CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC ÂM NHẠC CHO HỌC SINH LỚP 2 THEO HƯỚNG TRIỂN NĂNG LỰC THẨM MĨ TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Một số khái niệm 1. Dạy học Có nhiều quan niệm khác nhau về cách dạy và học. Theo quan niệm thông thường, dạy và học tương ứng.
Một số người coi dạy học là một nghề nghiệp vì họ cho rằng nó là công việc của giáo viên trên lớp. Ngoài ra, có những người cho rằng chỉ khi cần đến việc dạy mới có việc học, vì vậy quá trình dạy phụ thuộc vào nhu cầu và phương pháp học. Những quan điểm đó nhắc đến vai trò của người dạy, tuy nhiên quan niệm như thế là chưa đủ. Khái niệm về việc dạy, học đã được các nhà tâm lý học sư phạm, các nhà giáo dục học đề cập đến như là những khái niệm xuất phát của tâm lý học sư phạm và giáo dục của nhà trường.
Có quan điểm cho rằng học là quá trình tiếp thu tri thức của nhân loại và mục đích của học là để “đọ đức” như lời dạy của Nguyễn Ngọc Quang - Bản chất của quá trình học – NXB Giáo dục cấp trên – Hà Nội 2000 [18]. Với quan niệm học đó là tương ứng với khái niệm “dạy học là truyền thụ các kiến thức mà nhân loại đã tích luỹ được”. Bên cạnh đó còn có nhiều các quan niệm khác nhau cho quá trình dạy và học. Học là quá trình tự giác chiếm lĩnh kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Các khái niệm này cho thấy rõ ràng rằng việc học không mang lại kết quả nếu chỉ ghi nhớ những gì giáo viên nói trong lớp. Học phải có ý thức tích cực, tự giác và tự lực, nếu không thì quá trình học sẽ không thành công. Do đó, học là một hoạt động có chủ đề cụ thể, với người học là chủ thể và khái niệm khoa học là đối tượng chi phối. 9 Cũng theo Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Dạy học là sự điều khiển tối ưu quá trình học sinh nắm vững nội dung học tập và từ đó phát triển, hình thành nhân cách (năng lực, phẩm chất)” [18].
Nhân cách ở đây được hiểu là tri thức, là kĩ năng và thái độ. Từ những quan niệm khác nhau về dạy và học sẽ đưa tới các khái niệm dạy học. Dạy học là hai phần của một quá trình tương tác luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau và quyết định cho nhau. Mục tiêu của dạy học là giúp học sinh phát huy toàn bộ năng lực của HS, phát triển trí tuệ và hỗ trợ hoàn thiện phẩm chất của HS.
Khái niệm về nội dung dạy học, học tập và dạy là ba thành phần chính của quá trình dạy học. Được coi là một hệ thống toàn diện, các thành phần của nó luôn tương tác với nhau theo các quy luật riêng, trao đổi lẫn nhau và hợp nhất để đạt được sự thống nhất. - Giữa truyền đạt và điều khiển trong quá trình dạy. - Giữa dạy và học.
- Giữa lĩnh hội và quá trình tự điều khiển trong quá trình học. Quá trình dạy học là một hoạt động cộng đồng, sự phối kết hợp giữa các chủ thể: thầy - trò, thầy - nhóm trò, trò - trò trong nhóm. Sự tương tác theo kiểu này gọi là cộng đồng hợp tác giữa dạy và học. Dạy tốt, học tốt cần đảm bảo tính thống nhất nêu trong hoạt động hợp tác.
Đó là sự thống nhất của điều khiển, tự điểu khiển và bị điều khiển. Truyền thống coi trọng chức năng giao tiếp của dạy học và tiếp thu của học tập hơn là chức năng điều khiển của quá trình nhận thức. Ngược lại, quan niệm dạy học đã tập trung vào yếu tố điều khiển sư phạm của người thầy. Điều này liên quan đến vai trò đã thay đổi của người thầy, bao gồm việc đưa ra lời khuyên, hướng dẫn và dạy học sinh cách xử lý thông tin và sử dụng thông tin một cách tích cực và hiệu quả.
Tuy nhiên, để đạt được kết quả như 10 vậy, cần phải coi trọng môi trường hợp tác giữa dạy và học, tức là học sinh cần biết cách quản lý quá trình nhận thức của mình bằng sự tích cực, chủ động và tự lực. Kiến thức, tiếp thu nội dung học tập với sự hỗ trợ của giáo viên. Âm nhạc Âm nhạc là những dòng cảm xúc tuyệt vời dùng âm thanh để diễn đạt cảm xúc và tình cảm của con người một cách có nghệ thuật nhất. Âm nhạc cũng có thể được định nghĩa là sự kết hợp nghệ thuật của âm thanh và là một phần không thể thiếu của cuộc sống.
Chúng ta có thể hiểu theo một cách khác, âm nhạc có thể giúp con người biết thể hiện yêu thương, chia sẻ và cảm thông với nhau. Âm nhạc, âm thanh tồn tại trong cuộc sống, đã được con người diễn đạt thành nghệ thuật âm thanh, tạo thành hình thức âm nhạc chân thực và hấp dẫn nhất. Âm nhạc được coi là một loại nghệ thuật sử dụng âm thanh để mô tả những gì con người cảm thấy và nghĩ về. Theo Nhạc viện Traikovskiy: Âm nhạc là những âm thanh của cuộc sống do những người am hiểu âm nhạc sưu tầm, sắp xếp theo một logic có cao độ, trường độ, tiết tấu theo ý chủ quan của tác giả để người nghe nghe được.
