CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP HAI THÔNG QUA TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI 1. Lý luận chung về việc phát triển năng lực sáng tạo 1. Khái niệm năng lực sáng tạo a) Khái niệm về năng lực Năng lực là một vấn đề được nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm với nhiều cách tiếp cận khác nhau.Côvaliôp cho rằng: “Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu lao động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao”.[1] Theo Xavier Roegiers: “Năng lực là sự tích hợp các kỹ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loạt tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do tình huống này đặt ra”. Tóm lại, chúng ta có thể hiểu: Năng lực là hệ thống những thuộc tính của cá nhân con người, phù hợp với yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả cao.
Vậy chúng ta có thể hiểu: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. 12 b) Khái niệm về sáng tạo Có nhiều quan niệm khác nhau về sáng tạo như: Tác giả Lê Huy Hoàng trong cuốn “Sáng tạo và những điều kiện chủ yếu để kích thích sự sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay”, cũng nhận định: “Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người, trên cơ sở nhận thức được các quy luật của thế giới khách quan, tạo nên những giá trị tinh thần và vật chất mới về chất, đáp ứng các nhu cầu đa dạng của xã hội”. Sáng tạo là quá trình từ ý tưởng đến sản phẩm sáng tạo, đòi hỏi sự chuẩn bị, suy nghĩ và khả năng kích hoạt toàn bộ tinh thần và thể chất của người sáng tạo.
Đây là một hoạt động cao cấp của con người, mang tính mới mẻ và đa dạng để đáp ứng các nhu cầu càng ngày càng phong phú của xã hội. Sáng tạo yêu cầu nhận thức được các quy luật của thế giới khách quan và tạo ra giá trị mới về nội dung. Nó không đơn thuần là việc tìm ra mà là khởi nguồn cho những ý tưởng mới. [15] Trong cuốn “Khơi dậy tiềm năng sáng tạo” các tác giả cho rằng: “sáng tạo (creation) là tạo ra giá trị mới.
sáng tạo còn có nghĩa là tìm ra cái mớ cách giải quyết mới, không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có sẵn”. Sáng tạo ra giá trị mới như tạo ra chữ viết, nhà văn sáng tạo ra những điển hình văn học. viết lại đoạn này để tránh đạo văn [25] Tác giả Nguyễn Huy Tú cho rằng “Sáng tạo là một thuộc tỉnh tâm lý đặc biệt, thế hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề. Thuộc tính này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó, con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội.
Ở đó, người sáng tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền thống để đưa ra giải pháp mới, độc đảo và thích hợp cho vẫn để được đặt ra”. [26] Hay trong từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Sáng tạo là tìm ra cái mới, giải quyết cái mới, không gò bó, phụ thuộc vào cái đã có”.Vưgôtxki ông gọi hoạt động sáng tạo “là bất cứ hoạt động nào của con người tạo ra được cái gì mới, không kế rằng cái được tạo ra ấy là một vật cụ 13 thể hoặc là sản phẩm của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ trong bản thân con người”.[21] Như vậy có thể thấy, mỗi nhà tâm lý học lại có quan điểm khác nhau về sáng tạo, mỗi tác giả nhận định và nghiên cứu ở một khía cạnh khác nhau song không vì thế mà quan điểm của các tác giải có tính trái chiều, ngược lại nó còn bố sung cho nhau góp phần hoàn thiện định nghĩa về sáng tạo. Tóm lại, các tác giả đều đồng ý rằng sáng tạo là quá trình tạo ra cái mới và độc đáo, đặc trưng của sự sáng tạo. Đồng thời, họ cũng nhấn mạnh tính ý nghĩa của sản phẩm sáng tạo đối với cá nhân và xã hội.
c) Khái niệm năng lực sáng tạo Các tác giả có quan điểm khác nhau về định nghĩa của năng lực sáng tạo. Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn, năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra cái mới hoặc giải quyết vấn đề bằng cách tiếp cận một cách mới mẻ của con người. Tác giả Trần Việt Dũng có quan niệm rằng năng lực sáng tạo là khả năng của cá nhân để tạo ra những sản phẩm mới và có giá trị, dựa trên tổ hợp các phẩm chất độc đáo của bản thân. Năng lực sáng tạo là khả năng tìm ra cách giải quyết mới và phát hiện những điều chưa biết, chưa tồn tại, tạo ra những thứ mới mẻ và không bị giới hạn bởi các giải pháp đã có sẵn.
Như vậy, năng lực sáng tạo chính là khả năng thực hiện được những điều sáng tạo. Đó là biết làm thành thạo và luôn đổi mới, có những nét độc đáo riêng luôn luôn phù hợp với thực tế. Luôn biết và đề ra những cái mới khi chưa được học, chưa được nghe giảng hay đọc tài liều, hoặc tham quan về việc đó, nhưng vẫn đạt kết quả cao. Dựa trên các khái niệm về năng lực sáng tạo, ta có thể định nghĩa năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 2 như sau: Năng lực sáng tạo của học sinh là khả năng tạo ra những thử thách mới để phát triển tính sáng tạo trong quá trình học bộ môn TN&XH.
