Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ nghệ thuật với đề tài Sự tiếp biến trong nghệ thuật thiết kế áo dài của phụ nữ Việt từ những năm 1930 đến năm 2017 được nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Loan thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (bảo vệ năm 2020), thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật (mã số: 9210101), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đoàn Thị Tình và TS. Trần Thủy Bình.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, áo dài của phụ nữ Việt trải qua lịch sử luôn có sự biến đổi về hình dáng, kết cấu, màu sắc, chất liệu và nghệ thuật trang trí khi tiếp xúc với các nền văn hóa Đông – Tây. Tuy nhiên, các công trình khoa học trước đây chủ yếu tiếp cận áo dài ở các lát cắt đơn lẻ như mỹ thuật thuần túy, lịch sử trang phục, nhân học hoặc văn hóa học. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có công trình nào nghiên cứu áo dài một cách hệ thống dưới góc độ liên ngành giữa Nghệ thuật học, Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật để giải quyết thấu đáo bản chất tiếp biến trong nghệ thuật thiết kế. Thực tế giai đoạn từ sau năm 1980 đến 2017 ghi nhận nhiều cuộc thử nghiệm tạo hình áo dài gây tranh luận trong xã hội, cùng với sự nhầm lẫn về nguồn gốc và đặc trưng tạo hình áo dài trên các diễn đàn truyền thông. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống nhằm xác lập cơ sở khoa học, định hướng thẩm mỹ cho ngành thiết kế thời trang và đóng góp vào công tác bảo tồn văn hóa mặc là yêu cầu cấp thiết.
Mục đích nghiên cứu chính của luận án là phân tích những yếu tố được tiếp thu và biến đổi trong nghệ thuật thiết kế áo dài của phụ nữ Việt giai đoạn 1930–2017, qua đó làm rõ các giá trị văn hóa nghệ thuật và thẩm mỹ tạo hình. Bên cạnh đó, luận án hướng tới các mục đích cụ thể:
- Khảo cứu lịch sử hình thành và những thay đổi trong thiết kế áo dài qua các lần tiếp xúc văn hóa Đông – Tây.
- Làm rõ các yếu tố tác động đến sự tiếp biến nghệ thuật thiết kế áo dài (chính trị – xã hội, khoa học – công nghệ và kỹ thuật, giao thoa văn hóa).
- Nghiên cứu đặc điểm, xu hướng và phong cách thiết kế áo dài qua hai giai đoạn: 1930–1980 và 1980–2017.
- Phân tích thực tiễn tại hai trung tâm lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để đánh giá thành công, hạn chế và định hướng thẩm mỹ thiết kế đương đại.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học của luận án được xác định như sau:
| STT |
Câu hỏi nghiên cứu |
Giả thuyết khoa học tương ứng |
| 1 |
Áo dài của phụ nữ Việt có tiếp thu những tạo hình áo dài của phụ nữ Chăm như một số nhận định trước đây hay không? |
Giả thuyết 1: Tiền thân áo dài của phụ nữ Việt là áo năm thân cổ giao lãnh mặc kết hợp với chân váy dài và lần đầu tiên tiếp nhận kết cấu cổ áo, hình thức mặc áo cùng quần của người Mãn Hán (theo hình thức áp đặt triều chính). Do đó, chưa thấy cơ sở cho thấy áo dài phụ nữ Việt tiếp thu yếu tố tạo hình từ áo dài phụ nữ Chăm. |
| 2 |
Áo dài của phụ nữ Việt đã tiếp thu và biến đổi những yếu tố tạo hình nào khi tiếp xúc với văn hóa phương Tây để trở thành trang phục tiêu biểu vừa mang giá trị truyền thống, vừa mang giá trị hiện đại? |
Giả thuyết 2: Áo dài đã tiếp thu các yếu tố hình dáng, kết cấu, màu sắc, chất liệu vải và đặc biệt là hình thức trang trí mang dấu ấn phương Tây. Giả thuyết 3: Bối cảnh hội nhập văn hóa toàn cầu tác động đến quan điểm thẩm mỹ, ý tưởng sáng tạo và phương thức hiện thực hóa của các nhà thiết kế; các nét văn hóa đặc sắc vùng miền, quốc gia đã trở thành nguồn cảm hứng tạo nên các tác phẩm áo dài có giá trị nghệ thuật. |
| 3 |
Thiết kế áo dài có tiếp thu những thành tựu của khoa học công nghệ, kỹ thuật vào ý tưởng sáng tạo và giải pháp kỹ thuật hay không? |
Giả thuyết 4: Sự phát triển của khoa học công nghệ, kỹ thuật tác động trực tiếp đến nghệ thuật thiết kế áo dài của phụ nữ Việt, giúp các nghệ nhân và nhà thiết kế xử lý hiệu quả hình dáng, kết cấu, màu sắc, chất liệu vải/lụa và kỹ thuật trang trí. |
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Sự tiếp biến trong nghệ thuật thiết kế áo dài của phụ nữ Việt.
