Tổng quan luận án

Nghệ thuật trang trí đình làng là một thành tố quan trọng trong kho tàng mỹ thuật truyền thống của người Việt. Tại tỉnh Phú Thọ, hệ thống di tích ghi nhận hơn 200 ngôi đình lớn nhỏ phân bố tại nhiều địa bàn. Trong đó, đình làng Lâu Thượng (ĐLLT) và đình làng Hùng Lô (ĐLHL) tại thành phố Việt Trì là hai công trình có quy mô lớn, được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Hai ngôi đình vừa mang dấu ấn phong cách trang trí thời Hậu Lê (giai đoạn khởi dựng), vừa phản ánh phong cách thời Nguyễn (qua các đợt trùng tu lớn). Mặc dù nằm ở vị trí địa lý tương đối gần nhau (cách nhau khoảng 5 đến 6 km), phong cách tạo hình và nghệ thuật trang trí chạm khắc giữa hai di tích lại có sự khác biệt rõ nét.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận ĐLLT và ĐLHL dưới góc độ lịch sử, văn hóa học, khảo cổ học hoặc khảo tả kiến trúc đơn thuần; nguồn tư liệu về hai ngôi đình chủ yếu nằm ở hồ sơ di tích, tài liệu điền dã nội bộ hoặc các phóng sự ngắn. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên biệt, toàn diện về nghệ thuật trang trí của ĐLLT và ĐLHL dưới góc độ Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ các đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí của ĐLLT và ĐLHL trong hệ thống đình làng Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nhiệm vụ:

  1. Làm rõ tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về ĐLLT và ĐLHL.
  2. Khai thác các biểu hiện của nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL thông qua các hình thức, đề tài và đồ án trang trí.
  3. Phân tích tính hiệu quả trong việc sử dụng các yếu tố nghệ thuật tạo hình như bố cục, không gian và màu sắc trang trí ở hai ngôi đình.
  4. Luận bàn về đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí của ĐLLT và ĐLHL trong hệ thống đình làng Việt Nam.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm:

  • Câu hỏi 1: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL được biểu hiện như thế nào trong các hình thức, đề tài, đồ án, bố cục, không gian và màu sắc trang trí?
  • Câu hỏi 2: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL mang phong cách tạo hình dân gian Việt Nam hay được tiếp biến từ tạo hình mỹ thuật Trung Hoa và Ấn Độ?
  • Câu hỏi 3: Đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL được biểu hiện như thế nào so với các ngôi đình khác trong hệ thống đình làng Việt Nam?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm:

  • Giả thuyết 1: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL được biểu hiện đa dạng trong các hình thức (chạm khắc, tượng, đắp nổi vôi vữa, hoành phi câu đối, đồ thờ), thể hiện qua nhiều đề tài, đồ án, màu sắc, sắp xếp theo các bố cục đối xứng, phân tầng hoặc nương theo kiến trúc.
  • Giả thuyết 2: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL phần lớn mang đậm phong cách tạo hình dân gian cùng mỹ cảm truyền thống của người Việt, bên cạnh sự tiếp biến tạo hình từ mỹ thuật Trung Hoa và Ấn Độ.
  • Giả thuyết 3: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL tuy có nét tương đồng với hệ thống đình làng Việt Nam nhưng sở hữu những đặc trưng riêng biệt (tiêu biểu là hình tượng rồng nhân dạng ở ĐLLT).

Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật trang trí đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Đình Lâu Thượng và đình Hùng Lô tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; tập trung vào các thành phần trang trí như chạm khắc gỗ, tượng tròn, phù điêu vôi vữa, hoành phi, câu đối, tranh vẽ trên ván gỗ và đồ thờ tự.
  • Thời gian: Khung thời gian nghiên cứu giới hạn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XXI (dựa trên mốc khởi dựng của ĐLHL năm 1697, các mảng chạm thế kỷ XVII tại ĐLLT, trải qua các giai đoạn trùng tu thế kỷ XIX và đợt đại tu năm 2008).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong nước được tác giả phân tích theo tiến trình thời gian:

  • Nguyễn Văn Khoan (1930): Công trình Essai sur le đình et le culte du génie tutélaire des villages au Tonkin (BEFEO) nghiên cứu về đình làng Yên Mẫn, tập trung vào tín ngưỡng Thành hoàng, hội làng, tục hèm và đồ thờ, chưa đi sâu vào nghệ thuật chạm khắc kiến trúc.
  • Chu Quang Trứ (1969): Bài viết Về phong cách và niên đại đình Lâu Thượng (tài liệu Viện Nghiên cứu Mỹ thuật) khảo tả niên đại, lý lịch di tích và các mảng chạm khắc, song chưa phân tích sâu các yếu tố ngôn ngữ tạo hình (bố cục, không gian, đồ án). Đến năm 2002, trong công trình Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật, tác giả khảo cứu bài viết Đình Xốm với sự chuyển hóa từ đền sang đình, tiếp cận ĐLHL theo hướng văn hóa học.
  • Nguyễn Anh Tuấn (1996): Luận án tiến sĩ khảo cổ học Cụm đình Tam Canh trong hệ thống đình làng Vĩnh Phú khảo tả sơ bộ ĐLLT và ĐLHL ở phần so sánh các ngôi đình trung du, chưa khai thác sâu tính tạo hình trang trí.
  • Hà Văn Tấn và Nguyễn Văn Kự (1998, tái bản 2013): Cuốn Đình Việt Nam khảo cứu hệ thống đình làng tiêu biểu, cung cấp tư liệu hình ảnh năm 1998 phản ánh hiện trạng hư hại của các mảng chạm ĐLLT trước khi được phục hồi.
  • Nguyễn Văn Cương (2006): Cuốn Mỹ thuật đình làng ở Đồng bằng Bắc Bộ tiếp cận mỹ thuật đình làng dưới góc độ nghệ thuật học, có điểm qua tượng Hai Bà Trưng tại ĐLLT và tranh trang trí tại ĐLHL nhưng chưa khảo sát toàn diện hai di tích.
  • Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam (2013): Tập tài liệu Đình làng vùng Châu thổ Bắc Bộ xác định vị trí ĐLLT và ĐLHL thuộc giai đoạn phát triển hưng thịnh của đình làng vùng đồng bằng và trung du.
  • Trần Lâm Biền (2011, 2013, 2014): Trong Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt (2011), tác giả khái quát các tầng ý nghĩa biểu tượng hoa văn; trong Con đường tiếp cận lịch sử (2013), tác giả khẳng định sự tồn tại của một dòng nghệ thuật riêng tại ĐLLT và ĐLHL với hình tượng "những con rồng lớn, như quá cỡ"; trong Đình làng Việt (Châu thổ Bắc Bộ) (2014), tác giả tổng thuật mỹ thuật đình làng nhưng không lấy dẫn chứng cụ thể từ hai ngôi đình này.
  • Viện Bảo tồn Di tích (2017): Cuốn thể loại khảo tả Kiến trúc đình làng Việt (Tập 1) cung cấp bản vẽ đạc họa kỹ thuật mặt bằng, mặt cắt của ĐLHL, chưa có bản vẽ đạc họa ĐLLT và hệ thống đồ án trang trí chi tiết.

Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước:

  • Pierre Gourou (thập niên 1930): Cuốn Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (EFEO) khảo tả địa lý nhân văn và đạc họa kiến trúc đình Đình Bảng.
  • Léopold Cadière: Công trình Les motifs de l'art Annamite tập hợp các bản vẽ đồ họa họa tiết mỹ thuật truyền thống, song chưa khảo cứu mảng chạm khắc cấu kiện đình làng.
  • Nancy Tingley (2009) với Arts of Ancient Vietnam from river plain to open sea và Kerry Nguyễn Long (2013) với Arts of Viet Nam 1009 - 1945 đề cập đến mỹ thuật cổ Việt Nam qua các triều đại nhưng dung lượng dành cho trang trí đình làng còn hạn chế.

