mở đầu cho cách tiếp cận VHCT truyền thống ở phương Tây. Khi bàn về VHCT, cả hai nhà tư tưởng này đều đặc biệt chú ý đến quan điểm, thái độ cơ bản của con người đối với các vấn đề như: quyền lực, tác động của chính thể đến người dân, cách thức để quản lý các mối quan hệ xã hội. Học thuyết chính trị - xã hội của Platon quan tâm đến vấn đề nhà nước và 10 theo ông, trong nhà nước đó, các nhà triết học là những người cầm quyền. Còn Aristoteles thì nhấn mạnh vai trò của chính trị trong việc xác định tư cách tồn tại của con người khi ông coi con người là “động vật chính trị”.
Ông cho rằng mục đích cao nhất của chính trị là làm sao để mọi người có thể sống và sống tốt hơn, sứ mệnh của nhà nước, của những người cầm quyền - chủ thể chính trị - không chỉ là đảm bảo cho mọi người sống bình thường mà còn là làm sao để mọi người sống hạnh phúc: “Mục đích của nhà nước là cuộc sống phúc lợi., bản thân nhà nước là sự giao thiệp của các gia tộc và dân cư nhằm đạt được sự tồn tại một cách hoàn thiện và tự lập” [147, tr. Cho đến cuối thế kỷ XVIII, thuật ngữ “VHCT” mới xuất hiện bởi nhà triết học cổ điển Đức I.Herder (1744 - 1803) khi ông nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa văn hóa và chính trị. Trong cuốn sách Các phương pháp triết học lịch sử nhân loại (năm 1784), lần đầu tiên ông đưa ra khái niệm “VHCT”, “sự chín muồi của VHCT” hay “những đại biểu của VHCT” [147, tr.Tocqueville (1805-1859), là học giả người Pháp nhưng đã viết một số khảo luận về hệ thống chính trị của Hoa Kỳ. Nền dân chủ Mỹ là một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông.
Trong tác phẩm này, ông đã đưa các giá trị văn hóa lên vị trí hàng đầu trong việc phân tích về nền dân chủ ở Mỹ. Tocqueville khẳng định: “Nếu không có những quan điểm và thói quen thích hợp về vai trò của dân chúng thì đến cả những thể chế dân chủ sáng giá nhất cũng khó có thể tránh khỏi sự lung lay từ cơ sở” [147, tr. Nhà chính trị học nổi tiếng khác của Mỹ là L.Pye, năm 1961, khi biên soạn Bách khoa toàn thư khoa học xã hội quốc tế, đã đưa ra định nghĩa rõ hơn về VHCT: Văn hóa chính trị là một hệ thống thái độ, niềm tin và tình cảm; nó đem lại ý nghĩa và trật tự cho quá trình chính trị; nó đưa ra tiền đề cơ bản và quy tắc chế ước hành vi của hệ thống chính trị; nó bao gồm lý tưởng chính trị và quy phạm vận hành của một chính thể. Bởi vậy, VHCT là biểu hiện hình thức tập hợp tâm lý chính trị và góc độ chủ quan; một loại VHCT vừa là lịch sử tập thể của một 11 hệ thống chính trị, lại vừa là sản phẩm của lịch sử đời sống của các cá thể trong hệ thống đó; do đó, nó bắt rễ sâu xa trong lịch sử các sự kiện chung và lịch sử cá nhân [68, tr.
Nói cách khác, VHCT thuộc phương diện chủ quan trong hệ thống chính trị, nó chế ước chế độ chính trị và xác định hành vi chính trị của con người. Mặc dù vấn đề VHCT xuất hiện sớm như vậy, nhưng môn Nghiên cứu VHCT lại thực sự ra đời cùng với ngành khoa học chính trị hiện đại. Trong đó, nổi lên hai xu hướng nghiên cứu chính: Thứ nhất, coi VHCT chỉ là chiều cạnh chủ quan của hệ thống chính trị và quá trình chính trị. Công trình The Civic Culture, Political Attitudes and Democracy in Five Nations (“Văn hóa công dân - Những thái độ chính trị và nền dân chủ ở năm quốc gia”) của hai nhà khoa học Mỹ G.Verba, được coi là chuyên khảo đầu tiên khai phá và đặt nền móng cho môn Nghiên cứu VHCT ở phương Tây.