- Phạm vi thời gian: Từ những năm 1930 đến năm 2017 (mốc 2017 gắn với bối cảnh diễn ra nhiều cuộc tranh luận về nguồn gốc áo dài và sự xuất hiện của nhiều trào lưu, xu hướng thiết kế mới trong xã hội).
- Phạm vi không gian: Khảo sát các mẫu áo dài tại hai trung tâm đô thị lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó dung lượng khảo sát thực địa nghiêng về Hà Nội do tính chất thuận lợi về không gian sinh sống và nguồn tư liệu chuyên gia của tác giả.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã tiến hành hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu đi trước theo ba nhóm tiếp cận chính:
Nhóm các công trình nghiên cứu về tiếp biến văn hóa nghệ thuật:
- Phan Ngọc (2006) với tác phẩm Sự tiếp xúc văn hóa Việt Nam với Pháp (Nxb Văn hóa Thông tin – Viện Văn hóa) phác họa tiến trình tiếp xúc văn hóa thời cận đại (1858–1945), nhấn mạnh sự chuyển biến tư tưởng và tư duy tạo hình của người Việt dưới tác động của văn hóa Pháp.
- Phạm Thị Phương Thái và Lee Mi Jung (2012) qua bài viết "Dấu ấn của giao lưu văn hóa Đông – Tây trong trang phục áo dài Việt Nam" (Tạp chí Khoa học và Công nghệ) nêu quan điểm về ảnh hưởng của Qi Pao (Xường xám) Trung Quốc đến sự chuyển đổi từ áo tứ thân sang áo năm thân và kết cấu xẻ eo.
- Lương Văn Kế chủ biên (2013) với hai công trình Tiếp nhận văn hóa ở Việt Nam Âu – Mỹ ở Việt Nam giai đoạn 1858 – 1975 và Tiếp nhận văn hóa ở Việt Nam Âu – Mỹ ở Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội) cung cấp cơ sở lý luận về diện mạo tiếp nhận văn hóa phương Tây liên tục và toàn diện trong mỹ thuật, nghệ thuật.
- Nguyễn Thị Kim Loan (chủ biên), Nguyễn Thị Kim Chi và Nghiêm Xuân Mừng (2015) trong Giao lưu văn hóa Việt – Pháp thời cận đại qua dữ liệu Văn hóa, Nghệ thuật làm rõ quy luật biến đổi tư duy thẩm mỹ đưa văn hóa nghệ thuật Việt Nam chuyển từ tính chất khu vực sang tính chất quốc tế.
Nhóm các công trình nghiên cứu dưới góc độ văn hóa:
- Phạm Đăng Trí (2002) với bài viết "Qua những tà áo, thử tìm hiểu thị hiếu về màu sắc của người Huế thủa trước" (Nghiên cứu Huế, Tập IV) phân tích thị hiếu màu sắc trang nhã (như màu tím) hình thành từ môi trường tự nhiên và tâm lý của phụ nữ Huế.
- Đỗ Thị Hòa (2012) trong tác phẩm Trang phục các dân tộc người thiểu số nhóm ngôn ngữ Việt – Mường, Tày – Thái, Kađai (Nxb Văn hóa Dân tộc) trình bày cấu trúc tạo hình và giá trị thẩm mỹ trang phục của các cộng đồng thiểu số.
