Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐÌNH LÀNG LÂU THƯỢNG, ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Theo các nhà nghiên cứu đi trước, nguồn gốc đình làng manh nha ra đời vào thế kỷ XV nhưng nghiên cứu về đình làng thì chỉ mới bắt đầu từ TK XX. Đã có nhiều nhà nghiên cứu phân tích, đánh giá đình làng ở các khía cạnh khác nhau được phân định theo phong cách nghệ thuật và kiến trúc trong đó có các nhà nghiên cứu thời kỳ đầu như: Nguyễn Văn Khoan, Hà Văn Tấn, Chu Quang Trứ, Trần Lâm Biền, Thái Bá Vân.
Mỗi tác giả lại đề cập tới các khía cạnh liên quan tới kiến trúc, điêu khắc, hình tượng con người, hình tượng rồng,. Qua tổng hợp các dạng tài liệu, NCS phân định theo trình tự về mặt thời gian như sau: Trong những năm đầu của của TK XX, cụ thể vào năm 1932, Nguyễn Văn Khoan với công trình nghiên cứu về đình bằng tiếng Pháp Essai sur le đình et le culte du génie tutélaire des villages au Tonkin (Khảo luận về ngôi đình và việc thờ Thành Hoàng của các làng xã ở Bắc Kỳ), BEFEO, 1930 [148] (Tác giả là một trong những trợ lý xuất sắc của Viện Viễn Đông Bác cổ - một trung tâm nghiên cứu của Pháp về Đông Dương, ông đã hỗ trợ cho Pierre Gourou trong công trình nghiên cứu Người nông dân Châu Thổ Bắc Kỳ). Đây được coi là công trình nghiên cứu đầu tiên về đình và những đóng góp của ông đã được nhà nghiên cứu người Pháp tên là Bezacier trong L’art Vietnamien, Paris (1955) đánh giá rất cao. Bằng ngòi bút sắc sảo, tác giả đã luận bàn chi tiết về tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng, lễ hội, tục hèm,… cùng một số ảnh về đồ thờ và đồ vật được trang trí trong đình Yên Mẫn.
Cuốn sách là tư liệu quý và có giá trị trong kho tàng văn hóa dân gian viết về đình. Tuy nhiên trong toàn bộ nghiên cứu của mình, một phần rất quan trọng để làm nên nét đẹp của ngôi đình chưa được tác giả quan tâm luan an 8 đến đó là nghệ thuật chạm khắc trên kiến trúc. Đối tượng khảo tả của tác giả cũng chỉ xoay quanh đình Yên Mẫn mà chưa có sự mở rộng ra các ngôi đình khác. Tiếp nối nghiên cứu về đình là Chu Quang Trứ trong bài viết Về phong cách và niên đại đình Lâu Thượng được lưu trong tài liệu nội bộ của Viện nghiên cứu Mỹ thuật (1969) [106].
Đây là tập tài liệu được tác giả viết vào những năm cuối thập niên 60 của TK XX trong một chuyến điền dã thuộc hệ thống nghiên cứu về các ngôi đình làng ở miền Bắc Việt Nam. Tài liệu đã bước đầu phân tích, đánh giá khá tỉ mỉ về phong cách và niên đại của ĐLLT. Trong đó, nêu sơ lược được về tình hình địa phương, tên gọi địa danh, lý lịch sơ bộ các vị Thành Hoàng làng và cùng đó cũng đi khá chi tiết về các mốc dựng đình và miêu tả các chạm khắc trên kiến trúc tương đối tỉ mỉ. Điểm mạnh của tài liệu này là tính công phu, phân loại ra được các chạm khắc theo niên đại, mang tính khảo tả cao.
Chính vì điểm mạnh ấy, NCS có thể hình dung được vào năm 1969 ĐLLT có hiện trạng như thế nào… Tuy nhiên, một phần tạo nên tính thẩm mỹ cho ngôi đình là nghệ thuật trang trí trên các cấu kiến trúc được biểu hiện dưới dạng bố cục, không gian, đồ án, đề tài, hình thức trang trí vẫn chưa được tác giả quan tâm nhiều… Vậy nên, đây sẽ là hướng mở để NCS tiếp tục hoàn thiện, bổ sung, trong luận án. Vào năm 1996, Nguyễn Anh Tuấn với luận án tiến sĩ thuộc chuyên ngành khảo cổ học với đề tài Cụm đình Tam Canh trong hệ thống đình làng Vĩnh Phú [94]. Công trình nghiên cứu của tác giả bước đầu nghiên cứu về ba ngôi đình trên đất Vĩnh Phúc, đây là một cụm di tích gồm: đình Hương Canh – đình Ngọc Canh và đình Tiên Hường. Đề tài nghiên cứu về cảnh quan, di tích và những vị thần Tam Canh, kết cấu kiến trúc, nghệ thuật chạm khắc,.
đáng lưu ý trong phần 4 tác giả ít nhiều đã kể tên, khảo tả sơ bộ một vài ngôi đình tiêu biểu về kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc của các ngôi đình miền trung du trong đó có ĐLLT và ĐLHL. Vì hai đình được nhắc tới không nhiều trong luận án nên thông tin tác giả cung cấp còn sơ sài và mang tính khái quát. Bên cạnh đó, tính trang trí và tính nghệ thuật tạo hình như: bố cục, không gian, màu sắc trong nghệ thuật luan an 9 trang trí ở ĐLLT và ĐLHL vẫn chưa được tác giả khai thác và đề cập tới trong các nghiên cứu về sau này. Vì thế đây sẽ là hướng mở để luận án tiếp tục thực hiện.
