Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ nghệ thuật với đề tài "Nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945" do nghiên cứu sinh Hoàng Minh Đức thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Thị Thanh Mai, thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật (mã số: 9210101) tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (Hà Nội, 2022).
| Thông tin tổng quan |
Chi tiết |
| Tên đề tài |
Nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 |
| Nghiên cứu sinh |
Hoàng Minh Đức |
| Người hướng dẫn |
PGS.TS Bùi Thị Thanh Mai |
| Chuyên ngành |
Lý luận và lịch sử mỹ thuật (Mã số: 9210101) |
| Cơ sở đào tạo |
Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam |
| Năm bảo vệ |
2022 |
| Dung lượng văn bản |
Mở đầu (08 trang), 3 Chương chính (138 trang), Kết luận (03 trang), Tài liệu tham khảo (09 trang), Phụ lục (75 trang) |
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Lụa là chất liệu gắn liền với lịch sử Á Đông và có truyền thống lâu đời tại Việt Nam thông qua nghề trồng dâu nuôi tằm từ thời Lý. Tuy nhiên, trước thế kỷ XVII, tư liệu về tranh lụa Việt Nam hầu như vắng bóng, ngoại trừ một số tác phẩm chân dung từ thế kỷ XVII - XVIII còn lưu giữ được như tranh chân dung Nguyễn Trãi, Phùng Khắc Khoan, Trịnh Đình Kiên. Đến đầu thế kỷ XX, mỹ thuật Việt Nam chủ yếu đóng khung trong nghệ thuật thủ công truyền thống, điêu khắc dân gian và tranh tôn giáo, nơi họa sĩ đóng vai trò phụ trợ cho kiến trúc.
Sự kiện thành lập Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1924 (bắt đầu đào tạo khóa I năm 1925 và tốt nghiệp năm 1930) đã mở ra bước chuyển biến cho hội họa hiện đại. Giai đoạn 1930 - 1945 được xem là giai đoạn bản lề xác lập sự ra đời của tranh lụa hiện đại Việt Nam, đánh dấu bằng sự ghi nhận của giới chuyên môn quốc tế tại Triển lãm đấu xảo thuộc địa Paris năm 1931 đối với các tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh. Mặc dù vậy, các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận tranh lụa một cách tản mạn trong các công trình lịch sử mỹ thuật tổng quát hoặc chuyên khảo về từng cá nhân họa sĩ. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần một công trình chuyên biệt khảo sát hệ thống, phân tích các đặc điểm tạo hình, kỹ thuật xử lý chất liệu và xác định các giá trị của nghệ thuật tranh lụa giai đoạn 1930 - 1945.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 trên cơ sở nghiên cứu tác giả, tác phẩm giai đoạn này; từ đó khẳng định giá trị nghệ thuật của tranh lụa trong sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khảo sát các công trình trong nước và nước ngoài liên quan đến nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945; làm rõ lịch sử hình thành và phát triển tranh lụa, phân tích những ảnh hưởng của tranh lụa thế giới tới Việt Nam.
- Khái quát về nghệ thuật tranh lụa Việt Nam để hiểu được bối cảnh xã hội nghệ thuật hình thành quan điểm thẩm mỹ của tác giả, tác phẩm tranh lụa giai đoạn 1930 - 1945.
- Nghiên cứu nội dung và hình thức nghệ thuật tranh lụa (nội dung, bố cục, màu sắc, kỹ thuật) để xác định giá trị nghệ thuật của tranh lụa giai đoạn 1930 - 1945.
- Tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật và giá trị của tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.
Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi 1: Nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 biểu hiện như thế nào và có đặc điểm gì?
- Câu hỏi 2: Những thành công của tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 đã đóng góp giá trị nào cho nền mỹ thuật Việt Nam?
- Câu hỏi 3: Nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 chịu ảnh hưởng từ nghệ thuật hiện đại Pháp đầu thế kỷ XX không?
Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết thứ nhất: Những tác phẩm tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 chịu ảnh hưởng từ nghệ thuật Pháp, mang phong cách tạo hình hiện đại kết hợp với tư duy tạo hình Á Đông.