Hiện nay, nhiều công trình nghiên cứu về VHCT thường giới thiệu một định nghĩa được thừa nhận là “kinh điển” của G. Học giả này đã tiến hành khái quát các công trình nghiên cứu diện xã hội - văn hóa của các quá trình chính trị để đưa ra khái niệm VHCT: “VHCT của một dân tộc là cách chia sẻ riêng của các thành viên của dân tộc ấy những dạng thức của sự định hướng quan tâm tới các khách thể chính trị” [147, tr.Almond (cùng với S.Verba) là những người đầu tiên đưa ra quan điểm: VHCT chỉ là chiều cạnh chủ quan của hệ thống chính trị và quá trình chính trị. Almond cho rằng VHCT “gồm các yếu tố về nhận thức, tình cảm và giá trị. Nó hàm chứa nhận thức và ý kiến, quan niệm giá trị và tình cảm đối với chính trị” [68, tr.
Verba khẳng định: VHCT không phải là chế độ và cơ cấu chính trị, cũng không phải là mô hình hành vi chính trị: “nó không nói về các sự việc phát sinh trong lĩnh vực chính trị mà là nói về những suy nghĩ và niềm tin của người ta đối với các sự việc đó” [68, tr. Hai ông cũng đưa ra ba loại hình cơ bản của VHCT: văn hóa chính trị bộ lạc, văn hóa chính trị thần thuộc và văn hóa chính trị tham dự (hay văn hóa công dân). 12 Một số trường phái khoa học chính trị và các nhà nghiên cứu ở phương Tây sau này đã dựa trên cơ sở lý thuyết khoa học về VHCT của G. Tiêu biểu có thể kể đến: - Định nghĩa của nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Tổng hợp Berkeley (California) trong cuốn Đề cương bài giảng VHCT (năm 2006): “VHCT được tạo thành bởi những tri nhận, những giá trị và những bộc lộ cảm tình mà dân chúng của một cộng đồng/ tập thể nào đó mang lại cho một quá trình mà tại đó những giá trị chân xác sẽ được định vị” [147, tr.
Theo trường phái này, cả ba bộ phận hợp thành của VHCT trên đây chỉ được xem xét, phân tích khi đặt trong mối quan hệ với hệ thống chính trị và đặc biệt là trong quá trình chính trị, nơi mà những bộ phận này được “định vị”. Điều này có nghĩa là tương tự như trong cách tiếp cận và định nghĩa khái niệm của G.Verba, các chiều cạnh chủ quan của hệ thống chính trị và quá trình chính trị được xem như hệ quy chiếu gốc của môn nghiên cứu về VHCT. - Định nghĩa được công bố trong cuốn Từ điển chính trị xuất bản năm 2007 của trường phái học thuật Heidelberg (Đức): VHCT là khái niệm “dùng để chỉ chiều cạnh chủ quan của những cơ sở xã hội của các hệ thống chính trị. VHCT liên quan tới những bộ phận khác nhau của ý thức chính trị, những “phong thái”, những lối nghĩ và ứng xử “điển hình” của những nhóm xã hội hoặc của toàn xã hội.
VHCT bao gồm tất cả những đặc tính chính trị cá nhân của từng cá thể, tiềm ẩn trong những thái độ và các giá trị, bắt rễ trong những động cơ bẩm sinh của hành vi chính trị, và có trong những hình thức bộc lộ có tính chất biểu tượng và những ứng xử chính trị cụ thể” [147, tr. Đây cũng có thể coi là một quan điểm gợi mở những khía cạnh có tính phương pháp luận trong nghiên cứu về VHCT. Thứ hai, coi VHCT là một bộ phận trong chỉnh thể văn hóa chung của xã hội. Không phải tất cả các nhà khoa học chính trị hiện đại ở phương Tây đều dựa trên cơ sở lý thuyết khoa học về VHCT của G.