Khoảng trống học thuật được luận án lựa chọn giải quyết: Luận án định vị là công trình nghiên cứu trường hợp chuyên sâu đầu tiên khảo sát toàn diện nghệ thuật trang trí tại ĐLLT và ĐLHL dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, giải mã các giá trị tạo hình, biểu tượng và vị trí của hai ngôi đình trong tiến trình mỹ thuật cổ truyền.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung khái niệm và hệ thống thuật ngữ chuyên ngành:

  • Khái niệm trang trí và nghệ thuật trang trí: Tổng hợp các phương tiện tạo hình (đường nét, hình khối, bố cục, màu sắc, chất liệu) kết hợp chặt chẽ với kiến trúc nhằm tạo nên môi trường thẩm mỹ, biểu đạt nội dung tư tưởng và tính biểu tượng văn hóa.
  • Khái niệm đình làng: Thiết chế công cộng đa chức năng (hành chính, văn hóa, tín ngưỡng) của làng xã người Việt, nơi tích hợp nghệ thuật dân gian.
  • Các nguyên tắc trang trí: Đối xứng, nhắc lại, xen kẽ, phá thế, đảo chiều (xoay chiều).
  • Thuật ngữ kiến trúc và điêu khắc: Bộ vì, vì nách (cốn), ván giong (ván gió), đầu bảy, thân kẻ, đầu dư, cửa võng, hoành phi, câu đối, tượng tròn, phù điêu chạm lộng, chạm nổi, chạm kênh bong.

Khung lý thuyết vận dụng trong luận án:

  1. Thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa (Cultural Acculturation): Luận giải quá trình tiếp nhận, tiếp xúc và biến đổi các yếu tố tạo hình ngoại sinh từ mỹ thuật Trung Hoa (thể hiện qua nghi môn, hoành phi, câu đối, cửa võng thế kỷ XIX) và mỹ thuật Ấn Độ (mô típ hoa sen, mặt Rahu biến thể thành rồng nhân dạng, long hàm thọ); đồng thời làm rõ sự kế thừa các yếu tố văn hóa bản địa Đông Sơn (hình tượng thuyền, nhà sàn mái cong, hình ảnh phụ nữ, cảnh sinh hoạt phồn thực, săn bắn).
  2. Thuyết Địa - văn hóa: Ứng dụng quan điểm của Joel Bonnemaison, Trần Quốc Vượng và Ngô Đức Thịnh để phân tích tác động của không gian địa lý trung du Phú Thọ, ngã ba sông (sông Lô, sông Thao), vùng đất cội nguồn thời đại Hùng Vương đến nguồn vật liệu gỗ lớn và đặc trưng văn hóa lúa nước biểu hiện trong nghệ thuật trang trí đình làng.

Phương pháp nghiên cứu thực hiện:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu thứ cấp: Kế thừa và xử lý các nguồn sử liệu, văn bản nghiên cứu chuyên ngành.
  • Phương pháp điền dã: Khảo sát thực địa di tích, chụp ảnh tư liệu, đo đạc kích thước hiện vật và thực hiện các bản vẽ đạc họa đồ án.
  • Phương pháp thống kê, so sánh: Thống kê định lượng số lượng mảng chạm, cấu kiện trang trí; so sánh đối chiếu phong cách mỹ thuật giữa hai ngôi đình và với hệ thống đình làng đồng bằng Bắc Bộ.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức các ngành kiến trúc, lịch sử, văn hóa học, dân tộc học.
  • Phương pháp phân tích đặc thù nghệ thuật học: Phân tích thị giác về hình khối, đường nét, bố cục, ánh sáng, màu sắc, chất liệu, tỷ lệ và giải mã ý nghĩa biểu tượng tạo hình.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về đình làng Lâu Thượng, đình làng Hùng Lô

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu, khung lý thuyết và tổng thuật bối cảnh lịch sử, kiến trúc của hai di tích:

  • Đình làng Lâu Thượng: Tọa lạc tại đồi Lâu Thượng (trước là Kẻ Sủ, sau chia thành thôn Nội và thôn Ngoại; đình thuộc thôn Ngoại nên gọi là đình Ngoại). Đình được xếp hạng di tích quốc gia năm 1975 (nhận bằng năm 1990). Lịch sử xây dựng không ghi rõ năm khởi dựng ban đầu, các văn tự khắc trên câu đầu và cột ghi nhận các đợt trùng tu: năm Tự Đức thứ 5 (1852), Tự Đức năm Nhâm Tý, năm Quý Mão (1783 hoặc niên đại triều Nguyễn), năm Khải Định thứ 2 (1917), năm 1987, năm 1992 và đợt đại tu quy mô lớn năm 2008. Đình thờ 4 vị thần: Cao Sơn báo quốc đại vương (Tản Viên Sơn thần), Ả nương Công chủ đại vương (Trưng Trắc), Bình Khôi công chủ đại vương (Trưng Nhị) và Như Tuy đại vương (thời Lê Anh Tông). Kiến trúc làm theo kiểu chữ Đinh gồm đại đình 5 gian 2 chái (dài 28m, rộng 22m), kết cấu giá chiêng chồng rường, liên kết kẻ suốt, nền chia sàn 3 cấp.
  • Đình làng Hùng Lô: Còn gọi là đình Xốm (thuộc xã An Lão xưa). Khởi dựng từ ngôi miếu cổ thờ Hùng Vương; tòa đại đình được xây dựng vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697) thời Hậu Lê, trùng tu lớn thời Nguyễn, xếp hạng di tích quốc gia năm 1990. Khuôn viên rộng 5000m2 trên gò đất hình mai rùa, quần thể gồm: miếu cổ, đại đình, phương đình, nhà tiền tế, lầu chuông, gác trống, nhà văn chỉ, nhà yến lão, nhà thờ Phật, bệ Thần Nông. Đình thờ Tam vị: Ất Sơn Đại Vương (Hùng Hy Vương / Viêm Lang), Viễn Sơn Đại Vương (Hùng Hoa Vương / Bảo Lang) và Áp Đạo Quan Đại Vương. Kiến trúc đại đình làm theo kiểu chữ Nhất (nhất gian nhị hạ: 1 gian 2 chái, dài 19m, rộng 12m), 4 cột cái đường kính 0,8m, cấu kiện gỗ sơn son thếp vàng.

Chương 2: Hình thức, đề tài và đồ án trang trí đình làng Lâu Thượng, đình làng Hùng Lô

Chương 2 khảo sát chi tiết 5 hình thức trang trí (chạm khắc gỗ, tượng tròn, phù điêu vôi vữa, tranh vẽ trên ván gỗ, đồ thờ tự), tập trung vào các vị trí chạm khắc kiến trúc:

Vị trí cấu kiện Đặc điểm trang trí tại Đình Lâu Thượng Đặc điểm trang trí tại Đình Hùng Lô
Bộ vì Gian giữa nhấn khắc nông ở câu đầu; vì nóc hậu cung chạm kênh bong mảng lớn nối liền vách tả hữu (cuối TK XVIII), mật độ dày đặc rồng, lân, khỉ, rùa, chim. Kết cấu giá chiêng chồng rường, trang trí tập trung ở 2 gian bên với hoạt cảnh thần tiên, con người, muông thú; gian giữa chạm điểm xuyết đầu rường.
Ván giong Hình thức chủ đạo: 8 bức chạm lộng rồng ổ kích thước lớn (6 bức chạm cặp, 2 bức chạm đơn; cao 50–60cm, niên đại cuối TK XVII) kết hợp tiên đồng, ngọc nữ, muông thú. Không sử dụng hình thức chạm khắc trên ván giong.
Đầu bảy Tổng số 22 bức chạm rồng ở bảy hiên (trước 6, sau 4, tả hữu 12), kỹ thuật chạm lộng, đường nét khỏe khoắn. Tổng số 16 bức chạm đầu rồng ở hàng chân cột (15 bức phong cách cuối TK XVII, 1 bức thay thế thời kỳ sau TK XVIII–XIX).
Thân kẻ Chạm khắc giản lược; đầu kẻ chạm rồng thế kỷ XVII, thân kẻ tạo hình đao mác nhẹ (sản phẩm trùng tu). 4 bức chạm đề tài sinh hoạt dân gian: tập trận giả, lễ hội, chèo thuyền, diễn biến nhiều lớp lang (cuối TK XVII).
Cốn (Vì nách) 7 bức cốn: 6 bức chạm rồng ổ phong cách cuối TK XVII, 1 bức chạm Hạc hàm thư niên đại muộn (TK XX–XXI). 7 bức cốn (cuối TK XVII): cảnh rồng tiên, đá cầu, tích Tây du ký, đả hổ, lễ hội âm nhạc, rồng phượng và rắn.
Đầu dư 17 đầu dư chạm rồng: 10 đầu dư dáng ngắn (TK XVII) và 8 đầu dư dáng dài (cuối TK XVIII – đầu TK XIX). Số lượng ít hơn, chạm rồng; tiêu biểu có 1 đầu dư gian trái kết hợp cảnh người đấu vật ở phần thân (cuối TK XVII).
Cửa võng, Hoành phi, Câu đối Cửa võng ghép liền khối hoành phi và câu đối, chia ô hộc giản dị, phủ sơn ta màu nâu đỏ trầm, niên đại cuối TK XVIII – đầu TK XIX. Cửa võng sơn son thếp vàng lộng lẫy, chạm thủng nhiều tầng, hoa văn rèm châu, đèn lồng (TK XVIII); 5 bức hoành phi lớn cùng hệ thống câu đối dày đặc trên các cột.

Các hình thức trang trí khác:

  • Tượng: ĐLLT có tượng thờ Hai Bà Trưng đặt trong khám thượng cung; ngoài ra có hệ thống tượng con giống trang trí bờ nóc, khúc nguỷnh (lân, rồng, si vẫn).
  • Phù điêu đắp nổi vôi vữa: Phổ biến ở nghi môn, trụ biểu, tường bao với kỹ thuật nề ngõa gắn mảnh sứ màu thời Nguyễn.
  • Tranh trang trí trên ván gỗ: Điển hình tại ĐLHL với các bức vẽ phong cảnh, con người, linh thú, hoa lá bằng màu sơn truyền thống (đỏ, vàng, đen, trắng, nâu, xanh) gắn trên trần thiết và vách gỗ.
  • Đồ thờ tự: Hệ thống hương án, bát bửu, chấp kích, hạc thờ chạm khắc tinh xảo.

Chương 3: Bố cục, không gian và màu sắc trang trí đình làng Lâu Thượng, đình làng Hùng Lô

Chương 3 phân tích các nguyên lý tạo hình thị giác:

  • Bố cục trang trí: Sử dụng linh hoạt các nguyên tắc đối xứng (ở các cặp rồng chầu, cửa võng, hoành phi câu đối), phân tầng - phân lớp (trên các bức cốn, vì nóc), nhắc lại và xen kẽ (các mô típ hoa lá, đao mác, cụm mây), phá thế và đảo chiều (hướng vận động của rồng và các nhân vật phụ để tạo nhịp điệu sinh động). Bố cục nương theo cấu trúc hình học của cấu kiện kiến trúc (hình tam giác của cốn nách, dải ngang của ván giong, đường uốn của kẻ, khối vươn của đầu bảy, đầu dư).
  • Không gian trang trí: Tổ chức không gian phân định rõ giữa ngoại đình và nội đình. Ngoại đình tạo điểm nhấn thanh thoát ở hàng bảy hiên, bờ đao, nóc mái; nội đình tạo chiều sâu tâm linh từ gian tiền tế, trung đình đến thượng cung thông qua lớp lang cửa võng, ván nong và hệ thống vì nóc che chắn ước lệ.
  • Màu sắc trang trí: ĐLLT sử dụng sắc độ mộc tự nhiên của chất liệu gỗ kết hợp lớp sơn ta màu đỏ nâu trầm, giữ nguyên vân thớ tạo cảm giác thâm nghiêm. ĐLHL sử dụng kỹ thuật sơn son thếp vàng rực rỡ, tương phản giữa sắc đỏ thắm và ánh vàng lộng lẫy, phối hợp cùng hệ thống tranh màu trên ván gỗ.

