Chương 1. Co sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Thiết kế và sử dụng các BTNCTH theo định hướng phát triển 'NLGQV trong dạy học phần Sinh vật và môi trưởng, Sinh hoc 9. Thực nghiệm sư phạm.
NHUNG DONG GOP MOI CUA DE TAL - Xác định quy tình thiết kế các BTNCTH theo định hướng phát triển 'NLGQVD trong day hoe phần Sinh vật và môi trường, Sinh học 9. - Hệ thống các BTNCTH định hướng phát triển NIGQVP trong day học phần Sinh vật và môi trường, Sinh học 9. - Xác định quy trình sử dụng các BTNCTH theo định hướng phát triển 'NLGQVĐ trong day học phần Sinh vật và mỗi trường, Sinh học 9 - Hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ phát triển NLGQVĐ của HS. LƯỢC SỬ VẤN ĐÈ NGHIÊN CỨU.
Trên thể giới 0.1 Về dạy học phát triển năng lực "Những nghiên cứu về dạy học phát triển NH. được bắt đầu ở Anh từ năm 1920, với việc hình thành những “Nhà trường mới”, trong đó đề ra mục tiêu chính là phát triển NL tri tuệ của HS. Đặc biệt là các biện pháp tổ chức hoạt động học tập do chỉnh HS tự lực, tự quản trong học tập. Đây là xu hướng đã nhanh chóng ảnh hướng sang Mỹ và một số nước châu Âu Sau chiến tranh th giới thứ ai, ở Pháp cũng đã đồi những "lớp học mới”.
Ở một số trường trung học thí điểm, mọi hoạt động đều tùy thuộc vào sing kiến hưng thú, „ nhu cầu của HS, GV chỉ là người giáp đỡ, phối hợp các hoạt động của HS, hướng HS vào sự phát iển nhân cách. Định hướng giáo đục 10 năm của Pháp (1989) nghỉ rõ: *Về nguyên tắc, mọi hoạt động giáo dục đều phải lá: MS làm trung tâm”, 'Vo nữa sau của những năm 1950, ở một số nước XHCN trước đây như: Liên Xô, CHDC Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan.đã có một số nhà nghiên cứu giáo dục nhận thấy cần thiết phái tích cục hóa quá trình day học. Nỗi bậc là: B.A Crupxkaia (Liên Xô); NM veezilin và V.M coocxunxeaia (Nga) [H3], Mô hình tiếp cận sản phẩm đầu ra được các nhà nghiên cứu và thực hành trên thế giới ủng hộ rất nhiễu mã ngày nay được goi là chương trình định hướng kết quả đầu ra. Vì vậy, NL là một tập hợp các kiến thức, thái độ và kĩ năng hoặc cách chiến lược từ duy mà tập hợp này là St Idi va quan trọng cho việc tạo ra những sản phim đầu ra quan trọng (McLagan,1989).
Paprock (1996) tổng kết các lý thuyết về các tiếp cân dựa trên NL trong giáo. ‘duc, dio tao và phát triển, đã chỉ ra năm đặc tính cơ bản và ưu điểm của chương trình tiếp cận dựa trên NL. Ông cho rằng những đặc tính và ưu điểm của tiếp cận đào tạo theo NL. các mô hình NL và những NL.
được xác định đã và đang được xây dựng, phát triển và sử dụng như là những công cụ cho việc phát triển của rắt nhiều chương trình giáo dục, đào tạo khác nhau trên toàn thể gi San năm 2000, các nước cổ sự xem xét, cải tổ chương trình giáo đục đền theo định hướng tiếp cận dựa trên NL. Tuy nhiên không phải quốc gia nào cũng tuyên bố 446 là chương trình tiếp cận NL. Một số nước như Úc, Canada, New Zealand, Pháp,. tuyên bố chương trình thiết kế theo NL và nêu rõ các NL.