- Giả thuyết thứ hai: Nghệ thuật tạo hình tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 là cơ sở phát triển tranh lụa ở các giai đoạn sau.
- Giả thuyết thứ ba: Tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 đã để lại những giá trị nghệ thuật quan trọng và đóng góp cho nền nghệ thuật dân tộc nước nhà.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm tạo hình của nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1930 (thời điểm khóa I Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tốt nghiệp, mở đầu cho việc tác phẩm của Nguyễn Phan Chánh được quốc tế biết đến tại Paris năm 1931) đến năm 1945 (thời điểm Nhật đảo chính Pháp, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đóng cửa, kết thúc giai đoạn đào tạo do người Pháp trực tiếp quản lý).
- Phạm vi không gian: Các sáng tác tranh lụa trong giai đoạn 1930 - 1945 của các tác giả Việt Nam sinh sống trong và ngoài nước từng theo học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, có tác phẩm được lưu giữ tại các bảo tàng trong nước, quốc tế và các bộ sưu tập tư nhân.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã phân loại các tài liệu tham khảo theo hai nhóm hướng tiếp cận chính:
Nhóm các công trình tiếp cận từ hướng lịch sử, văn hóa, xã hội
- Học giả trong nước:
- Đào Duy Anh (1938/2000), Việt Nam văn hóa sử cương: Phân tích bối cảnh xã hội, vai trò trung tâm của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương trong cuộc cải tạo nghệ thuật dân tộc chuyển dần từ tôn giáo sang thế tục.
- Nguyễn Văn Huyên (1939/1944/2017), Văn minh Việt Nam (La civilisation annamite): Nhận định về sự chuyển biến của mỹ thuật bản địa từ chỗ phụ trợ cho kiến trúc sang hội họa giá vẽ hiện đại với tên tuổi của Nam Sơn, Nguyễn Phan Chánh, Mai Trung Thứ, Lê Phổ, Trần Bình Lộc.
- Phan Ngọc (2006, 2018) với Bản sắc văn hóa Việt Nam, Sự tiếp xúc của văn hóa Việt Nam với Pháp và Trần Ngọc Thêm (1996) với Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam: Cung cấp cơ sở lý luận về tiếp xúc văn hóa, đối sánh các yếu tố văn hóa Trung Hoa và Pháp trong tâm thức người Việt.
- Chu Quang Trứ (2002), Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật: Phân tích vị thế khởi đầu của họa sư Nam Sơn và đặc trưng giao lưu tiếp biến văn hóa mỹ thuật.
- Paul Doumer (1903/2016), Xứ Đông Dương - hồi ký (L'Indo-Chine française): Khái quát bức tranh xã hội, kinh tế và ghi nhận năng khiếu thẩm mỹ của thợ thủ công người An Nam đầu thế kỷ XX.
- Học giả nước ngoài:
- Trois Écoles d’Art de l’Indochine Hanoi - Phnompenh - BienHoa (1931) và Marie-Agathe Simonetti (2007), The Ecole des Beaux-Arts de l’Indochine: Victor Tardieu and French Art Between the Wars: Ghi chép chương trình đào tạo, chính sách và bối cảnh thành lập Trường Mỹ thuật Đông Dương.
- Henri Oger (1908 - 1909/2009), Kỹ thuật của người An Nam (Technique du peuple Annamite): Cung cấp tư liệu tạo hình dân tộc học qua 4.200 tranh khắc gỗ về thợ thủ công và đời sống xã hội.
- Claude Mahoudot (1943), Nền hội họa Pháp ảnh hưởng ở Đông Dương (Tạp chí Indochine, số 171): Khảo cứu các trào lưu nghệ thuật Pháp tác động đến hội họa Việt Nam.
Nhóm các công trình tiếp cận từ hướng mỹ thuật
- Học giả trong nước:
- Quang Phòng, Quang Việt (1993, 2005, 2015) qua các ấn phẩm về lịch sử Trường Mỹ thuật Đông Dương và các thế hệ họa sĩ.