- Trần Quang Đức (2013) với công trình Ngàn năm áo mũ (Nxb Thế giới) sử dụng phương pháp khảo cứu thư tịch cổ để phục dựng chi tiết quy chế màu sắc, chất liệu, hoa văn trang phục qua các triều đại phong kiến Việt Nam và đối sánh với khu vực Đông Á.
- Hữu Ngọc (2014) với Lãng du trong văn hóa Việt Nam và Áo dài – Women’s Long Dress (đồng tác giả với Lady Borton) đặt ra nhận định về việc áo dài Việt chịu ảnh hưởng từ trang phục của người Chăm khi các chúa Nguyễn mở cõi về phía Nam.
- Phan Cẩm Thượng dẫn giải (2015) trong Nhiếp ảnh hiện thực và Việt Nam – cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 (Nxb Thế giới) cung cấp nguồn tư liệu ảnh thực tế về trang phục áo năm thân truyền thống giai đoạn giao thời.
- Phạm Thảo Nguyên (2018) với Áo dài Lemur và bối cảnh Phong Hóa & Ngày Nay (Nxb Hồng Đức) cung cấp tư liệu lịch sử xác thực về các cải tiến kỹ thuật cắt may của họa sĩ Nguyễn Cát Tường và làm rõ vấn đề họa sĩ Lê Phổ không trực tiếp vẽ mẫu thiết kế áo dài mà định hình kiểu dáng thông qua các tác phẩm hội họa.
Nhóm các công trình nghiên cứu dưới góc độ mỹ thuật:
- Lê Ngọc Thắng (1990) với Nghệ thuật trang phục Thái (Nxb Văn hóa Dân tộc) nghiên cứu nghệ thuật tạo hình trang phục gắn liền với nhân trắc học và khổ vải dệt thủ công.
- Đoàn Thị Tình (2002, 2010) với bài viết "Áo dài phụ nữ Việt Nam" và công trình Trang phục Thăng Long (Nxb Hà Nội) miêu tả chi tiết tiến trình biến đổi hình dáng, kết cấu của áo tứ thân, năm thân, áo dài Cát Tường và Lê Phổ qua các thời kỳ lịch sử.
- Cung Dương Hằng (2011) với Mỹ thuật nữ phục truyền thống Việt Nam (Nxb Văn hóa Thông tin) ứng dụng nguyên lý tỷ lệ vàng để giải mã cấu trúc thẩm mỹ trên nữ phục truyền thống.
- Dương Kim Đức (2012) trong bài viết trên tạp chí Asian Culture and History phân chia ba mốc cải tạo áo dài trong thế kỷ XX (những năm 1930, 1960–1970 và từ năm 1990).
- Nguyễn Cát Tường (1934, in lại 2013) qua bài viết "Y phục của phụ nữ" trên báo Phong Hóa đặt nền tảng tư tưởng cho cuộc cách tân trang phục phụ nữ gắn với sự tiện dụng, thẩm mỹ và thích ứng thời đại.
Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là tổng hợp góc nhìn liên ngành Nghệ thuật học và Lịch sử Mỹ thuật để xác lập ranh giới giữa "yếu tố tĩnh" (cốt lõi bất biến) và "yếu tố động" (yếu tố tiếp thu, biến đổi) trong thiết kế áo dài, đồng thời đối sánh khoa học để giải quyết các giả thuyết còn tranh cãi về mối quan hệ giữa áo dài Việt với trang phục Chăm và sườn xám Trung Hoa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên các nền tảng sau:
- Lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa (Acculturation): Vận dụng quan niệm của Melville J. Herskovits và định nghĩa của UNESCO (1978) về sự tiếp xúc lâu dài giữa các nền văn hóa dẫn đến sự biến đổi mô thức ban đầu. Luận án phân tích hai phương thức tiếp biến: phương thức cưỡng bức/đối đầu (thời kỳ Bắc thuộc, quy định trang phục triều Nguyễn) và phương thức hòa bình/đối thoại (giao lưu kinh tế, trao đổi văn hóa nghệ thuật thời Pháp thuộc và giai đoạn hội nhập quốc tế).
