Nghiên cứu tiếp xúc văn hóa Đông Tây trong lĩnh vực giáo dục qua tạp chí Nam Phong (1917-1934)

Luận văn thạc sĩ giáo dục phân tích tiếp xúc văn hoá đông tây trên lĩnh vực giáo dục qua nam phong tạp chí 1917 1934, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2013

99
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Nam Phong tạp chí

Nam Phong tạp chí, xuất bản lần đầu vào ngày 1-7-1917, là một trong những tờ báo quan trọng nhất trong giai đoạn giao thoa văn hóa Đông - Tây tại Việt Nam. Tạp chí này ra đời trong bối cảnh thực dân Pháp đang củng cố quyền lực và thiết lập hệ thống giáo dục thuộc địa. Mục đích của Nam Phong là tạo ra một nền học mới, thay thế cho nền Nho học cũ, đồng thời kết hợp các giá trị văn hóa phương Tây với truyền thống văn hóa Việt Nam. Phạm Quỳnh, người chủ bút nổi tiếng, đã nhấn mạnh rằng tạp chí này không chỉ đơn thuần là một phương tiện truyền thông mà còn là một diễn đàn cho những tư tưởng cải cách giáo dục và văn hóa. Tạp chí đã phản ánh những trăn trở của trí thức Việt Nam về sự phát triển của nền giáo dục trong bối cảnh xã hội đang thay đổi nhanh chóng.

1.1 Hoàn cảnh ra đời

Nam Phong tạp chí ra đời trong bối cảnh lịch sử đầy biến động của Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp. Sau khi chiếm đóng, Pháp đã thiết lập một hệ thống giáo dục nhằm đào tạo một lớp nhân viên phục vụ cho chế độ thuộc địa. Tuy nhiên, sự xâm nhập của văn hóa phương Tây đã tạo ra những phản ứng mạnh mẽ từ phía trí thức Việt Nam. Họ nhận thấy rằng việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc là điều cần thiết. Nam Phong tạp chí đã trở thành một diễn đàn cho những cuộc tranh luận về giáo dục, văn hóa và chính trị, phản ánh sự giao thoa giữa hai nền văn hóa Đông - Tây. Tạp chí không chỉ là nơi đăng tải các bài viết về giáo dục mà còn là nơi thể hiện những tư tưởng cải cách và khát vọng đổi mới của trí thức Việt Nam.

II. Tiếng nói của trí thức Việt Nam về giáo dục

Trong giai đoạn 1917-1934, nhóm trí thức Nam Phong đã có những phản ứng mạnh mẽ đối với chính sách giáo dục của thực dân Pháp. Họ không chỉ chỉ trích những hạn chế của nền giáo dục thuộc địa mà còn đề xuất những cải cách cần thiết để phát triển giáo dục Việt Nam. Các bài viết trên Nam Phong tạp chí đã phản ánh sự quan tâm của trí thức đối với việc kết hợp giữa nền giáo dục truyền thống và hiện đại. Họ nhấn mạnh rằng việc duy trì các giá trị văn hóa Đông là rất quan trọng trong quá trình tiếp thu văn hóa Tây. Những cuộc tranh luận về giáo dục đã tạo ra một không khí sôi nổi, khuyến khích sự tham gia của nhiều trí thức và nhà văn trong việc xây dựng một nền giáo dục phù hợp với nhu cầu của xã hội Việt Nam.

2.1 Phản ứng của nhóm Nam Phong với chính sách giáo dục thực dân

Nhóm trí thức Nam Phong đã thể hiện rõ thái độ phản đối đối với chính sách giáo dục của thực dân Pháp. Họ cho rằng nền giáo dục này không chỉ thiếu tính nhân văn mà còn cắt đứt mối liên hệ giữa thế hệ trẻ với văn hóa dân tộc. Các bài viết trên Nam Phong đã chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp giáo dục phương Tây mà không có sự kết hợp với giá trị văn hóa truyền thống sẽ dẫn đến sự mất mát bản sắc văn hóa. Họ kêu gọi cần có một nền giáo dục mới, vừa tiếp thu những tinh hoa của văn hóa phương Tây, vừa bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Đông. Điều này không chỉ giúp nâng cao trình độ dân trí mà còn góp phần xây dựng một xã hội văn minh và hiện đại.