- Nguyễn Quân (2005, 2008) với Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20, Con mắt nhìn cái đẹp, Ghi chú về nghệ thuật, Ngôn ngữ của hình và màu sắc: Đưa ra các luận điểm về tâm lý thị giác, ngôn ngữ hình - màu và các khái niệm "Tình Việt ở lụa", "Hồn Việt ở lụa".
- Nguyệt Tú, Nguyễn Phan Cảnh (1979, 2006, 2009), Nguyễn Văn Chung (1992) và Kỷ yếu Hội thảo 100 năm ngày sinh Nguyễn Phan Chánh (1992): Tư liệu chuyên khảo về cuộc đời, tác phẩm và kỹ thuật vẽ lụa của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh.
- Lương Xuân Đoàn, Lê Đức Cường (2003): Nghiên cứu tác phẩm hội họa và đồ họa của Lương Xuân Nhị.
- Nguyễn Thụ (1995), Kỹ thuật tranh lụa Việt Nam: Giới thiệu kỹ thuật xử lý mặt lụa, phương pháp vẽ ướt, rửa lụa, nhuộm màu.
- Trịnh Quang Vũ (2008), Trương Phi Đức (2011), Hoàng Công Luận - Lưu Yên (1993), Lâm Ngữ Đường (2010): Phân tích lịch sử tranh lụa cổ Việt Nam, hội họa Trung Hoa, Nhật Bản, lý thuyết Lục pháp luận của Tạ Hách và sự so sánh kỹ thuật vẽ lụa Đông Á.
- Kỷ yếu Hội thảo Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (2011), vựng tập triển lãm tranh lụa của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (1997, 2007, 2008).
- Thái Bá Vân (2009), Tiếp xúc với nghệ thuật: Đánh giá việc truyền thụ phương pháp phối cảnh khoa học phương Tây tại Trường Mỹ thuật Đông Dương.
- Học giả nước ngoài:
- Henri Gourdon (1933/2017), Nghệ thuật xứ An Nam: Đánh giá sự kết hợp giữa kỹ thuật phương Tây và tinh thần bản địa trong giảng dạy của Victor Tardieu.
- Hiệp hội Paris-Musées (1998), Paris - Hanoi - Saigon, l’aventure de l’art moderne au Vietnam: Khảo cứu các tác phẩm tranh lụa 1930 - 1945 trong các bộ sưu tập nước ngoài.
Khoảng trống luận án giải quyết
Mặc dù các tài liệu trên đã phản ánh lịch sử thành lập trường đào tạo hoặc phân tích các tác giả riêng lẻ, nhưng chưa có công trình nào tập hợp và đối sánh một cách toàn diện nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 dưới góc độ lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa, phân tích sâu về đặc điểm tạo hình, chất liệu, kỹ thuật vẽ rửa lụa và khẳng định vị trí nền tảng của giai đoạn này đối với sự phát triển của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung khái niệm và lý thuyết nghiên cứu
- Hệ thống khái niệm:
- Nghệ thuật: Hoạt động nhận thức của con người bằng phương tiện hình tượng, là sản phẩm của tài khéo léo, trí tưởng tượng và sự sáng tạo chứa đựng giá trị thẩm mỹ.
- Tranh lụa: Thể loại hội họa vẽ trên nền lụa tơ tằm. Tên gọi thể loại được xác định dựa vào đặc tính chất liệu làm nền (khác với sơn dầu, sơn mài gọi theo chất liệu màu vẽ). Tranh lụa Việt Nam sử dụng các chất liệu màu như màu nước, phẩm, bột màu, mực nho vẽ trên nền lụa tơ tằm thủ công hoặc công nghiệp.
- Nghệ thuật tranh lụa Việt Nam: Nghệ thuật hội họa vẽ trên lụa tơ tằm của các nghệ sĩ Việt Nam, hàm chứa các giá trị nghệ thuật thông qua yếu tố tạo hình (đường nét, hình dạng, không gian, màu sắc, độ sáng), kỹ thuật thể hiện (vẽ khô, vẽ ướt, rửa lụa), phản ánh bối cảnh văn hóa, xã hội và tư duy thẩm mỹ dân tộc.