Có thể nói rằng, đây được coi là một công trình đề cập nhiều nhất tới hai ngôi đình là đối tượng nghiên cứu của đề tài, giúp NCS so sánh, đối chiếu sát hơn trong quá trình thu thập tài liệu và phân tích. Đến năm 1998, Hà Văn Tấn cùng nhiếp ảnh gia Nguyễn Văn Kự đã khảo sát các ngôi đình tiêu biểu trên khắp cả nước để viết nên cuốn Đình Việt Nam [81] – đây được coi là một cuốn sách nghiên cứu có sự đầu tư cả về tư liệu khoa học và hình ảnh minh họa rất rõ ràng, sinh động. Trong đó bản đầu tiên bao gồm 62 ngôi đình tiêu biểu từ Nam ra Bắc được viết bằng hai thứ tiếng (Tiếng Việt và Tiếng Anh), cho đến nay cuốn sách vẫn còn có sức hút đối với độc giả cả nước khi mà chỉ trong vòng 15 năm sách đã được tái bản tới lần thứ 3 vào năm 2013 và ở bản in này sách được in bằng tiếng Việt và nâng tổng số khảo sát ngôi đình lên tới con số 100 với sự đầu tư công phu và chất lượng hình ảnh đẹp đã giúp độc giả có cái nhìn tổng quan về những ngôi đình giá trị trên mọi miền. Phần lớn trong cả hai cuốn sách đều lược tả hai ngôi đình về nguồn gốc xuất hiện, diễn biến kiến trúc qua thời gian và không gian, nghệ thuật điêu khắc.
Qua tư liệu ảnh chụp năm 1998 được in trong sách cộng với sự so sánh về thực tế các mảng chạm khi NCS đi điền dã từ năm 2015 - 2019, rõ ràng các mảng chạm khắc trên kiến trúc ĐLLT vào năm 1998 bị hư hỏng khá nhiều. Theo nhận định ban đầu, một số chi tiết ở các mảng chạm hoàn chỉnh ở thời hiện tại có thể đã được lắp ghép lại ở những chi tiết nhỏ bị rơi, rụng trong quá trình trùng tu tôn tạo như: đao mác, mây lửa, một số thân rồng con… Đây là một cứ liệu hết sức quan trọng, giúp NCS làm cơ sở vững chắc để phân định niên đại và phân tích một cách khách quan hơn trong quá trình nghiên cứu. Tiếp tục chuỗi những nghiên cứu về đình làng của mình, Chu Quang Trứ đã xuất bản cuốn Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật (2002). Trong đó có một số bài viết về đình làng như: Đình Hữu Bổ, Đình Thổ Hà, Đình Trà Cổ, Đình Chu Quyến, Đình Phù Lão, Đình Hồi Quan,… đặc biệt trong cuốn sách này có bài luan an 10 viết về “Đình Xốm với sự chuyển hóa từ đền sang đình” [111, tr.526], với những dẫn chứng công phu về các mốc thời gian ra đời và tu sửa cho đến hoàn thiện ĐLHL trên cơ sở từ một ngôi đền, trong bài viết này phần lớn tác giả đi sâu phân tích hệ thống kiến trúc của tòa đại đình.
Đánh giá đây là tư liệu lịch sử quý về ĐLHL với những khảo cứu khá chi tiết, sẽ phần nào giúp NCS có thêm cơ sở đối chiếu tư liệu trong quá trình hoàn thiện luận án. Tuy nhiên, bài viết về ĐLHL được tác giả nghiên cứu trên tinh thần tiếp cận theo hướng văn hóa học, vì vậy luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu nghệ thuật trang trí ĐLHL theo hướng tiếp cận nghệ thuật học. Năm 2006, một trong những nghiên cứu về đình có tính khảo sát và chuyên biệt là cuốn Mỹ thuật đình làng ở Đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Văn hóa Thông tin [28] của Nguyễn Văn Cương. Trong cuốn sách này, Nguyễn Văn Cương đã miêu tả nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc đình làng theo sự phân cắt các biểu tượng với những tư liệu phong phú.
Theo tác giả, các yếu tố văn hóa đã chi phối các giá trị thẩm mỹ, mô thức thẩm mỹ của người Việt khi nghiên cứu mỹ thuật đình làng từ góc độ nghệ thuật học. Đáng chú ý, trong một công trình có đối tượng khảo sát lớn như thế này, tác giả có điểm qua và nhắc đến cả hai ngôi đình Lâu Thượng và Hùng Lô ở một vài chi tiết trong phần đặc trưng của chạm khắc đình làng Bắc Bộ như: tượng thờ Hai Bà Trưng ở đình Lâu Thượng (tượng cũ), tranh trang trí ở ĐLHL. Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa phân tích về nghệ thuật trang trí của hai đình này trong một số phần mô tả khác. Vì vậy, luận án sẽ tiếp tục đi sâu, nghiên cứu và chứng minh tính trang trí của ĐLLT và ĐLHL là mang tính điển hình như tác giả đã nêu lên trong hệ thống trang trí đình làng Việt Nam.
Cuốn Đình làng vùng Châu thổ Bắc Bộ do Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam xuất bản (2013) [138]. Trong lời tựa, Lê Văn Sửu – Hiệu trưởng trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam cũng đưa ra nhận định rằng: “Cuốn sách tập hợp tư liệu, không phải là công trình nghiên cứu mang tính chuyên luận, chưa đi sâu nhưng luan an 11 đa diện”, “Từ một số ngôi đình điển hình, các tác giả cũng đề cập tới những thao tác nghệ thuật và phần nào đã bước vào hệ thống giá trị biểu tượng mà người xưa đã lập”, “Bằng vào sự sắp xếp theo niên đại hiện còn được xác định được trong di tích, các tác giả như vô tình đã đưa người đọc theo con đường lịch sử nảy sinh, tồn tại, phát triển và suy vong của kiến trúc” [138, lời tựa, tr.