Chương 4: Bàn luận về đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí đình làng Lâu Thượng, đình làng Hùng Lô

Chương 4 tổng kết các luận điểm phân tích so sánh:

  • Đặc trưng nghệ thuật: Xác lập đặc trưng "phong cách Lâu Thượng" với mật độ chạm khắc rồng ổ quy mô lớn, kỹ thuật đục lộng kênh bong sâu, xuất hiện hình tượng rồng mang khuôn mặt nhân dạng (biểu hiện tiếp biến từ mặt Rahu). ĐLHL đặc trưng bởi phong cách chạm khắc trữ tình dân dã, phản ánh đậm nét cảnh sinh hoạt thế tục (đá cầu, đấu vật, tập trận giả, lễ hội âm nhạc, tích truyện) kết hợp nghệ thuật sơn thiếp và tranh vẽ trên gỗ.
  • Giá trị nghệ thuật: Khẳng định giá trị điêu khắc dân gian thế kỷ XVII, phản ánh nhân sinh quan, mỹ cảm của cư dân nông nghiệp lúa nước vùng đất Tổ; bảo lưu các dấu ấn biểu tượng văn hóa Đông Sơn và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thời Hùng Vương.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Bổ sung công trình nghiên cứu trường hợp chuyên biệt dưới góc độ Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật về nghệ thuật trang trí tại hai ngôi đình tiêu biểu của tỉnh Phú Thọ.
  • Phân tích và làm sáng tỏ quy luật tạo hình, cấu trúc ngôn ngữ nghệ thuật (hình thức, đề tài, đồ án, bố cục, không gian, màu sắc) và các tầng ý nghĩa biểu tượng của điêu khắc đình làng vùng trung du Bắc Bộ giai đoạn thế kỷ XVII - thế kỷ XXI.
  • Đóng góp tư liệu khoa học và phương pháp luận tạo hình phục vụ công tác giáo dục thẩm mỹ và nghiên cứu lịch sử mỹ thuật dân tộc.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Khảo sát thực địa, hệ thống hóa và bổ khuyết nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác về hệ thống hiện vật, cấu kiện chạm khắc, tranh vẽ, văn tự câu đầu tại ĐLLT và ĐLHL.
  • Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho các nhà nghiên cứu, cơ quan quản lý di tích và ngành văn hóa trong công tác lập hồ sơ khoa học, tu bổ, bảo tồn và phát huy giá trị di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do trải qua nhiều biến cố lịch sử và các đợt trùng tu (đặc biệt là cuối thế kỷ XIX và đợt đại tu năm 2008), một số cấu kiện gỗ nguyên gốc bị hư hại, thay thế hoặc xáo trộn vị trí; nguồn tư liệu thư tịch cổ tại địa phương còn tản mát.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi so sánh nghệ thuật trang trí của ĐLLT và ĐLHL với toàn bộ hệ thống hơn 200 ngôi đình trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và vùng văn hóa xứ Đoài; nghiên cứu sâu hơn về kỹ thuật bảo quản chất liệu gỗ, sơn thếp và phục chế hoa văn cổ truyền.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, Nghệ thuật học, Văn hóa học, Di sản học; các nhà nghiên cứu khảo cổ, kiến trúc cổ; cán bộ quản lý di tích và các kiến trúc sư bảo tồn di sản.
  • Nội dung tham khảo giá trị: Hệ thống bản vẽ đạc họa đồ án hoa văn, bảng phân loại chi tiết các mảng chạm khắc (ván giong, cốn nách, đầu dư, đầu bảy, cửa võng), tư liệu văn tự niên đại trùng tu và các phân tích giải mã biểu tượng tạo hình rồng ổ, rồng nhân dạng và cảnh sinh hoạt dân gian thế kỷ XVII.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án nghiên cứu đối tượng nào và giới hạn trong khung thời gian nào? Luận án nghiên cứu nghệ thuật trang trí tại hai ngôi đình là đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ), giới hạn thời gian từ thế kỷ XVII (thời điểm ĐLHL khởi dựng năm 1697 và niên đại các mảng chạm khắc cổ tại ĐLLT) đến thế kỷ XXI (gắn với đợt đại tu quy mô năm 2008).