- Khung lý thuyết ứng dụng:
- Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa (Acculturation): Giải thích sự tương tác giữa văn hóa bản địa Việt Nam với nghệ thuật phương Tây (Pháp) và truyền thống nghệ thuật Á Đông (Trung Hoa, Nhật Bản). Quá trình này bao gồm việc tiếp nhận có chọn lọc các quy luật thị giác, giải phẫu, viễn cận khoa học của hội họa hàn lâm phương Tây, kết hợp với tư duy không gian ước lệ, bảng màu trầm ấm và tâm thức Á Đông để định hình một phong cách nghệ thuật tranh lụa mang tính dân tộc.
- Thuyết khuếch tán văn hóa (Cultural diffusion): Định vị sự lan tỏa các trung tâm văn hóa và sự biến đổi của các yếu tố ngoại sinh khi vào môi trường bản địa Việt Nam.
(Giao lưu & Tiếp biến)
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp hướng tiếp cận liên ngành (sử học, văn hóa học, xã hội học) và tiếp cận mỹ thuật học. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp thu thập và phân loại thông tin: Hệ thống hóa tư liệu lịch sử, văn bản nghị định, chương trình đào tạo và danh mục tác phẩm.
- Phương pháp phân tích tài liệu: Khảo sát các trước tác lý luận, phê bình mỹ thuật và hồ sơ lưu trữ liên quan đến Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.
- Phương pháp thống kê: Tổng hợp số liệu tác giả, tác phẩm tranh lụa sáng tác từ năm 1930 đến năm 1945 đang lưu giữ tại các bảo tàng và sưu tập tư nhân.
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên môn của các nhà nghiên cứu mỹ thuật, họa sĩ chuyên về chất liệu lụa.
- Phương pháp so sánh: Đối sánh các yếu tố tạo hình, bảng màu, kỹ thuật giữa tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 với tranh lụa cổ Trung Hoa, tranh lụa Nhật Bản (Nihonga) và tranh lụa cổ Việt Nam thời Hậu Lê.
- Phương pháp phân tích tác phẩm: Đánh giá trực tiếp các yếu tố thị giác (đường nét, hình mảng, không gian, đậm nhạt, sắc độ, kỹ thuật rửa lụa) trên các tác phẩm tiêu biểu.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Tư liệu được khảo cứu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, Viện Mỹ thuật, Thư viện Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, Thư viện Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, Thư viện Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; cùng các nguồn tài liệu quốc tế tại Thư viện Bảo tàng Guimet, Bảo tàng Cernuschi (Pháp) và các ấn phẩm từ các nhà đấu giá, bảo tàng nước ngoài.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về nghệ thuật tranh lụa
Chương 1 (42 trang) hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trước đó, xác lập hệ thống khái niệm, cơ sở lý thuyết tiếp biến văn hóa và phục dựng bức tranh lịch sử tranh lụa thế giới và Việt Nam:
- Lịch sử tranh lụa thế giới:
- Trung Hoa: Lịch sử dệt lụa hơn 5.000 năm; tranh lụa xuất hiện từ thời Chu, Chiến Quốc (các tác phẩm Bạch họa tiêu biểu khai quật tại Trường Sa, Hồ Nam như Long phượng sỹ nữ đồ, Ngự long nhân vật đồ và phướn lụa Mawangdui thời Tây Hán). Lụa phát triển thành thể loại nghệ thuật đỉnh cao qua các triều đại Đường, Tống với các đề tài sơn thủy, nhân vật, hoa điểu và lý thuyết Lục pháp luận của Tạ Hách.
- Nhật Bản: Tiếp thu kỹ thuật từ Trung Hoa qua các thời kỳ Nara, Heian, Kamakura, Muromachi, hình thành dòng tranh Nihonga vẽ bằng mực tàu, khoáng màu trên lụa và giấy cuộn (tiêu biểu như bình phong Senzui Byobu thế kỷ XI).