Indonesia (2006) tuyên bổ chương trình thiết kế theo NL. nhưng không nêu hệ thống NL. mà chỉ nêu chuẩn cụ thể cho chương trình theo hướng này. Một số nước khác như Hàn Quốc, Phin Lan,.
không tuyên bổ chương trình thiết kế theo NL nhưng thực chất chương trình vẫn được thiết kế dựa trên cơ sở NL [13] Một trong những quan điểm dạy học phát triển NL của HS, đặc biệt là NLGQVD dé li dạy học GQVĐ. Năm 1909, nhà giáo dục học nỗi tiếng H.J Dewey 10 lần đầu tiên đưa ra quan điểm day học GQVĐ. Ông chỉ m quy tình suy nghĩ vận động của HS để làm rõ vẫn đề nhận thức.Gefzes đã nghiên cứu và hoàn chỉnh về dạy học nêu “Các tác giả đó cho rằng dạy học nêu vất có hiệu quả trong việc tạo cho HS khả năng làm việc độc lập trong giờ học, nhưng các tác giả đó chưa đề cập tới lý thuyết của dạy học nêu vấn đề [13] Năm 1968, W, Ôkôn - nhà giáo dục học Ba Lan đã hoàn thành một công trình 'khá hoàn chỉnh vé day học GQVD. Đó là cuốn "Những cơ sở của dạy học nêu vấn đề *.
Tác giả đã trình bày tương đối đầy đủ về cơ sở lý luận và quy trình tạo tỉnh huống có vẫn đề trong dạy học [32] 'Vào những năm 70 của thế kỹ trước, các nhà giáo dục Nga như A.Rupnicova (ngôn ngữ) và nhà hoá học người Anh - Amstrongđä đề xuất phương pháp tìm tồi oritxtic trong dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của HS trong quá trình nhận thức.Trong lĩnh vực lý luận đạy học sinh học, cá vấn đề: hoạt động độc ip cla HS trong dạy học; phát triển tính tích cue nhận thức của HS trong dạy học đã là các hướng nghiền cứu chính đã được nhiều nhà sư phạm Liên xô (cũ) rắt quan tâm và đã đem lại nhiều cổng hiển. giá tr lớn soi sing chung cho bô môn khoa học này. Có thé ké đến các tác giả L.Brovkina, LDZverev, NM.Bru-nov, MM.Skatkin (1970) đã thông báo về thành tựu khoa học của ông (và đồng nghiệp) là tìm ra con đường nâng cao hoạt đông nhận thức độc lập và sắng tạo cho HS khi sử dụng mọi hình thức dạy học đa dạng như dùng lời, quan sát và thực hành, tử đố đưa ra nhiều khuyến nghị cho GV áp dụng day học nêu vấn đề vào hoạt động day hoe tai trường phổ thông.Skatkin đã đưa ra ba mức độ áp dụng dạy học nêu vấn đề đối với HS tuỷ theo lứa tuổi, trình độ kĩ năng tiếp cận lối dạy học nây mã các cem được tập dượt dưới sự hướng dẫn từng bước của GV, Mức độ thứ nhất: GV diễn đạt tải liệu học tập theo tình huống có vấn đề. Mức độ thứ hai: GV dẫn dắt HS tiếp nhận tài liệu học tập theo tình huồng vấn để kiểu "ìm tồi bộ phận”.
Mức độ thứ ba: cđựa vào xúc cảm cao của người học có tác dung tập đượt từ duy khoa học cho HS, 'GV dẫn dắt tổ chức hoạt đông nhận thức HS để các em đặt ra được tỉnh huồng có vẫn đề rồi tự mình giải quyết tức à mức độ “ìm tôi khoa học” I3] " ‘Nam 1977, Leone đã công bố công trình day học nêu vấn đề. Ông đã đề cập «én day học phát hiện và GQVĐở mức độ cao, trong đó chú trong NL. nhận thức tự 'GQVĐ của HS, tuy nhiên quy trình dạy học có đến 8 bước, rất khó áp dụng trong thực tiễn dạy học [1].2 Vé nghién cứu trường hợp Ap dung NCTH trong dạy học ở đại học có những nghiên cứu phương pháp luận, lịch sử và lí luận công phu về nghiên cứu trường hợp (Case Study) trong khoa. học của Dul, J.