Cũng theo đó, âm nhạc được chia ra thành các dòng, các trường phái, các thể loại, các nhóm… để phục vụ các đối tượng tương ứng. Âm nhạc không chỉ dành cho những người giỏi, mà còn dành cho tất cả mọi người, vì nó bồi dưỡng tâm hồn và tô điểm cuộc sống. Hay là nỗi lòng của người chơi gửi gắm vào bản nhạc, sự chia sẻ cho người nghe, và là sự đồng cảm của người nghe cảm thụ những chia sẻ của người chơi. Mặt khác, hiểu biết phổ biến nhất là âm nhạc là một loại nghệ thuật sử dụng âm thanh, hoặc chất giọng, để diễn đạt tình cảm và xúc cảm của con người.
Thanh nhạc và khí nhạc là hai loại âm nhạc. Khí nhạc là âm 11 thanh thuần túy của các nhạc cụ, mang lại cảm giác trừu tượng, sâu lắng và liên tưởng. Thanh nhạc là những bài hát mà người thể hiện thể hiện tâm tư và cảm xúc của họ. Năng lực Theo Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier (2010) - Dự án phát triển giáo dục Trung học phổ thông, Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường Trung học phổ thông, Berlin - Hà Nội.
Nxb Giáo dục, Hà Nội[7], “Năng lực là tập hợp hoặc tổ hợp các đặc điểm cá nhân của một người đáp ứng yêu cầu của công việc và bảo đảm cho công việc đó đạt được kết quả cao”.Năng lực mang tính cá nhân của mỗi người. Nó giúp mỗi cá nhân hoàn thành một số công việc nhất định mà những cá nhân khác không thể nào hoàn thành được trong một điều kiện cụ thể. Hay có thể hiểu, năng lực là nhóm các hoạt động ở cả 2 lĩnh vực vật chất và tinh thần được một cá nhân thực hiện một cách tự giác và cho ra kết quả phù hợp với trình độ và phản ánh tính cách (tâm lý, sinh lý) của cá nhân đó một cách rõ nét. Theo Harold Knoontz và Cyril Odonnell và Heinz Weirich, năng lực là thuộc tính tâm lý của một người giúp họ dễ dàng tiếp thu một lĩnh vực kiến thức hoặc hoạt động nào đó và thực hiện hoạt động trong lĩnh vực đó để đạt được kết quả cao.
Năng lực, theo Trần Kiểm và Nguyễn Xuân Thục, là những đặc điểm tâm lý của một người thể hiện những điều kiện chủ quan để thực hiện một loại hoạt động cụ thể một cách hiệu quả. Năng lực có quan hệ với kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ hành vi. Năng lực của mỗi người được thể hiện trong đời sống thực tiễn ở tốc độ nhanh chậm, ở độ nông sâu, ở độ ổn định bền 12 vững, ở tính đa dạng phong phú, ở tính độc đáo đặc biệt và ở giới hạn ảnh tác động hưởng của hoạt động. Đỗ Hương Trà, Dạy học theo tiếp cận liên môn với việc bồi dưỡng năng lực cho học sinh [25].
“Năng lực là những khả năng thực hiện có trách nhiệm và đạt hiệu quả trong các hành động, từ đó giải quyết các nhiệm vụ, các vấn đề trong những tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, cuộc sống xã hội hay cá nhân trên những hiểu biết, trong các kỹ năng, kỹ xảo và các kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”. Qua các khái niệm trên có thể hiểu ngắn gọn: Năng lực là khả năng vận dụng kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và sở thích của một cá nhân để hành động phù hợp và hiệu quả trong các tình huống khác nhau của cuộc sống. Năng lực học sinh Năng lực học tập được xác định là một cấu trúc năng động, đa thành phần, đa cấp độ, không chỉ bao gồm kiến thức và kỹ năng mà còn bao gồm cả trách nhiệm và niềm tin xã hội. Năng lực học sinh được thể hiện học sinh về khả năng sẵn sàng tham gia các hoạt động thực tiễn trong quá trình học tập, và học sinh dễ dàng thích nghi với môi trường thực tiễn đang đổi mới nhanh chóng.
Thuật ngữ năng lực học sinh cũng được các tác giả xem xét và tổng kết với những điểm giống và khác nhau. Các tác giả Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán, Phương pháp dạy học tiếng Việt [1] cho rằng “Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ. thích hợp với từng lứa tuổi và kết nối với chúng một cách hợp lý để thực hiện thành công các nhiệm vụ học tập và giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho các em trong cuộc sống”. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Chương trình giáo dục phổ thông môn Âm nhạc, Ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT- BGDĐT ngày 13 26 tháng 12 năm 2018, Bộ giáo dục và đào tạo (2018) [24] , năng lực học sinh được chia thành 2 loại: năng lực chung và năng lực chuyên biệt.
(1) Năng lực chung có thể hiểu là những năng lực cơ bản nhất, cần thiết, cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong lao động nghề nghiệp và trong cuộc sống. (2) Năng lực chuyên biệt là những năng lực phát triển theo hướng chuyên sâu, riêng biệt ở mỗi cá nhân học sinh ở các loại hoạt động, các loại công việc hoặc các hoàn cảnh, điều kiện đặc biệt, đáp ứng yêu cầu giới hạn của một hoạt động, một môn học, ví dụ: môn Toán, môn Âm nhạc, môn Thể dục, môn Địa lý, Tiếng Anh.