- Hàn Quốc: Phát triển từ thời Tam quốc (Goguryeo), Silla, Goryeo đến đỉnh cao thời Joseon với các tác phẩm phản ánh chân thực đời sống sinh hoạt của danh họa Shin Yun-bok (Hyewon).
- Ấn Độ và Thái Lan: Lịch sử sản xuất tơ lụa lâu đời gắn liền với các nền văn minh thung lũng Indus và Đông Nam Á cổ đại.
- Lịch sử tranh lụa Việt Nam:
- Giai đoạn truyền thống: Dấu tích nghề ươm tơ từ thời Hùng Vương (truyền thuyết Mỵ Nương Thiều Hoa), phát triển thời Lý, Lê. Di sản tranh lụa cổ còn lại gồm các tranh thờ, chân dung thế kỷ XVII - XVIII: Chân dung Nguyễn Trãi (nhà thờ họ Nguyễn, Nhị Khê), Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Quán Nho, Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Quý Kính, Tả thái tử kiến trung hầu Trịnh Đình Kiên (1715 - 1786). Tranh lụa cổ mang tính ước lệ, bố cục trang nghiêm, nét vẽ tả chân kết hợp màu sắc tự nhiên (chu sa, thần sa, kim ngân).
- Sự thành lập Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1924): Vai trò của họa sĩ Victor Tardieu và cộng sự Nam Sơn. Trường chính thức tuyển sinh khóa I năm 1925, áp dụng phương pháp đào tạo hàn lâm phương Tây (luật viễn cận, giải phẫu, hình họa) kết hợp nghiên cứu mỹ thuật truyền thống và thử nghiệm chất liệu bản địa (sơn mài, lụa).
- Mốc lịch sử 1931: Tác phẩm tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh tại Triển lãm Paris 1931 đã xác lập vị thế của tranh lụa hiện đại Việt Nam. Nghị định tổ chức lại nhà trường năm 1938 dưới thời Hiệu trưởng Évariste Jonchère tiếp tục hoàn thiện cơ cấu đào tạo mỹ thuật và mỹ thuật ứng dụng.
Chương 2: Nội dung và hình thức nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
Chương 2 (52 trang) đi sâu phân tích hệ thống tác phẩm tranh lụa trong giai đoạn 1930 - 1945 trên hai bình diện nội dung và hình thức:
- Nội dung thể hiện trong tranh lụa Việt Nam:
- Đề tài sinh hoạt: Chiếm vị trí chủ đạo, phản ánh chân thực đời sống sinh hoạt bình dị của người dân bản xứ, đặc biệt là hình ảnh nông thôn miền Bắc, cảnh phụ nữ may vá, chải tóc, trẻ em chơi trò chơi dân gian (tiêu biểu trong các sáng tác của Nguyễn Phan Chánh như Chơi ô ăn quan, Rửa rau cầu ao, Lên đồng, Đi chợ về...).
- Đề tài chân dung: Khắc họa vẻ đẹp người phụ nữ thành thị và nông thôn thời kỳ giao thời với nét dịu dàng, kín đáo; chân dung thiếu nữ, người mẹ và trẻ em (các sáng tác của Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Lương Xuân Nhị, Nam Sơn, Tô Ngọc Vân).
- Đề tài tĩnh vật: Miêu tả hoa sen, hoa cúc, bình gốm, hoa quả mùa nhiệt đới mang tính thẩm mỹ tao nhã và thanh tịnh.
- Đề tài phong cảnh: Tái hiện phong cảnh nông thôn, cây đa, bến nước, chùa chiền, đường làng, cảnh sinh hoạt ven sông Hồng và miền núi Tây Bắc.
- Hình thức thể hiện của tranh lụa Việt Nam:
- Về bố cục: Sự kết hợp giữa quy luật viễn cận, bố cục không gian ba chiều của phương Tây với tư duy bố cục mảng phẳng, khoảng trống ước lệ và góc nhìn từ trên cao (phối cảnh chim bay) của hội họa phương Đông. Bố cục thường tập trung vào các mảng hình khúc chiết, chắt lọc đường nét, không gian thoáng đãng.
