chương 1 và phân tích tác phẩm ở chương 2. Những công trình nghiên cứu về nghệ thuật truyền thống, tranh lụa Trung Hoa và Nhật Bản trong tương quan với tranh lụa Việt Nam như Hội họa cổ Trung Hoa, Nhật Bản của tác giả Hoàng Công Luận, Lưu Yên (1993) [50], Tranh lụa Trung Quốc và Việt Nam sự tương đồng và khác biệt của tác giả Trương Phi Đức (2011) [26], Những bức tranh lụa cổ nhất Việt Nam Trịnh Quang Vũ (2008) [109] và Mỹ thuật Trung Quốc của tác giả Lâm Ngữ Đường (2010) [27]… giúp NCS có những hiểu biết về lịch sử tranh Quốc họa Trung Hoa, tranh lụa Trung Hoa, đặc điểm vẽ lụa cổ Trung Hoa, phương pháp thực hành và dụng ý của họa sĩ khi sử dụng các yếu tố nghệ thuật, hiểu về Lục pháp luận của Tạ Hách bàn về hội họa Trung Hoa trong công trình Hội họa cổ Trung Hoa, Nhật Bản và so sánh điểm tương đồng và khác biệt giữa tranh lụa Trung Hoa và Việt Nam thông qua bài viết của tác 19 giả Trương Phi Đức. Đây là cơ sở để tìm đặc điểm nghệ thuật tranh lụa Việt Nam trong quá trình giao lưu tiếp biến với nền nghệ thuật Trung Hoa và ảnh hưởng từ hội họa Pháp. Những tài liệu nghiên cứu đánh giá về tranh lụa, sự phát triển của tranh lụa Việt Nam tập trung chủ yếu nhóm bài đăng trên các tạp chí như Từ chất liệu lụa làng quê đến nghệ thuật tranh lụa Việt Nam của họa sĩ Phạm Thanh Liêm đăng trên tạp chí Mỹ thuật (2002), Tình Việt ở lụa của Nguyễn Quân hay bài viết “Tranh lụa đi về đâu?” của Bùi Như Hương đăng trên tạp chí Thông tin Mỹ thuật (2008).
Những bài viết bàn tới tác phẩm tranh lụa của thế hệ các họa sĩ của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Một số bài nghiên cứu về mang tính chất tổng quát về tranh lụa, nghệ thuật tranh lụa Việt Nam ở các giai đoạn hiện đại khác nhau như Thấy gì và làm gì sau triển lãm tranh lụa Việt Nam 2007? của Phạm Huy Hùng cùng đăng trên tờ Thông tin Mỹ thuật (2008), Tranh lụa Việt Nam vang bóng một thời của tác giả Phạm Quốc Trung đăng trên Thông tin Mỹ thuật - Trường Đại học Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh, số 21-22 (2008), Từ chất lụa làng quê đến nghệ thuật tranh lụa Việt Nam của tác giả Phạm Thanh Liêm đăng trên Tạp chí Mỹ thuật, số 54, Hội Mỹ thuật Việt Nam, Tranh lụa Việt Nam từ 1925 đến 2015 của tác giả Nguyễn Thanh Mai (2016) đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Mỹ thuật, số 3/2016…. Nguồn tư liệu này giúp NCS có sự bao quát về nghệ thuật tranh lụa hiện đại Việt Nam qua các giai đoạn, sự thay đổi về kỹ thuật và chất liệu thể hiện, làm cơ sở cho việc đối chiếu giữa tranh lụa giai đoạn 1930 - 1945 với những giai đoạn khác. Năm 2011, Hội thảo khoa học Kỷ yếu Hội thảo phát huy giá trị bộ sưu tập tranh lụa tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam - Thực trạng và giải pháp được nhiều họa sĩ quan tâm, hội thảo bàn luận về nghệ thuật tranh lụa, giá trị của bộ sưu tập tranh lụa tại bảo tàng (bao gồm những tác phẩm tranh lụa 20 giai đoạn 1930 - 1945), kỹ thuật thể hiện, giải pháp bảo vệ sự xuống cấp của tranh lụa… Đây là tài liệu hữu ích cho NCS trong việc cập nhận thông tin số lượng lưu trữ, tình trạng tác phẩm tranh lụa.