- Lý thuyết "Trung tâm và ngoại vi trong nghiên cứu không gian văn hóa": Kế thừa trường phái truyền bá luận (L. Schmidt, F. Boas, C. Wissler) và các nghiên cứu nhân học Xô Viết thập niên 1970–1980. Luận án xác định Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai "vùng trung tâm" sáng tạo, tiếp nhận văn hóa phương Tây và thu hút "nguyên liệu" văn hóa từ "vùng ngoại vi" (thổ cẩm miền núi, tranh dân gian Đông Hồ) để định hình các xu hướng thiết kế áo dài lan tỏa ra toàn quốc.
- Thuyết bắt chước (Mimesis) của Aristotle: Sử dụng luận điểm con người học hỏi và mô phỏng tự nhiên để hình thành các nguyên tắc bố cục trang trí (đối xứng, so le, tỏa tròn, nhắc lại, tương phản) ứng dụng trên bề mặt áo dài.
- Hệ thống quan điểm Mỹ học và Triết học: Vận dụng mỹ học Georg Wilhelm Friedrich Hegel (nghệ thuật là sản phẩm chiếm hữu và cải tạo tự nhiên của con người nhằm phục vụ đời sống thực tế), mỹ học Mác-xít (nghệ thuật bắt nguồn từ thực tiễn lao động sản xuất) và mỹ học Immanuel Kant (vẻ đẹp phụ thuộc gắn liền với tính hoàn hảo giữa cấu trúc nhân trắc bên trong và hình thức bên ngoài).
- Phương pháp luận Design (Bauhaus): Tiếp cận thiết kế thời trang như một bộ môn mỹ thuật ứng dụng kết hợp giữa nghệ thuật tạo hình 2D/3D với tiêu chuẩn công năng, kỹ thuật số hóa bản vẽ và sản xuất đại trà.
Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án bao gồm:
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, đặt nghệ thuật thiết kế áo dài trong sự vận động lịch sử và không gian xã hội cụ thể.
- Phương pháp nghiên cứu điền dã: Khảo sát các di tích chùa chiền thế kỷ XVII, XVIII, XIX để chụp ảnh, đo đạc, khảo tả trang phục trên tượng thờ nữ (tượng Hiền phi Trương Thị Ngọc Lãnh tại chùa Trạch Lâm, tượng Vương phi Trần Thị Ngọc Am, tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc, tượng Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Bạch, tượng Bà Chúa Mía, tượng Kim Đồng, Ngọc Nữ). Khảo sát hiện vật gốc tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Bảo tàng Áo dài Thành phố Hồ Chí Minh và ghi chép thực tế tại các kỳ Festival Áo dài.
- Phương pháp chuyên gia (phỏng vấn sâu): Thu thập tư liệu từ các nghệ nhân làng nghề dệt nhuộm lụa Vạn Phúc (thợ nhuộm Đỗ Văn Minh, nghệ nhân Nguyễn Thị Tâm - con dâu nghệ nhân Triệu Văn Mão); nghệ nhân may lâu năm Mỹ Hào (82 Cầu Gỗ, Hà Nội - gốc làng may Trạch Xá); các nhà thiết kế và tạo mẫu có uy tín định hình thẩm mỹ áo dài từ thập niên 1980 đến 2017 như Lan Hương, La Hằng, Hương Giang, Minh Hạnh, Sĩ Hoàng, Ngân An, Vũ Việt Hà, Ngọc Hân, Quỳnh Paris.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp Nghệ thuật học với Mỹ thuật học, Sử học, Dân tộc học và Xã hội học nhằm so sánh, đối chiếu và phân tích toàn diện các yếu tố tạo hình.
