phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn có cấu trúc gồm 2 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn - Chƣơng 2: Dạy học Hát Then cho hệ Cao đẳng Giáo dục Tiểu học. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm, thuật ngữ 1. Dân ca Dân ca là một thể loại âm nhạc cổ truyền, mang đặc trƣng của mỗi vùng miền, mỗi dân tộc.
Bởi thế mà cũng có rất nhiều cách hiểu hay định nghĩa về dân ca. Trên thế giới, ngƣời Đức gọi dân ca là volkslide (tạm dịch là bài ca của nhân dân), ngƣời Pháp dùng hai nhóm từ: chanson populaire (tạm dịch là bài ca phổ cập trong quần chúng) hay chanson folklorique (tạm dịch là bài ca mang tính nhân dân), ngƣời Anh gọi dân ca là folk song theo nghĩa nhƣ chanson folkorique, ngƣời Ý cuối thế kỷ XX lại dùng từ etnofonia (tạm dịch là bài ca mang tính dân tộc hay sắc tộc) để gọi dân ca [47]. Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu đã đề cập về dân ca nhƣ: Trong tập Tìm hiểu dân ca i t Nam của nhạc sĩ Phạm Phúc Minh có nói: “Dân ca là những làn điệu, bài hát truyền thống đƣợc lƣu truyền trong dân gian từng vùng, từng dân tộc” [19, tr. Theo đó, ông cũng khẳng định thêm: “Dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác, đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác và đƣợc nhân dân ca hát theo phong tục tập quán của từng địa phƣơng, từng dân tộc” [19, tr.
Theo nhận định của tác giả Lê Hồng Anh trong bài viết Khái quát chung v dân ca i t Nam thì: “Dân ca Việt Nam là một thể loại âm nhạc cổ truyền, qua việc truyền khẩu, truyền ngón các bài dân ca, mỗi ngƣời diễn xƣớng có quyền ứng tác tự do, góp phần sáng tạo của mình vào tác phẩm trong quá trình biểu diễn. Do vậy, họ gần nhƣ là “đồng tác giả” với những ngƣời sáng tác mà ngƣời sáng tác ban đầu không rõ là ai” [45, tr. Nhƣ vậy, từ những cách gọi và nhận định trên cho thấy sự tƣơng đồng khi nói về dân ca. Đó là những bài ca của nhân dân, do nhân dân sáng tác và 10 lƣu truyền.
Mỗi bài dân ca đều mang màu sắc, cốt cách và bản sắc riêng của mỗi địa phƣơng, mỗi dân tộc, tùy thuộc vào ngôn ngữ, giọng nói, đặc trƣng của từng vùng mà khác đi đôi chút. Nói nhƣ tác giả Hà Thị Hoa trong cuốn Nhập môn Âm nhạc cổ truy n thì: “Dân ca chính là những hạt ngọc, đƣợc chắt lọc tinh tế, k lƣỡng từ bao thế hệ mà thành” [8, tr. Để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu, chúng tôi đƣa ra khái niệm về dân ca nhƣ sau: Dân ca là những bài hát, khúc ca đƣợc sáng tác và lƣu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào. Các bài hát đƣợc truyền miệng qua nhiều ngƣời, từ đời này qua đời khác và đƣợc phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc Các bài dân ca đƣợc chọn lọc qua nhiều năm tháng và tồn tại cùng với thời gian.
Dạy học Dạy học là quá trình diễn ra hoạt động song song giữa ngƣời dạy và ngƣời học. Ngƣời dạy có vai trò định hƣớng, tổ chức, điều khiển giúp cho ngƣời học tự chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, tình cảm, thái độ. Ngƣợc lại, ngƣời học có nhiệm vụ tiếp thu, lĩnh hội những thông tin, tri thức một cách độc lập, sáng tạo, từ đó tự hình thành k năng, k xảo, hình thành tình cảm và thái độ đúng đắn. Có thể thấy, vai trò của ngƣời dạy không chỉ là truyền thụ kiến thức, thông tin đơn thuần mà giúp ngƣời học tự tìm kiếm tri thức, thay đổi tình cảm và hình thành thái độ.
Mục tiêu của dạy học là giúp ngƣời học nhận thức rõ đƣợc những gì mà họ muốn học. Bởi vậy, dạy học là con đƣờng tối ƣu nhất giúp con ngƣời tiếp cận, nắm vững những tri thức và kinh nghiệm xã hội, “dạy học là dạy để nâng cao trình độ văn hóa và phẩm chất đạo đức, theo chƣơng trình nhất định” [30, tr. Có thể nói, Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hƣớng giúp ngƣời học từng bƣớc có năng lực tƣ duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, cách hiểu 11 biết, các k năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt đƣợc để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết đƣợc các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi ngƣời học. Âm nhạc “Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật dùng âm thanh để diễn đạt.
Các yếu tố chính của nó là cao độ (điều chỉnh giai điệu), nhịp điệu (và các khái niệm liên quan của nó: tempo, tốc độ), âm điệu, và những phẩm chất âm thanh của âm sắc và kết cấu bản nhạc” [46]. Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật sử dụng âm thanh làm phƣơng tiện để phản ánh hiện thực cuộc sống. Bằng sức biểu cảm vô cùng lớn lao của những hình tƣợng âm thanh, âm nhạc có khả năng phản ánh một cách sâu sắc, tinh tế cuộc đấu tranh sinh tồn, những tình cảm suy tƣ thầm kín, những ƣớc mơ, khát vọng, ý chí, niềm tin. giúp con ngƣời vƣợt qua mọi thiên tai, địch họa, vững bƣớc xây đời, phấn đấu để đạt đƣợc những ƣớc mơ cao đẹp trong cuộc sống.