III. Tư tưởng điều hòa giá trị văn hóa Đông Tây

Tư tưởng điều hòa giữa văn hóa Đông và Tây là một trong những điểm nổi bật trong các bài viết của Nam Phong tạp chí. Nhóm trí thức đã đề xuất một mô hình giáo dục mới, trong đó chữ Quốc ngữ được coi là nền tảng cho việc phát triển giáo dục quốc dân. Họ nhấn mạnh rằng việc xây dựng nền quốc văn không chỉ giúp bảo tồn văn hóa dân tộc mà còn tạo điều kiện cho việc tiếp thu các giá trị văn hóa phương Tây. Các bài viết đã chỉ ra rằng sự kết hợp này không chỉ là một xu hướng mà còn là một yêu cầu tất yếu trong bối cảnh xã hội đang thay đổi. Tư tưởng này đã mở ra một hướng đi mới cho giáo dục Việt Nam, khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới trong phương pháp dạy và học.

3.1 Đề xuất mô hình giáo dục mới

Nhóm trí thức Nam Phong đã đề xuất một mô hình giáo dục mới, trong đó việc kết hợp giữa các giá trị văn hóa Đông và Tây được coi là cốt lõi. Họ cho rằng nền giáo dục cần phải được xây dựng trên cơ sở phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tiếp thu những tinh hoa của văn hóa phương Tây. Mô hình này không chỉ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục mà còn giúp thế hệ trẻ có thể phát triển toàn diện, vừa có kiến thức hiện đại, vừa giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Các bài viết trên Nam Phong đã chỉ ra rằng việc áp dụng mô hình giáo dục này sẽ tạo ra một thế hệ trí thức mới, có khả năng đáp ứng được những thách thức của thời đại.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, luận văn được kết cấu trong ba chương chính với nhiều tiểu mục nhỏ: Chƣơng 1: Nam Phong tạp chí và nhóm Nam Phong. Trong chương này, tác giả tập trung nêu rõ hoàn cảnh ra đời, mục đích, diện mạo của tờ Nam Phong tạp chí, những nhân vật chính của nhóm Nam Phong, quá trình tồn tại của tạp chí Nam Phong. Chƣơng 2: Tiếng nói của trí thức Việt Nam về vấn đề giáo dục qua Nam Phong tạp chí. Đây là chương tập trung khai thác những nội dung nghiên cứu chính.

Tác giả tập trung làm rõ những phản ứng của nhóm Nam Phong trước chính sách giáo dục thực dân, thái độ của nhóm Nam Phong với nền giáo dục Việt Nam đương thời. Chƣơng 3: Tƣ tƣởng điều hoà, kết hợp giá trị văn hoá Đông - Tây trên lĩnh vực giáo dục qua Nam Phong tạp chí. Chương này nêu rõ các tư tưởng điều hoà, kết hợp giá trị văn hoá Đông – Tây trên lĩnh vực giáo dục của nhóm Nam Phong qua việc đề xuất việc nâng cao vai trò của chữ quốc ngữ, đề xuất mô hình giáo dục mới. 6 z Chƣơng 1: NAM PHONG TẠP CHÍ VÀ NHÓM NAM PHONG 1.1 Vài nét về tờ Nam Phong tạp chí 1.

Hoàn cảnh ra đời Từ nửa cuối thế kỉ XVIII, thực dân Pháp bắt đầu đặt nền bảo hộ trên lãnh thổ Việt Nam. Đầu tiên là sáu tỉnh miền Nam trở thành thuộc địa Pháp từ năm 1874. Mười năm sau, Trung và Bắc Kỳ bị Pháp bảo hộ. Tuy nhiên, ở Trung Kỳ, người Pháp vẫn duy trì bộ máy chính trị cùng các cơ quan hành chính cũ của triều đình Huế.