Nguồn dữ liệu của luận án gồm 147 tài liệu tham khảo, hệ thống 112 hình ảnh minh họa, 7 bảng tổng hợp số liệu khảo sát, các bản phác thảo của họa sĩ Nguyễn Cát Tường, tác phẩm hội họa của họa sĩ Lê Phổ và các bộ sưu tập áo dài thực tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và các vấn đề liên quan đến thiết kế áo dài
Chương 1 (41 trang) tập trung giải quyết ba nội dung lớn: tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước; xác lập hệ thống cơ sở lý luận; khảo cứu nguồn gốc và diễn trình lịch sử của trang phục áo dài truyền thống của phụ nữ Việt.
Về hệ thống khái niệm, tác giả phân định rõ:
- Áo dài: Trang phục thân dài suôn thẳng đến bắp chân, kết cấu xẻ tà hai bên sườn, mặc phủ ngoài quần.
- Áo dài truyền thống: Bao gồm áo tứ thân và áo năm thân (cổ giao lãnh và cổ đứng) hình thành từ môi trường sống, thói quen lao động và chất liệu tự nhiên của người Việt.
- Áo dài hiện đại: Kiểu áo hai tà xuất hiện từ những năm 1930, áp dụng kỹ thuật dệt vải khổ rộng của phương Tây, công thức cắt may theo toán học và kỹ thuật chiết ly ôm sát cơ thể.
- Nghệ thuật thiết kế áo dài: Sự sáng tạo không gian 3 chiều dựa trên cấu trúc cơ thể người vận động, kết hợp giữa yếu tố mỹ thuật (hình dáng, đường nét, màu sắc, trang trí) và yếu tố khoa học công nghệ (thông số kỹ thuật, khổ vải, vật liệu).
Về diễn trình lịch sử trang phục, chương 1 chứng minh nguồn gốc áo dài phát triển tuần tự từ áo tứ thân (may ghép 4 khổ vải hẹp 20–40cm, buông vạt hoặc buộc vạt trước eo để tiện lao động) chuyển sang áo năm thân (thêm thân thứ năm bên trong làm vạt con đỡ ngực). Luận án phân tích hai dấu mốc cải cách thể chế trang phục quan trọng dưới thời phong kiến:
- Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát ban hành lệnh cải cách trang phục tại Đàng Trong, quy định nam nữ chuyển sang mặc áo năm thân cổ đứng bản nhỏ cài khuy, tay hẹp và mặc quần thay cho váy (gọi là "quần chân áo chít").
- Năm 1837, vua Minh Mạng ban hành chỉ dụ áp dụng đồng nhất thể chế trang phục Đàng Trong ra toàn bộ Đàng Ngoài, cấm đàn bà mặc váy và áo tứ thân, bắt buộc mặc quần và áo năm thân. Áo năm thân "quần chân áo chít" triều Nguyễn chính là tiền thân trực tiếp trước khi bước vào cuộc cách tân phương Tây những năm 1930.
Chương 2: Thiết kế áo dài và những tiếp thu – biến đổi trong nghệ thuật thiết kế áo dài từ những năm 1930 đến 2017
Chương 2 (67 trang) đi sâu phân tích tiến trình tiếp thu kỹ thuật phương Tây và sự biến đổi các thành tố tạo hình áo dài qua hai giai đoạn lịch sử:
Giai đoạn 1930–1980:
- Cuộc cách tân áo dài Lemur (1934–1940) của họa sĩ Nguyễn Cát Tường: Nhờ sự xuất hiện của vải dệt khổ rộng ngoại nhập, số lượng thân áo được giảm từ năm thân xuống còn hai thân (bỏ đường can sống lưng và vạt con). Tác giả ứng dụng phương pháp cắt may phương Tây (đo theo nhân trắc học, ráp tay phồng, cổ khoét mở, chiết ly ngực và eo) và kết hợp với áo lót ngực (corset) do hiệu Cự Chung sản xuất.
- Áo dài Lê Phổ (cuối thập niên 1930): Dung hòa kiểu dáng áo Lemur với áo năm thân truyền thống, giữ lại cổ đứng kín đáo nhưng thân áo ôm sát gọn gàng.
- Áo dài cổ thuyền Trần Lệ Xuân (cuối thập niên 1950): Bỏ phần cổ đứng truyền thống, tạo khoảng hở cổ phóng khoáng.