Các yếu tố cơ bản của năng lực sáng tạo Dựa trên các thông tin đã được đề cập, ta có thể nhận ra các yếu tố quan trọng để nhận biết năng lực sáng tạo bao gồm những đặc điểm về tâm sinh lí của cá nhân, chẳng hạn như thể lực và trí tuệ. Tuy nhiên, không phải tất cả các yếu tố tâm sinh lí đều góp phần quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm sáng tạo. Có ba thành phần cơ bản trong năng lực sáng tạo là tư duy sáng tạo, động cơ sáng tạo và ý chí. Tổng thể, những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra sản phẩm sáng tạo.
Tư duy sáng tạo: Tư duy sáng tạo là hệ thống các quá trình xử lý thông tin và biến đổi dữ liệu trong não bộ, nhằm tạo ra các ý tưởng và giải pháp cho các vấn đề sáng tạo. Để có một tư duy sáng tạo hiệu quả, cần phải bao gồm 4 yếu tố chính: (1) Thông tin và dữ liệu để phục vụ cho tư duy sáng tạo có thể được khai thác từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm tri thức và kinh nghiệm của chính cá nhân hoặc những người xung quanh. Ngoài ra, khả năng quan sát và nắm bắt đối tượng thông qua các giác quan cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra các ý tưởng và giải pháp sáng tạo. (2) Tư duy sáng tạo thường phát triển từ những tình huống gặp phải vấn đề, và luôn có mục đích xác định.
Do đó, hoạt động của nó mang tính hướng đích và không chỉ là suy nghĩ tự do mà không có định hướng cụ thể. (3) Hệ thống quá trình xử lý thông tin và biến đổi dữ liệu trong não bộ hoạt động trên ba mặt: tự ý thức, tiềm thức và vô thức. Các thành phần quan trọng của hệ thống này bao gồm năng lực tưởng tượng, trực giác và khả năng liên tưởng. Cụ thể: Về năng lực tưởng tượng: Là khả năng không thể thiếu của tư duy sáng tạo.
Tưởng tượng giúp cho con người sáng tạo ra nhiều cái mới, những người có khả năng sáng tạo cao là những người có khả năng tưởng tượng tốt. Trí tưởng tượng vừa thao tác vừa tạo ra dữ liệu cho tư duy. 15 Về trực giác: Khả năng tưởng tượng là một yếu tố không thể thiếu trong tư duy sáng tạo. Nó giúp con người tạo ra những ý tưởng mới và những sản phẩm độc đáo.
Những người có khả năng sáng tạo cao thường có khả năng tưởng tượng vượt trội. Trí tưởng tượng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra dữ liệu để phục vụ cho quá trình tư duy sáng tạo. Về khả năng liên tưởng: Trực giác là một khả năng quan trọng trong việc phát minh khoa học và sáng chế. Nó là kết quả của quá trình xử lý thông tin ở mức độ tiềm thức và vô thức.
Tại mức độ tự ý thức, trực giác biểu hiện dưới dạng “lóe sáng” hoặc sự hiểu biết đột ngột. Tuy nhiên, trực giác không xuất hiện tự nhiên mà chỉ được hình thành sau một quá trình tư duy lâu dài. Động cơ sáng tạo Động cơ sáng tạo là yếu tố thúc đẩy chủ thể hoạt động sáng tạo. Động cơ này bao gồm động cơ nội tại (nhu cầu, cảm xúc và tình cảm của cá nhân, biểu hiện qua mong muốn, cảm hứng, đam mê) và động cơ bên ngoài (ảnh hưởng từ xã hội, bao gồm nhu cầu và tâm lý xã hội).
Mặc dù động cơ nội tại là quan trọng nhất ở cá nhân, tuy nhiên, động cơ bên ngoài có vai trò không nhỏ trong việc ảnh hưởng đến khả năng phát triển năng lực sáng tạo của đa số các cá nhân trong xã hội. Các yếu tố này có thể tạo động lực hoặc cản trở sự phát triển năng lực sáng tạo của con người. Ý chí Ý chí được xem như một yếu tố quan trọng trong quá trình sáng tạo. Nếu động cơ giúp thúc đẩy hành vi sáng tạo và tư duy đảm bảo đưa ra giải pháp cho vấn đề, thì ý chí là yếu tố giúp chủ thể vượt qua khó khăn, trở ngại trong quá trình sáng tạo để đạt được mục tiêu cuối cùng.
Sự kiên trì, can đảm và kiên định là những tiêu chí quan trọng trong hoạt động sáng tạo, để vượt qua các rào cản từ định kiến xã hội, thời gian, tài chính và bản thân cá nhân. Do đó, ý chí là một yếu tố không thể thiếu trong hoạt động sáng tạo của cá nhân. Trình độ sáng tạo của cá nhân được biểu hiện thông qua những sản phẩm sáng tạo mà họ tạo ra.