Do vậy, việc bảo hộ có tính cách gián tiếp. Riêng Bắc Kỳ, từ năm 1897, viên thống sứ Pháp trực tiếp nắm quyền cai trị nên Bắc Kỳ theo chế độ bảo hộ trực tiếp. Ngay khi Pháp chiếm các tỉnh Nam Kỳ, các cuộc khởi nghĩa của người Việt Nam liên nổ ra, nhưng đều thất bại. Sang đầu thế kỷ XX, những nhà yêu nước Việt Nam thay đổi chiến lược, mở cuộc vận động văn hóa chính trị.

Từ đó, gần như cùng một lúc xuất hiện hai phong trào Đông du và Duy tân năm 7 z 1904. Phong trào Đông du do Phan Bội Châu lãnh đạo. Tuy nhiên, sau những cuộc biểu tình chống thuế của dân chúng miền Trung và cuộc đầu độc lính Pháp ở Hà Nội xảy ra năm 1908, cả hai phong trào Đông du và Duy tân đều bị dập tắt. Cùng năm năm 1908, Pháp đóng cửa Viện Đại học Hà Nội mà Pháp mới thành lập năm trước (1907).

Vào tháng 4-1913, Việt Nam Quang Phục hội đã tổ chức hai cuộc tấn công tại Hà Nội, đều bị Pháp triệt tiêu ngay. Nhân cơ hội này, Pháp lên án tử hình vắng mặt những nhà lãnh đạo Quang Phục Hội. Lúc này trên thế giới, Thế chiến I bùng nổ tại Âu Châu năm 1914. Dân chúng Việt Nam phải chia sẻ gánh nặng chiến tranh với Pháp về cả nhân lực lẫn tài chính.

Cuộc khởi nghĩa chống Pháp quan trọng nhất trong thế chiến I xuất phát từ Huế. Việt Nam Quang Phục Hội Trung Kỳ liên lạc với vua Duy Tân (1907-1916) và mời nhà vua lãnh đạo cuộc khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa bùng nổ đêm 3-5-1916 bị thất bại. Pháp truất phế và lưu đày vua Duy Tân qua đảo Réunion, gần Châu Phi và xử tử hình nhiều người trong đó có Thái Phiên và Trần Cao Vân.

Vụ vua Duy Tân vừa yên, thì tại Thái Nguyên, Lương Ngọc Quyến và Trịnh Văn Cấn khởi nghĩa năm 1917. Lương Ngọc Quyến là con Lương Văn Can (nguyên hiệu trưởng Đông Kinh Nghĩa Thục). Trịnh Văn Cấn là đội Khố đỏ. Tối ngày 30-8-1917, Lương Ngọc Quyến và Trịnh Văn Cấn đã cùng các binh sĩ Khố đỏ ở Thái Nguyên nổi lên khởi nghĩa.

Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thất bại. Lương Ngọc Quyến mất trên đường rút lui. Trịnh Văn Cấn tự sát vài tháng sau đó. 8 z Sau khi đánh dẹp những cuộc khởi nghĩa liên tục, Pháp bắt đầu ổn định nền thống trị.

Toàn quyền Albert Sarraut mở một loạt các trường cao đẳng, như trường Cao đẳng Thú y Đông Dương (15-9-1917), trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương (15-10-1917), trường Cao đẳng Nông Lâm nghiệp (10-12- 1917), và chuẩn bị mở cửa lại Đại học Hà Nội trong năm sau. Chính trong khoảng thời gian tạm thời lắng dịu đó, Nam Phong tạp chí xuất bản số đầu tiên ngày 1-7-1917. Là một tạp chí khoa học, văn hoá chuyên ngành, xét đến sự ra đời của Nam Phong tạp chí không thể bỏ qua nền tảng tư tưởng của xã hội Việt Nam. Những nhà báo hoạt động trong Nam Phong sau này là những người thấm nhuần tinh thần dân tộc và đề cao những giá trị văn hoá truyền thống.

Văn hoá Việt Nam dựa nền tảng trên đạo Thờ cúng ông bà và ba tôn giáo chính là Phật giáo, Lão giáo và Nho giáo. Đạo Thờ cúng ông bà thể hiện niềm tin của dân tộc Việt rằng đời sống con người kéo dài sau khi chết, nghĩa là sau khi chết, thể xác con người bị tiêu hủy, nhưng linh hồn vẫn tồn tại quanh người sống. Phật giáo là phần tâm linh của đời sống, dạy con người đường lối giải thoát khỏi những khổ não của đời nười, chủ trương diệt dục, từ bi hỷ xã và bất bạo động. Lão giáo hướng dân con người sống hòa đồng với thiên nhên và vũ trụ.