- Áo dài Raglan và Miniraglan (thập niên 1960–1970): Cải tiến kỹ thuật nối tay chéo từ cổ xuống nách (raglan) giúp loại bỏ nếp nhăn nhúm dưới nách áo truyền thống; phiên bản miniraglan thu ngắn tà áo và may quần ống rộng tạo sự năng động cho nữ sinh, phụ nữ đô thị.
Giai đoạn 1980–2017:
Đánh dấu sự phục hưng và chuyên nghiệp hóa của nghệ thuật thiết kế áo dài trong bối cảnh Đổi mới và hội nhập quốc tế. Áo dài chuyển dịch từ trang phục may đo thuần túy sang tác phẩm thiết kế thời trang cao cấp với sự xuất hiện của các nhà thiết kế tên tuổi (Minh Hạnh, Sĩ Hoàng, Lan Hương, La Hằng...). Các sự kiện Festival Áo dài định kỳ tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trở thành không gian trình diễn nghệ thuật thị giác quy mô lớn.
Sự phân hóa giữa yếu tố tĩnh và yếu tố động trong tạo hình áo dài:
- Yếu tố tĩnh (bản sắc bất biến): Hình dáng hình thang thân dài và kết cấu hai tà xẻ mở từ vị trí thắt eo. Dù trải qua nhiều thử nghiệm, cấu trúc hai tà mở ở eo kết hợp với quần dài luôn là đặc trưng nhận diện cốt lõi của áo dài Việt.
- Yếu tố động (thay đổi theo thời đại):
- Màu sắc: Chuyển từ gam màu tự nhiên đơn sắc, trầm tối (nâu, đen, chàm) thời phong kiến sang bảng màu phong phú, rực rỡ và nghệ thuật phối màu theo vòng tròn sắc tướng phương Tây.
- Chất liệu: Mở rộng từ lụa tơ tằm truyền thống (lụa Vạn Phúc, gấm) sang các chất liệu công nghiệp hiện đại (voan, ren, nhung, satin, sợi tổng hợp co giãn).
- Nghệ thuật trang trí: Ứng dụng đa dạng kỹ thuật thêu tay truyền thống, thêu ruy băng, đính kết cườm, đá quý, vẽ tay mỹ thuật trên lụa và công nghệ in kỹ thuật số 3D.
Chương này cũng phân tích ba nhóm yếu tố tác động đến sự tiếp biến: điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội; tiến bộ khoa học công nghệ dệt may; và làn sóng giao lưu tiếp xúc văn hóa quốc tế.
Chương 3: Luận bàn về tiếp biến trong nghệ thuật thiết kế áo dài của phụ nữ Việt
Chương 3 (51 trang) nâng cao các luận điểm lý luận và phân tích đối sánh chuyên sâu:
- Tư duy và thẩm mỹ thiết kế: Áo dài hiện đại thể hiện tư duy duy mỹ tôn vinh đường cong tự nhiên của cơ thể người phụ nữ nhưng vẫn bảo tồn tính kín đáo, thanh lịch truyền thống phương Đông thông qua cấu trúc che phủ kín thân kết hợp khoảng hở linh hoạt ở eo và cổ.
- Phong cách và xu hướng thiết kế đương đại: Luận án phân loại các xu hướng chính: xu hướng phục cổ (phục dựng áo năm thân, áo giao lãnh); xu hướng khai thác bản sắc dân tộc học (đưa hoa văn thổ cẩm H'Mông, Dao, Thái và tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống lên áo dài); xu hướng hiện đại hóa ứng dụng công sở; và xu hướng dạ hội, trình diễn mang tính nghệ thuật sân khấu.
- Nghiên cứu đối sánh cấu trúc tạo hình:
- Đối sánh với áo dài của các tộc người thiểu số tại Việt Nam: Áo dài phụ nữ Chăm là dạng áo chui đầu kín thân, không xẻ tà; áo cóm phụ nữ Thái ngắn ngang eo kết hợp váy dài và hàng khuy bướm; áo dài phụ nữ Tày xẻ tà thấp cài khuy nách nhưng không chiết eo. Luận án khẳng định áo dài phụ nữ Việt có cấu trúc hình dáng và kết cấu xẻ eo hai tà hoàn toàn độc lập, bác bỏ giả thuyết cho rằng áo dài Việt tiếp biến tạo hình từ áo dài người Chăm.