Xu hướng tiếp cận VHCT khác đáng chú ý ở phương Tây là coi VHCT là một bộ phận trong chỉnh thể văn hóa chung của xã hội. Nhà sử học và chính trị học Hoa 13 Kỳ P.Taquar đã nhiều năm có dự định giải quyết vấn đề về cách tiếp cận và các khái niệm, liên quan tới các phạm vi của khái niệm VHCT. Ông cho rằng: có thể nói về VHCT như một bộ phận tự trị (tách riêng) trong chỉnh thể văn hóa chung của xã hội. Lý giải vấn đề trên đây, quan điểm của ông có hai mặt tương liên đáng lưu ý là: Thứ nhất, luận chứng về ưu thế của cách tiếp cận văn hóa học đối với VHCT (khác với cách phân tích hệ thống hoặc phân tích tâm lý hẹp, chủ yếu dùng trong khoa chính trị học).
Thứ hai, trong khi phân tích phê phán khái niệm VHCT của Almond, học giả này cũng đã xây dựng nên hàng loạt vấn đề mang tính chất phương pháp luận, chủ yếu là để xác lập hệ hình khái niệm cho VHCT.Almond và những người kế tục ông chỉ tập trung chú ý vào một phương diện (dù đó là quan trọng nhất) của VHCT - đó chính là phương diện chủ quan (nhiều khi mang tính chất tâm lý học), nhận định đặc trưng của VHCT như “một tổ hợp những ý đồ và mục tiêu” của các nhân vật chính trị. Các trường phái chính trị học Nga với các tên tuổi như E.Piroparov… cũng đưa ra nhiều quan niệm khác nhau.Dodin: Văn hóa chính trị là quá trình xã hội hóa chính trị, suy cho cùng là quá trình phổ cập những giá trị và quy tắc chính trị nhất định” và “quá trình xã hội hóa trong chừng mực nào đó đưa đến sự ra đời các thiết chế xã hội, các giá trị và những chuẩn mực hành vi phù hợp với tiến trình phát triển [147, tr. Với quan điểm này, E.Dodin đã không đồng tình với các tác giả phương Tây khi quy VHCT về các khuôn mẫu xác định nào đó. Bởi điều đó thường mang tính chủ quan của nhà nghiên cứu và sẽ rất dễ nhầm lẫn với các hiện tượng bề mặt.
Thông qua lăng kính của những yếu tố cấu trúc cơ bản, G.Grat cho rằng VHCT được cấu trúc bởi 3 thành tố: “Cấu trúc của VHCT gồm: Văn hóa về ý thức chính trị, văn hóa hành vi chính trị và văn hóa vận hành các hành vi chính trị của Nhà nước” [191, tr. 14 Còn nhà chính trị học Liên Xô cũ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dùng VHCT mới để đả phá những thói quen do xã hội cũ để lại và xây dựng một nhà nước kiểu mới. Họ phê phán các học giả Mỹ quá nhấn mạnh định nghĩa VHCT là một thứ động cơ tâm lý, là thái độ chủ quan mà coi nhẹ vấn đề giai cấp và lợi ích giai cấp, bỏ qua việc đời sống chính trị luôn phụ thuộc vào lợi ích giai cấp và những mối quan hệ kinh tế nhất định. Theo họ, VHCT là thành phần quan trọng của văn hóa tinh thần, nó thuộc về lĩnh vực thượng tầng kiến trúc, có tính giai cấp và tính xã hội rõ ràng; nó phản ánh lợi ích, nguyện vọng và yêu cầu của một giai cấp nhất định.