CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN cưu 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Mô hình dạy học 5E ngày càng được sử dụng rộng rãi được xây dựng dựa trên thuyết kiến tạo. Với những đặc trưng riêng, trên thế giới đã có nhiều các công trình nghiên cứu về mô hình này.
Từ đó, cho thấy được tính linh hoạt, tính ứng dụng một cách có chiều sâu của mô hình dạy học 5E để phát triển được tối đa các năng lực của học sinh, đặc biệt là năng lực tìm hiểu tự nhiên. Năm 1987, mô hình 5E được Rodger W.Bybee và cộng sự xây dựng dựa trên mô hình học tập của J.Myron Atkin và Robert Karplus (1962), nhằm cải tiến cho chương trình dạy học các môn Sinh học cấp Tiểu học. Mô hình 5E dựa trên lý thuyết kiến tạo về học tập (Vũ Phương Liên và Trần Thị Thu Phương, 2022). Trên thế giới, mô hình dạy học 5E được vận dụng tổ chức dạy học và đem lại hiệu quả tích cực cho HS đối với việc rèn luyện kỹ năng thiết yếu của thế kỉ XXI (Byhee et al.
Với đặc trưng mô hình học tập như vậy vừa tăng cường được hứng thú học tập cho HS, vừa giúp HS ghi nhớ kiến thức tốt hơn, nâng cao trình độ học tập (Fazelian & Soraghi, 2020). Tại Thổ Nhĩ Kỳ, Ergin (2012) đà áp dụng mô hình 5E cùng với các thiết bị công nghệ, đã tạo được hứng thú cho HS. HS được học tập, được trải nghiệm một cách trọn vẹn, phát triển các kỹ năng, tư duy, tăng khả năng tương tác (Trần Thị Thu Phương, 2022). Ceyhan Ọigdemoglu (2012) đã có bài nghiên cứu về ảnh hưởng của mồ hình dạy học 5E với kết quả học tập và thái độ của học tập của HS trong môn Hoá học.
Tác giả đã tố chức dạy học theo các bước của mô hình 5E dựa theo mục tiêu dạy học chủ 7 đê “Phản ứng hoá học và khái niệm năng lượng”. Kêt quả đã cho thây sự khác biệt giữa nhóm thử nghiệm và nhóm đối chứng. Nhóm thử nghiệm được học tập theo mô hình 5E, HS được tiếp cận kiến thức một cách chù động, linh hoạt và có khả năng vận dụng kiến thức tốt. Đồng thời, phát triển tốt các kỹ năng mềm cho HS, HS được thực hành và trải nghiệm các kiến thức đó (Tạp chí Khoa học giáo dục trường Đại học cần Thơ, 2020).
Không chỉ vậy, trong thời đại ngày càng phát triển, trên nền tảng công nghệ số, việc vận dụng mô hình dạy học 5E còn thúc đẩy khả năng lập luận, tạo cơ hội để kết nối vấn đề thực tiễn và các khái niệm khoa học của HS (Siwawetkull & Koraneekij, 2020). Tại Thái Lan, năm 2020, Siwawetkull và Koraneekij đã được bước đầu thử nghiệm mô hình dạy học 5E cho 30 HS Tiểu học và ghi nhận được khả năng tư duy, suy luận tích cực cùa HS tiểu học. HS được tăng khả năng hiệu quả làm việc nhóm, các kiến thức được tiếp cận một cách đa chiều, với nhiều hoạt động học tập và các hình thức kiểm tra đánh giá đa dạng (Tạp chí Khoa học trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, 2021).