- Đối sánh với áo Sườn xám (Qi Pao) Trung Hoa: Sườn xám thời Mãn Thanh là dạng trang phục áo choàng dài liền mảnh của người du mục, sau đó cách tân tại Thượng Hải thành váy liền thân ôm sát, xẻ tà một hoặc hai bên đùi và để lộ chân trần (không mặc quần). Ngược lại, áo dài Việt luôn đi kèm với quần dài mặc bên trong tạo nên kết cấu hai tầng trang phục đặc thù.
- Đánh giá thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm: Luận án ghi nhận thành tựu đưa áo dài thành biểu tượng văn hóa quốc gia; đồng thời phê phán các biến tướng cực đoan (cắt xẻ hở hang, phối chân váy xòe ngắn cũn cỡn làm phá vỡ tỷ lệ hình thang thân dài và kết cấu hai tà) gây phản cảm trong dư luận xã hội năm 2017. Luận án đúc kết bài học về việc tôn trọng "yếu tố tĩnh" khi sáng tạo cách tân.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt khoa học và lý luận, luận án đạt được các kết quả đóng góp mới sau:
- Xác lập và luận giải thành công cấu trúc "yếu tố tĩnh" (hình dáng hình thang thân dài và kết cấu hai tà mở từ eo) và "yếu tố động" (màu sắc, chất liệu, trang trí) trong nghệ thuật thiết kế áo dài, tạo khung lý thuyết để nhận diện bản sắc trang phục truyền thống trong bối cảnh hiện đại.
- Hệ thống hóa diễn trình lịch sử tạo hình áo dài từ áo tứ thân, năm thân đến các biến thể áo dài hiện đại (1930–2017) thông qua việc khảo cứu liên ngành giữa khảo cổ học mỹ thuật (tượng thờ, di chỉ), thư tịch cổ, tác phẩm hội họa và hiện vật bảo tàng.
- Cung cấp luận cứ khoa học giải quyết dứt điểm các giả thuyết tranh cãi về nguồn gốc, chứng minh áo dài phụ nữ Việt không tiếp thu tạo hình từ trang phục Chăm hay sườn xám Trung Hoa mà phát triển nội sinh từ áo năm thân kết hợp tiếp thu phương pháp cắt may phương Tây.
Về mặt thực tiễn và ứng dụng:
- Xây dựng nguồn tư liệu chuyên ngành chuẩn xác phục vụ công tác đào tạo và giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng chuyên ngành Thiết kế Thời trang, Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, Văn hóa học.
- Cung cấp luận cứ cho các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) trong việc xây dựng hồ sơ công nhận Áo dài là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và đề cử Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
- Đề xuất định hướng thẩm mỹ cho các nhà thiết kế và cộng đồng trong việc sáng tạo áo dài cách tân phù hợp với thuần phong mỹ tục và thị hiếu đương đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
Do điều kiện cá nhân và giới hạn về thời gian, phạm vi khảo sát thực tế và phỏng vấn chuyên gia của luận án tập trung chủ yếu tại Hà Nội. Nguồn dữ liệu khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh và đặc biệt là trung tâm văn hóa áo dài truyền thống tại Cố đô Huế chưa được triển khai sâu rộng như kỳ vọng của tác giả.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
Tác giả định hướng mở rộng không gian nghiên cứu điền dã và khảo sát nhân trắc, tập quán may mặc áo dài chuyên sâu tại khu vực miền Trung (thành phố Huế) và các tỉnh Nam Bộ, nhằm làm phong phú thêm các cứ liệu so sánh vùng miền về nghệ thuật thiết kế áo dài sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và sinh viên: Chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, Thiết kế Thời trang, Văn hóa học và Dân tộc học. Phần khảo cứu tiến trình lịch sử (Chương 1) và phân tích các thủ pháp tạo hình, nguyên lý tỷ lệ, chất liệu (Chương 2, Chương 3) là tài liệu giảng dạy trực tiếp.