Các công trình trên liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu của luận án đã cung cấp những thông tin hữu ích từ nhiều góc độ khác nhau, là những gợi ý để NCS triển khai nội dung nghiên cứu. Quá trình phát triển của tranh lụa, những thăng trầm, ưu nhược điểm của chất liệu, các tác phẩm được lựa chọn tham dự triển lãm toàn quốc (nội dung, chất lượng…), những trăn trở của các họa sĩ, nhà nghiên cứu cho thể loại này trong gần một thế kỷ qua. Đó là nguồn tư liệu hữu ích cho NCS triển khai các nội dung trong luận án. Những công trình liên quan đến cơ sở lý luận của luận án của tác giả Nguyễn Quân, Đặng Thị Bích Ngân, Lê Bá Dũng và những tác giả khác như Con mắt nhìn cái đẹp (2005) [74], Ghi chú về nghệ thuật (2008) [76], Ngôn ngữ của hình và màu sắc [75], Từ điển mỹ thuật phổ thông (2012) [55], Đại cương mỹ thuật của tác giả Lê Bá Dũng (2012) [22]… Những công trình của tác giả Nguyễn Quân [74, 76, 75] được tác giả tiếp cận từ đặc điểm tâm lý thị giác, phân tích các yếu tố tạo hình (hình khối, đường nét, màu sắc… ) như là những cơ cấu của sáng tạo nghệ thuật.
Bên cạnh đó là lý những giải về phân chia thể loại, kỹ thuật, chất liệu… giúp NCS có cơ sở tham khảo trong quá trình thực hiện nghiên cứu, phân tính, đánh giá tác phẩm. Riêng công trình Con mắt nhìn cái đẹp tác giả Nguyễn Quân đồng nghĩa khái niệm mỹ thuật và nghệ thuật tạo hình, bàn đến cái Đẹp, đồng nhất các yếu tố hình - hình học - hình thị giác và hịnh tâm lý, tưởng tượng là kết quả tổng hợp của hoạt động tinh thần con người, tạo nên cái đẹp, và khi các yếu tố này thống nhất làm một, sẽ tạo nên cái chân - thiện - mỹ trong tác phẩm. Nội dung này được NCS sử dụng như là một trong số những luận 21 điểm nghiên cứu cùng với quan điểm về cái Đẹp của nhà phê bình nghệ thuật Thái Bá Vân trong cuốn sách Tiếp xúc với nghệ thuật do Nxb Mỹ thuật in năm 2009 [99] và một số công trình tập hợp những thuật ngữ liên quan đến mỹ thuật. Công trình này giúp NCS có cơ sở để đưa ra những khái niệm liên quan đến công trình nghiên cứu như tranh lụa, nghệ thuật hội họa, tác phẩm mỹ thuật….
Nghiên cứu về nghệ thuật tranh lụa Việt Nam, họa sĩ Nguyễn Thụ không chỉ là người thường xuyên sáng tác chất liệu này, mà ông còn là tác giả cuốn Kỹ thuật tranh lụa Việt Nam do Nxb Mỹ thuật in năm 1995 [82]. Tác giả cuốn sách trình bày kỹ lưỡng về những đặc trưng độc đáo của chất liệu lụa Việt Nam thông qua phân tích bố cục, màu sắc, chủ đề trong chất liệu, tác giả cũng giới thiệu về kỹ thuật tranh lụa cơ bản, nhằm giúp độc giả, người yêu nghệ thuật tranh lụa và các nhà nghiên cứu bước đầu hiểu và phân biệt các kỹ thuật xử lý và vẽ tranh lụa. Một số vựng tập về tranh lụa Việt Nam được xuất bản như Tranh lụa Việt Nam do Nxb Mỹ thuật in năm 1997 của nhóm tác giả Dương Viên, Trần Lưu Hậu và Hoàng Công Luận tập trung giới thiệu các tác phẩm tranh lụa của các họa sĩ từ năm 1930 đến năm 1997. Vựng tập Triển lãm tranh lụa Việt Nam do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phát hành năm 2007 và Hội thảo triển lãm tranh lụa do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm tổ chức năm 2008 bổ sung thêm các tác phẩm, tác giả sáng tác tranh lụa trong từng giai đoạn từ năm 1930 đến năm 2008.