Trên thế giới đã áp dụng mô hình 5E từ rất sớm, góp phần giúp học sinh chủ động trong việc nắm bắt kiến thức. Bên cạnh đó, tăng cường kỹ năng, phát triển nhừng năng lực cho HS, đặc biệt trong việc tìm hiểu tự nhiên, HS có cái nhìn tổng quát, có chiều sâu hơn khi được trải nghiệm học tập qua mô hình 5E. Ỏ Việt Nam Mô hình 5E đã mang lại tính hiệu quả và ứng dụng lớn đối với các môn học, là sự đổi mới hình thức, phương pháp học tập, kéo theo chính là đồi mới tư duy, tăng khả năng linh hoạt, phát triến các kỹ năng cho HS. Tại Việt Nam, cũng đã có rất nhiều các bài nghiên cứu tính khả thi cùa mô hình dạy học 5E đối với việc PTNL cho HS.
Theo quan điểm dạy học mới, lấy người học làm trung tâm, việc áp dụng mô hình 5E hoàn toàn cho ta thấy được tính hiệu quả rồ rệt. 8 Nguyễn Thị Phương Lan (2019), Phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên của học sinh thông qua sử dụng hệ thống bài tập thực tiễn chương “Mắt và các dụng cụ quang học” Vật lý 11 THPT, Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý. Tác giả đà có những nghiên cứu trong việc sử sử dụng các mô hình hình, phương pháp dạy học tích cực để PTNL tìm hiếu tự nhiên cho HS khối 11, HS được học tập một cách chù động, có tính hiệu quả, sáng tạo trong việc tiếp cận kiến thức, tăng sự tư duy linh hoạt và nhạy bén. Nguyễn Hoàng Huy, Phạm Đồng Châu Thuỷ (2020), Thiết kế sử dụng các thí nghiệm cho câu lạc bộ Hoá học nhằm phát triển năng lực tìm hiếu tự nhiên cho học sinh lớp 10), Tạp chí khoa học giáo dục trường Đại học Sư phạm TP.
Hồ Chí Minh, tập 17, số 11 (2020) đã chỉ ra rằng năng lực tìm hiểu tự nhiên là một năng lực đặc thù, với các hình thức dạy học phong phú, đa dạng, đưa lý thuyết gắn liền với thực nghiệm, thực tế. Các hoạt động thực hành không chỉ tăng hứng thú học tập cho HS, mà đó còn giúp cho việc tiếp cận kiến thức của HS được dễ dàng hơn. Các nghiên cứu về website học tập Với sự phát triển không ngừng của xã hội, việc ứng dụng Internet trong dạy và học luôn được ưu tiên hàng đầu, bởi sự tiện ích, HS có thế dễ dàng tra cứu được các thông tin, với nguồn học liệu phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, song song với sự tiện lợi đó, việc chọn lọc, xử lý thông tin trên các website lại là điều vô cùng cần thiết, bởi có rất nhiều nguồn thông tin khồng chính thống, không đáng tin cậy.
Chính vì vậy, HS có thể sẽ có rất nhiều nguồn cung cấp, dẫn đến thừa thông tin nhưng lại thiếu kiến thức. Và thực tế, cũng đã có những website cần trả phí đề phục vụ cho việc học tập, tính chọn lọc cao hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tìm kiếm thông tin của người học. Cũng đã có nhiều khoá luận và luận văn tốt nghiệp nghiên cứu về việc thiết kế và sử dụng website học tập, cụ the: 1. Mai Hoàng Phương (2007), Thiết kế và sử dụng Website trong dạy học phần “Dao động điện - dòng điện xoay chiều, dao động điện từ - sóng điện từ” lớp 12 THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh.
Luận văn Thạc sĩ Giáo 9 dục học chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học môn Vật lý, Đại học Sư phạm, TP. Hồ Chí Minh. Thái Hoài Minh (2008), Thiết kế Website hỗ trợ việc kiểm tra đánh giá môn Hoá học lớp 10 THPT (Chương trình nâng cao). Luận văn Thạc sĩ Giáo dục, chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học môn Hoá học, Đại học Sư phạm - TP.
Hồ Chí Minh. Nguyễn Thị Ngọc Xuân (2008), Thiết kế Website về phương pháp giải nhanh các bài tập trắc nghiệm khách quan Hoá học vô cở ở trường THPT. Luận văn Thạc sĩ Giáo dục, chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học môn Hoá học, Đại học Sư phạm - TP. Hồ Chí Minh.
Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2010). Xây dựng Website nhằm tăng cường tính tự học cho học sinh giỏi Hoá lớp 11. Luận văn thạc sĩ Giáo dục, chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học môn Hoá học, Đại học Sư phạm - TP. Hồ Chí Minh.
Vương Thị Thu Trà (2016), Xây dựng Website học trực tuyến để tổ chức học tập theo mô hình học tập đảo ngược Chương II - “Cấu trúc của tế bào”, Sinh học 10 THPT. Các bài thiết kế đều đưa ra các cơ sở lý luận về website, tính ứng dụng khi thiết kế các website, nâng cao hiệu quả năng lực tự học, chủ động trong việc tìm kiến thức. Tuy nhiên, các bài nghiên cứu mới chỉ ra được việc xây dựng website nhằm nâng cao năng lực tự học, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và việc học tập trực tuyến của HS, chưa khai thác được năng lực tìm hiểu tự nhiên, việc áp dụng vào dạy và học sao cho hiệu quả, hợp lý. Tổng quan về năng lực tìm hiểu tự nhiên 1.
Khái niệm Năng lực tìm hiểu tự nhiên là một trong ba năng lực đặc thù của môn Khoa học tự nhiên. Đây cũng là một năng lực hồ trợ học sinh phát triền đầy đủ và toàn diện hơn trong quá trình tiếp cận với kiến thức chuyên môn. Với đặc điềm như vậy, năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên được coi là nền tảng giúp HS tiếp cận với kiến thức một cách dề 10 dàng hơn, HS được chủ động học tập, chủ động tìm hiểu kiến thức, từ đó đưa ra nhừng nhận định của bản thân về vấn đề liên quan đến tự nhiên. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, NL tìm hiểu tự nhiên được thể hiện qua kỹ năng, khả năng quan sát, thu thập, phân tích, xử lý thông tin.
Từ đó giải thích, đưa ra dự đoán được kết quả nghiên cứu một số sự vật, hiện tượng trong đời sống (Nguyễn Thanh Tú, 2021). Theo tác giả Nguyễn Hoàng Huy, NL tìm hiểu tự nhiên là khả năng HS tự chủ động tìm hiểu, thực hiện được một số kĩ năng cơ bản như đặt câu hỏi, nêu dự đoán, đặt ra các giả thuyết có liên quan đến nội dung nghiên cứu; thiết kế và thực hiện thí nghiệm kiểm chứng, xây dựng mô hình nghiên cứu hoặc thiết kế mô phỏng, thu thập thông tin (nghiên cứu tài liệu, điều tra, khảo sát, phỏng vấn.) và xử lí các thông tin. với thái độ tích cực chủ động đế làm sáng tỏ một vấn đề nào đó trong tự nhiên. Các vấn đề đó có thể là những kiến thức HS chưa biết hoặc đã biết nhưng chưa hiểu rõ, có thể là những thông tin về một sự vật, sự việc, hiện tượng trong tự nhiên hoặc quy luật và liên hệ giữa các sự vật, sự việc, hiện tượng trong tự nhiên (Nguyễn Hoàng Huy và Phan Đồng Châu Thuỷ, 2020).
Trong luận văn này, tôi quan niệm, NL tìm hiếu tự nhiên là một năng lực chuyên biệt đặc thù, là kỹ năng cơ bản người học cần có để tìm hiểu về những kiến thức liên quan đến tự nhiên. NL tìm hiểu thế giới tự nhiên giúp HS đưa kiến thức đến gần hơn với thực tiễn, HS chù động thu thập, tìm kiếm thồng tin, từ đó đưa ra được các dự đoán, giải thích được kết quả sau khi nghiên cứu về các sự vật, hiện tượng có liên quan đến nội dung bài học hoặc trong đời sống.