- Nhà thiết kế thời trang và thợ may chuyên nghiệp: Tham khảo nguyên lý phân định yếu tố tĩnh – động để sáng tạo mẫu mã mới nhưng vẫn giữ được cốt cách bản sắc dân tộc, tránh các lỗi tạo hình gây phản cảm.
- Cán bộ quản lý văn hóa và ngoại giao văn hóa: Sử dụng các luận điểm khoa học của luận án để phục vụ công tác quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và xây dựng tiêu chuẩn văn hóa mặc công sở, lễ nghi.
Câu hỏi thường gặp
1. Yếu tố nào được luận án xác định là "yếu tố tĩnh" bất biến trong thiết kế áo dài của phụ nữ Việt?
Luận án xác định hình dáng hình thang thân dài và kết cấu hai tà "mở" từ vị trí thắt eo (kết hợp mặc với quần dài) là yếu tố tĩnh mang tính đặc trưng cốt lõi của áo dài Việt, phân biệt hoàn toàn với trang phục của các tộc người và quốc gia khác.
2. Luận án giải quyết giả thuyết áo dài Việt tiếp thu tạo hình áo dài người Chăm như thế nào?
Dựa trên khảo cứu tượng thờ và hiện vật bảo tàng, luận án chỉ ra áo dài phụ nữ Chăm là dạng áo chui đầu không xẻ tà, trong khi tiền thân áo dài Việt là áo năm thân cổ giao lãnh phát triển sang áo năm thân cổ đứng xẻ tà ở eo. Do đó, luận án khẳng định áo dài phụ nữ Việt không tiếp thu yếu tố tạo hình từ trang phục phụ nữ Chăm.
3. Cuộc cách tân áo dài Lemur những năm 1930 đã tiếp thu những kỹ thuật cụ thể nào từ phương Tây?
Họa sĩ Nguyễn Cát Tường đã tiếp thu kỹ thuật dệt vải khổ rộng để giảm số thân áo từ 5 xuống 2 tà (áo hai thân), áp dụng công thức cắt may theo số đo nhân trắc học phương Tây, kỹ thuật chiết ly eo và ngực để ôm sát cơ thể, ráp tay phồng, mở rộng cổ áo và phối hợp với áo lót ngực (corset) của hiệu may Cự Chung.
4. Điểm khác biệt căn bản về kết cấu giữa áo dài phụ nữ Việt và sườn xám (Qi Pao) Trung Hoa là gì?
Sườn xám Trung Hoa là dạng váy liền thân một mảnh xẻ tà hai bên hông và để lộ chân trần khi mặc; trong khi áo dài phụ nữ Việt là kết cấu dạng áo hai tà xẻ cao ngang thắt eo và bắt buộc phải mặc phủ bên ngoài một chiếc quần dài.
5. Vì sao luận án lựa chọn mốc thời gian kết thúc khảo sát vào năm 2017?
Năm 2017 là thời điểm bùng nổ nhiều trào lưu thiết kế áo dài cách tân mới (như áo dài kết hợp váy xòe ngắn) gây ra nhiều cuộc tranh luận gay gắt trong dư luận xã hội và truyền thông về chuẩn mực tạo hình cũng như nguồn gốc của áo dài truyền thống.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Loan đã giải quyết một cách khoa học và hệ thống tiến trình tiếp biến trong nghệ thuật thiết kế áo dài của phụ nữ Việt giai đoạn 1930–2017 dưới lăng kính liên ngành Nghệ thuật học và Lịch sử Mỹ thuật. Công trình xác lập rõ ranh giới giữa yếu tố tĩnh bất biến (hình dáng hình thang thân dài, kết cấu hai tà mở ở eo) và yếu tố động linh hoạt (màu sắc, chất liệu, trang trí), đồng thời làm sáng tỏ các luận điểm về nguồn gốc trang phục dân tộc. Đây là tài liệu học thuật có đóng góp thiết thực cho công tác đào tạo thiết kế thời trang, nghiên cứu mỹ thuật và bảo tồn di sản văn hóa mặc của Việt Nam.