Nho giáo là cái nền của cấu trúc xã hội Việt Nam, từ gia đình đến tổ chức xã thôn, luật pháp, chế độ chính trị. Nho giáo dạy con người những nguyên tắc sống theo tam cương (vua tôi, cha con, chồng vợ), ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Từ thế kỷ 17, các giáo sĩ Tây phương đến truyền bá Ki-tô giáo. Nền văn hóa châu Âu bắt đầu xâm nhập vào xã hội Việt Nam.

Sự xâm nhập nầy gặp nhiều phản ứng, nhất là từ giới cầm quyền và những thành phần Nho giáo 9 z bảo thủ. Nho giáo là một triết thuyết chính trị hậu thuẫn mạnh mẽ cho chế độ quân chủ. Giới cầm quyền của triều đình lo ngại nền văn hóa có tính cách dân chủ và tôn trọng nữ quyền của Tây phương sẽ làm lung lay nền tảng xã hội Nho giáo và ảnh hưởng đến quyền lực của họ. Các nho sĩ bảo thủ chủ trương rằng chỉ có văn hóa Á Đông, hay đúng hơn là văn hóa Trung Hoa, là tối thượng.

Họ cho rằng văn hóa châu Âu là văn hóa của lũ “Bạch quỷ”. Phản ứng này cũng được bắt gặp trong xã hội Trung Hoa đương thời. Do sự thiếu hiểu biết, thiếu thông cảm, không hiểu nhau, nên không thân thiện và đi đến chỗ chống đối, hận thù, rồi quyết liệt triệt tiêu nhau. Triều đình Huế đưa ra những đạo dụ cấm đạo với hình phạt nặng nề, tạo nên những vụ án tử đạo, trong khi các nho sĩ quá khích tấn công và đốt phá những làng đạo.

Những phản ứng gay gắt này tạo ra một trong những nguyên cớ để người Pháp tấn công Việt Nam. Khi chiếm Nam Kỳ làm thuộc địa, rồi bảo hộ Trung và Bắc Kỳ, Pháp bãi bỏ việc học chữ Nho và các kỳ thi Nho học, thiết lập hệ thống giáo dục tân học. Chẳng những Pháp nhắm mục đích đào tạo một lớp nhân viên mới cho chế độ mới, mà Pháp còn nhắm mục đích cắt đứt hiện tại với quá khứ, cắt đứt dòng tư tưởng của người Việt với mạch văn hóa dân tộc cổ truyền, cắt đứt luôn người Việt với nền văn hóa Trung Hoa (trước năm 1949) và Nhật Bản. Tuy nhiên, đại đa số người Việt không chấp nhận điều đó.

Mặt khác, người Việt, với kinh nghiệm hòa đồng tôn giáo vốn có (Đạo Thờ cúng ông bà, Phật, Lão, Nho), đã nhanh chóng hòa nhập văn hóa Việt - Pháp hay văn hóa Á - Âu. Hòa nhập văn hóa (acculturation) có tính cách chọn lựa, khác với đồng hóa (assimilation), có tính cách áp đặt. Trong hòa nhập văn hóa, người Việt vẫn lưu giữ những tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa Á Đông, đồng thời 10 z tiếp thu những nét hay đẹp của văn hóa châu Âu, để làm phong phú văn hóa dân tộc. Nam Kỳ là thuộc địa, nền văn hóa Tây phương xâm nhập sớm hơn, nên sự hòa nhập văn hóa cũng sớm hơn.