- Về màu sắc và kỹ thuật thể hiện: Họa sĩ Việt Nam đã sáng tạo kỹ thuật vẽ lụa riêng biệt không dùng lớp bồi dày trước khi vẽ như lối Công bút Trung Hoa, mà vẽ trực tiếp màu nước, phẩm màu, mực nho lên mặt lụa tơ tằm chưa bồi keo. Kỹ thuật nhuộm màu nhiều lần từ nhạt đến đậm kết hợp với việc rửa lụa bằng nước sạch giúp hạt màu ngấm sâu vào từng thớ sợi tơ tằm, tạo nên sắc độ êm dịu, mờ ảo, mềm mại, hòa quyện giữa các mảng màu mà không bị khô ráp hay lộ viền nét thô cứng. Bảng màu giai đoạn này nghiêng về tông trầm ấm, đằm thắm (nâu sồng, đen mực nho, vàng rơm, trắng ngà, xanh lục nhạt).
Chương 3: Bàn luận về nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
Chương 3 (44 trang) tổng hợp, luận giải các đặc điểm và khẳng định giá trị nghệ thuật:
- Đặc điểm nghệ thuật của tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945:
- Tính dung hợp thẩm mỹ Đông - Tây: Vận dụng cấu trúc hình họa chuẩn xác, giải phẫu học cơ thể người và chiều sâu không gian phương Tây nhưng biểu đạt bằng tinh thần tiết chế, đường nét thanh thoát và nhịp điệu ước lệ Á Đông.
- Tính dân tộc và chất trữ tình bản địa: Hình tượng con người và phong cảnh Việt Nam được thể hiện qua cái nhìn nhân văn, giàu cảm xúc, thấm đượm tâm hồn dân tộc mà không sao chép nguyên mẫu tranh lụa cổ điển Trung Hoa hay Nhật Bản.
- Khai thác triệt để đặc tính vật liệu: Tận dụng tối đa sớ lụa tơ tằm mềm, thưa, tạo hiệu ứng mờ nhòe quang học qua kỹ thuật rửa nước.
- Giá trị nghệ thuật của tranh lụa Việt Nam:
- Giá trị lịch sử - văn hóa: Phản ánh chân thực diện mạo xã hội và con người Việt Nam trong giai đoạn biến chuyển văn hóa nửa đầu thế kỷ XX; là bằng chứng sinh động cho quá trình tiếp biến văn hóa thành công của trí thức và nghệ sĩ bản địa.
- Giá trị tạo hình và thẩm mỹ: Xác lập diện mạo độc lập cho thể loại tranh lụa hiện đại Việt Nam trong dòng chảy mỹ thuật thế giới, tạo ra ngôn ngữ tạo hình lụa riêng biệt được bảo tàng và giới phê bình quốc tế công nhận.
- Giá trị mở đường và kế thừa: Đặt nền tảng vững chắc về kỹ thuật, bảng màu và quan niệm tạo hình cho các thế hệ họa sĩ tranh lụa Việt Nam ở các giai đoạn sau (giai đoạn kháng chiến, hòa bình lập lại, thời kỳ Đổi mới và đương đại).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Hệ thống hóa toàn diện tư liệu tranh lụa 1930 - 1945: Luận án tập hợp và phân loại một khối lượng lớn tư liệu, danh mục tác phẩm và tiểu sử sáng tác của các thế hệ họa sĩ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương vẽ trên chất liệu lụa hiện đang phân tán tại các bảo tàng trong nước, quốc tế và các bộ sưu tập tư nhân.
- Làm sáng tỏ đặc trưng tạo hình dưới góc độ tiếp biến văn hóa: Bằng việc ứng dụng lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa, luận án luận giải thành công cơ chế kết hợp giữa nguyên lý tạo hình hàn lâm phương Tây (Pháp) và thẩm mỹ truyền thống phương Đông, chỉ ra bản sắc thẩm mỹ riêng biệt của tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 so với tranh lụa Trung Hoa và Nhật Bản.