  2. Đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô thờ những vị thần nào? Đình Lâu Thượng thờ 4 vị thần: Cao Sơn báo quốc đại vương (Tản Viên Sơn thần), Ả nương Công chủ đại vương (Trưng Trắc), Bình Khôi công chủ đại vương (Trưng Nhị) và Như Tuy đại vương. Đình Hùng Lô thờ Tam vị: Ất Sơn Đại Vương (Hùng Hy Vương), Viễn Sơn Đại Vương (Hùng Hoa Vương) và Áp Đạo Quan Đại Vương.

  3. Điểm khác biệt nổi bật nhất về hình thức chạm khắc giữa hai ngôi đình là gì? ĐLLT sử dụng hình thức chạm khắc trên ván giong làm chủ đạo với 8 bức chạm rồng ổ khổ lớn (cao 50-60cm, chạm lộng) và các mảng chạm vì nóc hậu cung dày đặc; trong khi đó ĐLHL hoàn toàn không dùng ván giong mà tập trung chạm khắc các đề tài sinh hoạt dân gian thế tục (đá cầu, đấu vật, tập trận giả, lễ hội) trên 4 thân kẻ và 7 bức cốn, kết hợp trang trí tranh vẽ trên ván gỗ và cửa võng sơn son thếp vàng.

  4. Bức chạm vì nóc tại hậu cung đình Lâu Thượng có niên đại và đặc điểm tạo hình như thế nào? Bức chạm vì nóc hậu cung ĐLLT có niên đại khoảng cuối thế kỷ XVIII (gắn với ghi chép dựng nhà nội điện năm Quý Mão 1783). Tác phẩm được chạm đục kênh bong sâu (có chỗ dày 15cm), tạo hình rồng, lân, khỉ, rùa, chim trong các tư thế dày đặc, chuyển từ phong cách tạo hình mập khỏe sang nét cong gãy, mỏng mảnh của giai đoạn chuyển tiếp.

  5. Yếu tố tiếp biến văn hóa ngoại sinh được biểu hiện qua những đồ án trang trí nào trong hai ngôi đình? Tiếp biến từ mỹ thuật Trung Hoa thể hiện qua hệ thống nghi môn, câu đối, hoành phi, cửa võng phân ô hộc chữ Hán thời Nguyễn; tiếp biến từ mỹ thuật Ấn Độ thể hiện qua đồ án hoa sen, đồ án long hàm thọ và đặc biệt là đồ án rồng nhân dạng tại ĐLLT (biến thể từ mô típ mặt Rahu).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Cao Thị Vân là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về nghệ thuật trang trí đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô dưới góc độ Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật. Thông qua việc khảo tả, phân tích ngôn ngữ tạo hình và giải mã biểu tượng, luận án đã làm sáng tỏ các giá trị điêu khắc dân gian thế kỷ XVII cùng sự biến đổi qua các giai đoạn trùng tu thời Nguyễn. Công trình khẳng định vị thế và đặc trưng tạo hình riêng biệt của hai ngôi đình trong dòng chảy mỹ thuật cổ truyền xứ Đoài và vùng đất Tổ Phú Thọ. Toàn bộ tư liệu điền dã và kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở khoa học thiết thực cho công tác bảo tồn di sản kiến trúc nghệ thuật của dân tộc.