Tại Trung và Bắc Kỳ, phong trào Duy tân do Phan Châu Trinh đề xướng từ năm 1905, kêu gọi cải cách văn hóa, được giới trí thức cấp tiến hưởng ứng mạnh mẽ. Phong trào Duy tân chú trọng nhiều đến những vấn đề chính trị, nên khi những biến động chính trị năm 1908 xảy ra, Pháp nhân cơ hội đó, bắt giam và lưu đày hầu hết những nhà trí thức cấp tiến trong phong trào Duy tân, kể cả Lương Văn Can và Nguyễn Quyền của Đông Kinh Nghĩa Thục. Phong trào Duy tân là một quá trình vận động văn hóa, chứ không phải là một tổ chức chính trị, một đảng phái hay một hội kín. Vì vậy, tuy những người đề xướng bị bắt, nhưng cuộc cải cách văn hóa vẫn âm thầm tiếp tục trong dân chúng.

Trong giai đoạn giao thời văn hóa này, Nam Phong Tạp Chí được xuất bản bằng hai thứ chữ: chữ nho và chữ Quốc ngữ, tiếp tục cải cách nhẹ nhàng con đường hòa nhập văn hóa Á Âu, như lời của Phạm Quỳnh trong Nam Phong số 1, tháng 7-1917: “Cái mục đích của bản báo là muốn gây lấy một nền học mới để thay vào cái nho học cũ, cùng đề xướng lên một cái tư trào mới hợp với thời thế cùng trình độ dân ta. Cái tính cách của sự học vấn mới cùng cái tư trào mới ấy là tổ thuật các học vấn tư tưởng Thái tây, nhất là của nước Đại Pháp mà không quên cái quốc túy trong nước”. Tạp chí Nam Phong xuất bản số đầu tiên ngày 1-7-1917. Đây là thời điểm chữ Nho, văn tự chính thức của triều đình đã được sử dụng hàng ngàn năm qua, sửa soạn bị thay thế.

Tại Nam Kỳ, sau khi ba tỉnh miền Đông mất 11 z vào tay Pháp năm 1862, kỳ thi Hương năm 1864 được tổ chức tại Cần Thơ. Ba tỉnh miền Tây lọt tiếp vào tay Pháp nên sau đó, Nam Kỳ hoàn toàn không còn kỳ thi Nho học. Từ đây Nam Kỳ hoàn toàn không còn các kỳ thi Nho học. Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định ngày 6-4-1878, theo đó kể từ 1-1-1882, ở Nam Kỳ, tất cả các giấy tờ như công văn, nghị định, quyết định, bản án, lệnh… đều viết bằng mẫu tự la-tinh, tức chữ Pháp hay Quốc ngữ, chứ không còn viết bằng chữ Nho, nghĩa là chữ Nho chính thức hoàn toàn chấm dứt và được thay thế bằng chữ Pháp hay Quốc ngữ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu tiếp xúc văn hóa Đông Tây trong lĩnh vực giáo dục qua tạp chí Nam Phong (1917-1934)" của tác giả Lê Thị Huyền Trang, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Đỗ Quang Hưng, tập trung vào việc phân tích sự giao thoa văn hóa giữa phương Đông và phương Tây trong lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ 20. Tác phẩm không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về những ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đến hệ thống giáo dục Việt Nam mà còn làm nổi bật vai trò của tạp chí Nam Phong như một diễn đàn quan trọng trong việc truyền bá tri thức và tư tưởng mới. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về sự phát triển giáo dục và văn hóa trong bối cảnh lịch sử cụ thể, từ đó có thể hiểu rõ hơn về quá trình hiện đại hóa giáo dục tại Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực giáo dục và quản lý giáo dục, bạn có thể tham khảo bài viết "Danh mục luận văn và luận án chuyên ngành giáo dục học tại Đại học Quốc gia TP.HCM - Cập nhật tháng 12 năm 2023", nơi cung cấp thông tin về các nghiên cứu và luận án trong lĩnh vực giáo dục học. Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu về văn hóa thẩm mỹ trong nhà trường quân đội hiện nay" cũng sẽ giúp bạn hiểu thêm về vai trò của văn hóa trong giáo dục, đặc biệt trong môi trường quân đội. Cuối cùng, bài viết "Nâng Cao Kỹ Năng Dạy Học Các Môn Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn cho Giảng Viên Ở Các Trường Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân Việt Nam" sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc nâng cao kỹ năng giảng dạy trong bối cảnh giáo dục hiện đại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh khác nhau của giáo dục và văn hóa trong xã hội Việt Nam.