Không thể phủ nhận rằng, âm nhạc có vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống tinh thần của con ngƣời. Trong giáo dục, âm nhạc góp phần hoàn thiện năng lực về thẩm m , đạo đức, trí tuệ, thể lực cho học sinh thông qua các bài học trên lớp, các hoạt động ngoại khóa hay những chƣơng trình văn nghệ từ đó giúp các em dần hoàn thiện nhân cách và phát triển toàn diện tƣ duy sáng tạo. Nhìn chung, Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật phản ánh cuộc sống bằng hình tƣợng, âm thanh, âm nhạc tác động quá trình thính giác và diễn ra trong thời gian, nhằm biểu hiện nội tâm của con ngƣời. Việc dạy học âm nhạc, đặc biệt là âm nhạc dân gian địa phƣơng cho các em ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trƣờng là cần thiết nhằm giúp các em có những nhận thức đúng đắn và biết quý trọng những tinh hoa văn hóa của dân tộc.
Phương pháp dạy học âm nhạc - Phƣơng pháp dạy học: Có nhiều quan niệm khác nhau về phƣơng pháp dạy học, có quan niệm cho rằng: “Phƣơng pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học đƣợc tiến hành dƣới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ƣu mục tiêu và nhiệm vụ dạy học" [27, tr. Cũng có quan niệm khác cho rằng: “Phƣơng pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp, tƣơng tác giữa giáo viên và học sinh, nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học, hình thành hệ thống kĩ năng, kĩ xảo, thực hành sáng tạo và thái độ chuẩn mực theo mục tiêu của quá trình dạy học" [40, tr. Trong cuốn Phương pháp dạy học Âm nhạc tập 1 của tác giả Ngô Thị Nam đã nói: “Dạy học âm nhạc là quá trình dạy cho học sinh nắm tổng hợp những kiến thức, k năng, k xảo, tạo cơ sở cho khả năng cảm thụ âm nhạc”[21, tr. Vì vậy, “toàn bộ việc dạy học âm nhạc trong nhà trƣờng phải hƣớng tới sự phát triển, làm phong phú tinh thần của nhân cách học sinh, tính chất đạo đức, thẩm m trong hoạt động, tính tƣ tƣởng của mọi động cơ, quan niệm và niềm tin trong các em”[21, tr.
Tóm lại, Phƣơng pháp dạy học âm nhạc, theo nghĩa chung nhất, là những cách thức để tiến hành hoạt động dạy học âm nhạc, là hệ thống các phƣơng pháp đƣợc ngƣời dạy sử dụng trong quá trình dạy học âm nhạc để giúp cho ngƣời học tiếp thu và hiểu đƣợc. Phƣơng pháp dạy học âm nhạc có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học bộ môn âm nhạc, vận dụng những phƣơng pháp phù hợp với nội dung hay từng thể loại âm nhạc sẽ giúp ngƣời học dễ dàng tiếp thu bài và hiểu bài, nâng cao nhận thức âm nhạc. Điều đó cũng đòi hỏi ngƣời dạy phải luôn tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi những phƣơng pháp mới phù hợp để đáp ứng đƣợc yêu cầu bộ môn và phát huy đƣợc tính tích cực của ngƣời học. Tổng quan về Hát Then của ngƣời Tày Cao Bằng 1.
Khái quát về người Tày ở tỉnh Cao Bằng 1. V trí a lý và i u ki n tự nhiên - xã hội tỉnh Cao B ng Nằm ở vùng núi phía Bắc của Tổ quốc, Cao Bằng có diện tích tự nhiên là 6. Là vùng đất địa đầu của Tổ quốc nên phía Bắc tỉnh Cao Bằng có đƣờng biên giới giáp Trung Quốc dài trên 333km, phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn, phía Tây – Tây Nam giáp hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang [49]. Theo số liệu điều tra dân số năm 2009 của Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ƣơng cho thấy dân số Cao Bằng là 507.183 ngƣời gồm 27 dân tộc anh em quần tụ sinh sống trên địa bàn, dân tộc thiểu số chiếm trên 95%, trong đó dân tộc đông nhất là Tày chiếm 39,54% [48].
Nằm ở phía Bắc vùng Việt Bắc, nơi địa đầu của Tổ quốc, Cao Bằng là một trong những tỉnh mà đời sống kinh tế ở mức thấp nhất trong cả nƣớc. Tuy nhiên, nằm ở độ cao trung bình 200m so với mực nƣớc biển, nơi cao nhất lên đến 1300m, mảnh đất biên cƣơng này đƣợc thiên nhiên ƣu đãi những điều kiện kinh tế, xã hội và vẻ đẹp thiên nhiên vừa hùng vĩ tráng lệ, vừa thơ mộng [49]. Địa hình Cao Bằng chủ yếu là đồi núi, chiếm tới 90% diện tích toàn tỉnh. Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa lục địa núi cao, ôn hòa khá dễ chịu.
Tài nguyên đất của tỉnh Cao Bằng đa dạng: Đất nông – lâm nghiệp còn tiềm năng chƣa đƣợc khai thác, đất vƣờn còn khả năng thâm canh tăng vụ còn lớn. Đồng bào chủ yếu trồng lúa, ngô, các loại cây ngắn ngày Cao Bằng có nhiều cửa khẩu thông thƣơng với Trung Quốc thuận lợi giao lƣu, mở rộng thị trƣờng xuất nhập khẩu hàng hóa. Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng với 199 điểm mỏ và điểm quặng với 22 loại khoáng sản khác nhau nhƣ sắt, mangan, chì, kẽm là tiền đề để phát triển ngành công nghiệp của tỉnh [37].