- Xác định các giá trị thẩm mỹ và kỹ thuật cốt lõi: Luận án phân tích sâu kỹ thuật vẽ lụa kết hợp rửa nước - một sáng tạo kỹ thuật đặc trưng của các họa sĩ Việt Nam, giúp định danh chất liệu và khẳng định vị trí bản lề của giai đoạn 1930 - 1945 trong tiến trình lịch sử mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX.
Ý nghĩa thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Tài liệu tham khảo chuyên ngành: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử mỹ thuật Việt Nam, kỹ thuật chất liệu lụa tại các trường đại học mỹ thuật và viện nghiên cứu văn hóa nghệ thuật.
- Kiến nghị bảo tồn và phát huy giá trị: Đề xuất các giải pháp đối với công tác bảo quản, phục chế chất liệu tranh lụa tại các bảo tàng trước sự xuống cấp của vật liệu hữu cơ tơ tằm dưới tác động của khí hậu nhiệt đới; đồng thời tăng cường nghiên cứu, giám định tác phẩm tranh lụa thời kỳ Đông Dương đang lưu lạc trong các bộ sưu tập tư nhân quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Phạm vi đối tượng: Luận án giới hạn khảo cứu tác phẩm của các họa sĩ theo học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương trong khung thời gian 1930 - 1945, chưa mở rộng sang các sáng tác dân gian hoặc các hình thức tranh tôn giáo cùng thời kỳ không xuất phát từ trường quy.
- Điều kiện tiếp cận hiện vật: Do nhiều tác phẩm tranh lụa giai đoạn 1930 - 1945 thuộc quyền sở hữu của các nhà sưu tập tư nhân nước ngoài hoặc đã bị thất lạc, hư hại do chiến tranh và khí hậu, việc tiếp cận trực tiếp để đo đạc và phân tích hóa lý vật liệu còn gặp nhiều khó khăn, một số tác phẩm phải khảo sát qua tư liệu ảnh và vựng tập lưu trữ.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng nghiên cứu đối sánh sự chuyển biến về ngôn ngữ tạo hình và kỹ thuật tranh lụa Việt Nam ở các giai đoạn kế tiếp (1945 - 1954, 1954 - 1975 và giai đoạn Đổi mới từ 1986 đến nay).
- Đi sâu nghiên cứu chuyên ngành bảo tồn - phục chế đối với chất liệu tơ tằm và bột màu truyền thống trên tranh lụa Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng trong giới học thuật và quản lý văn hóa:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật, Hội họa, Sư phạm mỹ thuật, Văn hóa học; đặc biệt là phần phân tích kỹ thuật tạo hình và lý thuyết tiếp biến văn hóa ở Chương 1 và Chương 2.
- Giảng viên mỹ thuật: Dùng làm giáo trình tham khảo cho các học phần Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, Nghệ thuật học và Kỹ thuật chất liệu hội họa lụa.
- Cán bộ bảo tàng, nhà nghiên cứu và giám tuyển: Hữu ích trong công tác kiểm kê, giám định niên đại, thẩm định phong cách tác phẩm tranh lụa thời kỳ Đông Dương, cũng như xây dựng các hồ sơ khoa học phục vụ trưng bày và bảo tồn di sản nghệ thuật dân tộc.
Câu hỏi thường gặp
1. Căn cứ nào để tác giả xác định khung thời gian nghiên cứu từ năm 1930 đến năm 1945?
Khung thời gian 1930 - 1945 được xác định dựa trên hai mốc lịch sử cụ thể trong đào tạo và phát triển mỹ thuật:
- Năm 1930: Là thời điểm khóa I của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tốt nghiệp, dẫn đến việc các tác phẩm tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh được gửi tham dự và ghi nhận tại Triển lãm đấu xảo thuộc địa Paris năm 1931, chính thức định danh tranh lụa hiện đại Việt Nam.