Đây cũng là nguồn tư liệu tốt giúp nghiên cứu sinh có cơ sở để quan sát, tìm hiểu, phân tích, so sánh tác giả, tác phẩm tốt hơn. Nhóm các công trình tiếp cận từ hướng nghiên cứu về Mỹ thuật của các học giả, nhà nghiên cứu nước ngoài Nghệ thuật xứ An Nam của tác giả Henri Gourdon (2017) [29]. Trong 22 công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp tại Đông Dương, bên cạnh phần mở rộng của lãnh thổ, nghệ thuật Pháp thế kỷ XX cũng không còn giới hạn ở di sản nghệ thuật chính quốc mà bao gồm cả các công trình kiến trúc, tác phẩm hội họa, điêu khắc, trang trí, thủ công mỹ nghệ ở các nước thuộc địa. Đầu thế kỷ XX, các chuyên gia người Pháp trong lĩnh vực này bắt đầu nghiên cứu nghệ thuật bản địa từ Đông Dương đến Madagascar, Bắc Phi, Syria… Năm 1933, cuốn Nghệ thuật xứ An Nam của tác giả Henri Goudon được Nhà xất bản E.
de Boccard xuất bản. Năm 2017, Nxb Nhã Nam đã tiến hành dịch công trình này ra tiếng Việt. Là một giáo viên trường Thuộc địa và Đại học Bordeaux, từ năm 1918 đảm nhiệm vị trí Giám đốc Nha học chính Đông Dương, Henri Goudon đã đưa ra cái nhìn toàn cảnh khách quan về nguồn gốc và các xu hướng nghệ thuật tại xứ An Nam trong cuốn sách. Cuốn sách có những nội dung hữu ích về việc thành lập trường Mỹ thuật Đông Dương và tâm huyết của đội ngũ giáo sư tham gia giảng dạy, đặc biệt là hiệu trưởng Victor Tardieu “Việc thành lập ngôi trường này đã từng gây lo ngại cho những người chỉ đánh giá theo chương trình giảng dạy mà không nắm được tinh thần áp dụng chương trình đó.
Quả thật ta có thể lo ngại rằng cách thức giảng dạy sẽ quá trung thành với cách giảng dạy tại các trường mỹ thuật ở “mẫu quốc” để rồi tạo ra một thế hệ họa sĩ và nhà điêu khắc chỉ còn mang yếu tố An Nam trên thẻ căn cước. Nhưng nếu nhìn vào những thành quả đạt được, ta sẽ thấy đó chỉ là lo ngại viển vông” [29, tr. Paris - Hanoi - Saigon, l’aventure de l’art moderne au Vietnam (Paris - Hà Nội - Sài Gòn, cuộc phiêu lưu của nghệ thuật hiện đại Việt Nam) do Hiệp hội Paris - Musées ấn hành năm 1998. Cuốn sách dày 183 trang giới thiệu về sự ra đời của nghệ thuật hiện đại Việt Nam, những tác phẩm mỹ thuật hiện đại tiêu biểu Việt Nam đặc biệt là những tác phẩm tranh lụa giai đoạn 1930 - 1945 của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Nhật, Tô 23 Ngọc Vân hiện lưu giữ trong sưu tập nước ngoài.
Đây là cơ sở để NCS phân tích tác phẩm lụa và sự phát triển của nghệ thuật tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945. Những công trình nghiên cứu về trường Mỹ thuật Đông Dương, mỹ thuật Việt Nam hiện đại, tác giả, tác phẩm tranh lụa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945… của các nhà nghiên cứu nước ngoài dù không nhiều nhưng phần nào thể hiện sự khách quan của các tác giả trong nghiên cứu đối với một quốc gia phương Đông như Việt Nam. Đồng thời cung cấp cho NCS những quan điểm, đánh giá khách quan của các học giả nước ngoài về mỹ thuật hiện đại Việt Nam, mỹ thuật Việt Nam trong tương quan các nước châu Á, vai trò của Victor Tardieu đối với việc thành lập trường MTĐD, sự giao thoa giữa Tây và Đông trong đào tạo và sáng tác tại trường MTĐD.