cho théy NCTH là phương pháp khoa học có lịch sử lâu đời, bắt nguồn từ nghiên cứu ý học. Su đó, phương pháp này được sử dụng trong nghiền cứu sinh học, khoa học quản lí, khoa học kinh tế, khoa học lịch sử, tâm lí học, xã hội học, khoa học giáo dục v. han trong giáo dục so sánh, người ta phân tích vẫn đề dio tao GV ở 3 trường hợp là Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia [41] PP NCTH được sử dụng đểdạy học lần đầu tiên tại Đại học kinh doanh Havard do Christopher Columbus Langdell (1871) là người khởi xướng khi dạy luật kinh doanh. Từ 1919, 6 Dai hoe Western Ontario (Canada), W.
Sherwood Fox va KP. Neville là những người đầu tiên giảng dạy kinh doanh theo PP NCTH của Đại học Havard bên ngoài Hoa Kỳ [23] “Theo Từ điển Tiếng Anh cha Bai hoc Oxford, eum tir“case study” hay "case- study” xuất hiện lần đầu vào năm 1934, sau sự ra đời của khái niệm trường hợp (ca bệnh) trong trị liệu y khoa. Khi NCTH đi vào giáo dục, đ tiên nó vẫn là phương pháp nghiên cứu giáo dục, đặc biệt trong nghiên cứu giáo duc so sinh (Comparative Study of Education), nghién edu tim li hoe giáo dục và tâm lí học phát triển theo lứa D3], nghiên cứu quản lí giáo dục và kinh tế học giáo dục (tổng kết kinh nghiệm qua các mô hình trường học, mô hình đào tạo, mô hình phát triển GV, mô hình chính sách giáo dụe.), nghiên cửu các mô hình tư vin học đường và nhiều vẫn đề khác trong giáo dục và phát triển giáo dục. Ban đầu, NCTH chỉ được ứng dụng như một chiến lược hay kiểu dạy học va dito tao 6 dai hoc.
Dai hoc Harvard la nơï chính thức đi tiên phong trong lĩnh vực này. Nhà trường đã sử dụng có bệ thống NCTH trong dạy học từ năm 1985, lầu tiên là trong ngành quản trị kính doanh. Họ sớm nhận ra rằng không có giáo trình nào phù hợp cho đào tạo ngành quản trị kính doanh bằng cách học kinh nghiệm của các doanh nhân được tổng kết lại trong các trường hop (Cases). 12 Cuối thế ki 20, NCTH trở nên phổ biến trong đào tạo đại học trên khắp thể giới nhất ở Mĩ, Canada, Anh, các nước Bắc Âu, Austlia, Đức, Pháp, Nhật Bản, Singapore.
Từ thời lễm này NCTH mới đi vào trường phổ thông với tư cách chiến lược hay kiểu tổ chức day học, những vẫn còn hạn chế ở rắt í lĩnh vực học tập. Tuy nhiên hiện nay, NCTH đã phổ biến trong day học ở trường phổ thông nhiều nước, đặc biệt ở Hoa Ki, Canada, Anh, Australia. NCTH thường kết hợp với chiến lược dạy học dựa vào vấn đề tuy ching không đồng nhất với nhau [23] 102.1 Về dạy học giải quyết vẫn đề 'Từ những năm 60 cia thé ky XX, Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về dạy học nêu vấn để nhằm nâng cao chất lượng dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS. Trong dạy học hoá học, giáo sư Nguyễn Ngọc Quang là người đã có nhiều nghiên cứu vận dụng dạy học GQVĐ.
Sau đó, cổ các tắc giả: Nguyễn Cương, Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Đình Am, Dương Tắt Tốn “Trong dạy học sinh học, Giáo sư Trần Bá Hoành là người sớm có những nghiên cứu về mặt lý luận và vận dụng thành công dạy học GQVĐ. Bên cạnh đó, các tác giả "Nguyễn Quang Vinh, Trần Doãn Bách đã vận dung day học GQVD vào một sé bai day cu th. Ngoài ra còn có những đóng góp quan trọng của Đỉnh Quang Báo, Vũ Đức Lưu, Lê Đình Trung vào việc phát tin ứng dụng dạy hoc GQVD trong day học sinh hoc.