- Năm 1945: Là thời điểm Nhật đảo chính Pháp, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đóng cửa, chấm dứt giai đoạn đào tạo mỹ thuật hàn lâm do người Pháp trực tiếp quản lý và giảng dạy.
2. Sự khác biệt cơ bản về kỹ thuật giữa tranh lụa truyền thống Á Đông và tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 là gì?
Tranh lụa cổ truyền thống Trung Hoa thường bồi lụa bằng keo hồ dày trước khi vẽ theo lối Công bút (tả chi tiết, viền nét rõ, đắp lớp màu khoáng dày) hoặc Tả ý trên nền lụa khô. Ngược lại, các họa sĩ Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 sử dụng mặt lụa tơ tằm mỏng chưa bồi keo, thực hiện kỹ thuật vẽ ướt, nhuộm màu nhiều lớp từ nhạt đến đậm và rửa nhẹ bề mặt lụa bằng nước sạch. Kỹ thuật này giúp hạt màu ngấm sâu vào từng sợi tơ, phô diễn được sớ lụa và tạo hiệu quả thị giác mềm mại, mờ ảo, không lộ viền nét thô.
3. Vai trò của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và họa sĩ Victor Tardieu đối với sự hình thành tranh lụa hiện đại Việt Nam là gì?
Họa sĩ Victor Tardieu đã vận động thành lập trường (năm 1924) với chủ trương không bài xích truyền thống mà hướng dẫn học viên bản địa quay về tìm nguồn cảm hứng từ nghệ thuật dân tộc, đồng thời trang bị phương pháp tạo hình khoa học phương Tây (luật viễn cận, giải phẫu, hình họa ánh sáng). Môi trường đào tạo này đã tạo điều kiện cho các họa sĩ thử nghiệm thành công kỹ thuật vẽ màu nước trên lụa tơ tằm bản địa, biến một chất liệu thủ công thành một thể loại hội họa hiện đại mang bản sắc riêng.
4. Luận án đã điểm lại những tác phẩm tranh lụa cổ tiêu biểu nào của Việt Nam trước thế kỷ XX?
Luận án ghi nhận các tác phẩm tranh lụa cổ vẽ chân dung và tranh thờ còn lưu giữ được từ thế kỷ XVII - XVIII:
- Chân dung Nguyễn Trãi (tại nhà thờ họ Nguyễn, Nhị Khê, Thường Tín, Hà Tây cũ - nay thuộc Hà Nội).
- Chân dung Tả thái tử kiến trung hầu Trịnh Đình Kiên (1715 - 1786) (kích thước 120 x 180 cm, tranh cuộn).
- Các tranh chân dung danh thần khác như Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Quán Nho, Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Quý Kính.
5. Khung lý thuyết nào được luận án sử dụng làm nền tảng để phân tích nghệ thuật tranh lụa giai đoạn này?
Luận án sử dụng Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa (Acculturation) kết hợp thuyết khuếch tán văn hóa. Khung lý thuyết này giúp giải thích quá trình các họa sĩ Việt Nam tiếp thu có chọn lọc các quy chuẩn hàn lâm phương Tây và truyền thống hội họa Á Đông, biến đổi và bản địa hóa các yếu tố ngoại sinh trên nền tảng tâm thức, chất liệu và mỹ cảm dân tộc để tạo nên diện mạo riêng cho tranh lụa Việt Nam.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Hoàng Minh Đức đã thực hiện khảo cứu toàn diện về nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn bản lề 1930 - 1945 trên các phương diện lịch sử, nội dung đề tài, ngôn ngữ tạo hình và kỹ thuật chất liệu. Thông qua khung lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa cùng các phương pháp tiếp cận mỹ thuật học, công trình đã làm sáng tỏ sự kết hợp giữa kỹ thuật tạo hình phương Tây và mỹ cảm Á Đông trong các sáng tác của thế hệ họa sĩ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Kết quả nghiên cứu không chỉ hệ thống hóa nguồn tư liệu tác giả, tác phẩm quý giá mà còn khẳng định vị thế vững chắc của tranh lụa trong tiến trình phát triển của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam.