờng.
Mặc dù bắt đầu đƣợc quan tâm từ năm 1999 với sự ra đời của Quy chế quản lý CTNH ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ, tuy nhiên phải đến năm 2006, công tác quản lý CTNH mới đƣợc thực sự triển khai có hiệu quả trong thực tế, cùng với sự ra đời của Luật Bảo vệ môi trƣờng (sửa đổi) năm 2005 và các văn bản dƣới Luật, đặc biệt là Thông tƣ số 12/2006/TT-BTNMT (hƣớng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề và mã số quản lý CTNH), Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT (ban hành Danh mục CTNH) của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngƣỡng chất thải nguy hại QCVN 07: 2009/BTNMT và mới đây nhất là Thông tƣ số 12/2011/TT-BTNMT có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 6 năm 2011. Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định pháp luật này tại các địa phƣơng còn nhiều khi gặp khó khăn, chƣa có sự thống nhất và còn thiếu sót nhất định. Hơn nữa, thực tế là sau 5 năm thực hiện Thông tƣ số 12/2006/TT-BTNMT chƣa có báo cáo đánh giá tình hình thực tế về công tác cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải, cấp phép và quản lý nhà nƣớc về CTNH của các địa phƣơng để tổng kết, đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện và đƣa ra giải pháp phù hợp. Hiện nay, tổng công suất xử lý của các chủ hành nghề quản lý CTNH chỉ đáp ứng một phần lƣợng CTNH phát sinh.
Một số đơn vị còn thiếu hiểu biết hoặc chƣa cập nhật đối với các quy định về phƣơng tiện vận chuyển CTNH chuyên dụng, các loại hình công nghệ xử lý chất thải ở trong và ngoài nƣớc, rất khó khăn cho việc lựa chọn công nghệ thích hợp để lắp đặt tại cơ sở xử lý. Ngoài ra, các đối tƣợng hành nghề này chƣa có các hƣớng dẫn kỹ thuật đầy đủ liên quan đến các phƣơng tiện, thiết bị chuyên 5 dụng cho việc hành nghề vận chuyển và xử lý CTNH. Đồng thời các quy định/quy chuẩn kỹ thuật liên quan đến hoạt động hành nghề vận chuyển và xử lý CTNH tuy đã đƣợc ban hành nhƣng còn thiếu và chƣa đầy đủ. Thực tiễn đã xảy ra nhiều vấn đề nóng, bức xúc tại các địa phƣơng về CTNH, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng phải trả lời trƣớc Quốc hội, Chính phủ, báo chí … và phải có trách nhiệm đôn đốc nhƣng không có đầy đủ thông tin, số liệu về công tác quản lý CTNH của các địa phƣơng và các doanh nghiệp, ví dụ nhƣ Tổng cục Môi trƣờng hiện không có đầy đủ thông tin về tình hình thu phí quản lý chất thải rắn của các địa phƣơng.
Từ những nhu cầu thực tiễn nêu trên, cho thấy đề tài “Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam” là nghiên cứu cần thiết sẽ đƣa ra cái nhìn toàn diện về tình hình quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam. Mục tiêu của đề tài 2. Mục tiêu tổng quát Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam và đề xuất giải pháp quản lý góp phần bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền vững.2 Mục tiêu cụ thể + Đánh giá thực tế về tình hình quản lý CTNH trên địa bàn toàn quốc, trong đó tập trung vào các tỉnh có phát sinh nhiều chất thải nguy hại nhƣ Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Tp. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dƣơng.
+ Nghiên cứu, phân tích các mô hình quản lý CTNH hiện có trên thế giới và khả năng áp dụng tại Việt Nam. + Đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp, bao gồm cả nội dung xây dựng, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật. Luận văn đƣợc trình bày theo các chƣơng, phần nhƣ sau: - Chƣơng 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu; - Chƣơng 2.
Địa điểm, thời gian, phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu; - Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu; - Kết luận và kiến nghị; - Tài liệu tham khảo. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về chất thải nguy hại 1.
Khái niệm về chất thải và chất thải nguy hại a. Chất thải là gì? Theo định nghĩa của Công ƣớc Basel về Kiểm soát Chất thải Xuyên biên giới và việc Tiêu hủy chúng (gọi tắt là Công ƣớc Basel): chất thải là “Những chất hoặc vật thể bị thải bỏ, hoặc chuẩn bị bị thải bỏ hoặc bị các điều khoản của luật pháp quốc gia yêu cầu phải thải bỏ”. Cơ quan Thống kê Liên hợp Quốc (United Nations Statistics Division – UNSD, 1997) đƣa ra một định nghĩa đầy đủ và chi tiết hơn: “Chất thải là những vật chất không phải là sản phẩm chính yếu (tức là không phải sản phẩm sản xuất dành cho thị trường) mà người phát sinh ra chúng không có bất kỳ một mục đích sử dụng nào khi sản xuất, chuyển hóa hoặc sử dụng chúng, và người đó muốn thải bỏ/tiêu hủy chúng. Chất thải có thể phát sinh từ quá trình khai thác nguyên liệu thô, chế biến nguyên liệu thô thành sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng, tiêu thụ sản phẩm cuối cùng, và các hoạt động khác của con người.
Những chất dư thừa được tái chế hoặc tái sử dụng ngay tại nơi phát sinh thì không tính là chất thải”. Theo Cộng đồng châu Âu (EU), chất thải đƣợc định nghĩa là vật mà ngƣời nắm giữ chúng thải bỏ, có ý thải bỏ hoặc đƣợc yêu cầu phải thải bỏ. Khi một chất hoặc một vật đã trở thành chất thải, nó sẽ vẫn là chất thải cho đến khi đƣợc thu hồi hoàn toàn và không còn gây bất cứ một mối nguy hại tiềm tàng nào đối với môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời. Theo Luật Bảo vệ môi trƣờng (BVMT) năm 2005, “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí đƣợc thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”.
Chất thải nguy hại là gì? Công ƣớc Basel không đƣa ra định nghĩa cụ thể về CTNH mà đƣa ra các phụ lục trong Công ƣớc, trong đó xác định những chất thuộc Phụ lục I và có ít nhất một thuộc tính trong Phụ lục III, hoặc các chất do nƣớc sở tại quy định trong luật pháp của nƣớc đó, đƣợc coi là CTNH. Cục Bảo vệ Môi trƣờng Mỹ đƣa ra định nghĩa CTNH là “Chất thải có tính chất nguy hiểm hoặc nguy hiểm tiềm tàng đối với môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời. Chất thải nguy hại có thể ở dạng rắn, lỏng, khí hoặc bùn. Chúng có thể là sản phẩm thƣơng mại bị thải bỏ nhƣ dung dịch tẩy rửa hoặc thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), hoặc là phụ phẩm của quá trình sản xuất”.
7 Theo Luật BVMT 2005: “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác”. Định nghĩa về CTNH trong Luật BVMT 2005 nhìn chung là đầy đủ và đã cụ thể hoá định nghĩa này trong Thông tƣ số 12/2011/TT-BTNMT bằng danh mục các CTNH theo nguồn thải.