CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG, CƠ SỞ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa ở Ninh Bình 1. Điều kiện tự nhiên Điều kiện tự nhiên là một trong những yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển của con người. Cũng chính nhờ vào hoàn cảnh tự nhiên mà các giá trị văn hóa, văn học mới nảy sinh, tồn tại và phát triển.
Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cực nam đồng bằng Bắc Bộ, 19º50’ đến 20º27’ độ Vĩ Bắc, 105º32’ đến 106º27’ độ Kinh Đông. Dãy núi Tam Điệp chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, làm ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hoá. Phía Đông và Đông Bắc có sông Đáy bao quanh, giáp với hai tỉnh Hà Nam và Nam Định, phía Bắc giáp tỉnh Hoà Bình, phía Nam là biển Đông. Ninh Bình có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hoá giữa lưu vực sông Hồng với lưu vực sông Mã, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với vùng núi rừng Tây Bắc của Tổ quốc.
Ninh Bình là một điểm nút giao thông quan trọng từ miền Bắc vào miền Trung và miền Nam. Có nhiều lợi thế phát triển kinh tế chính trị xã hội vì có đủ cả giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy. Ninh Bình ở vị trí điểm mút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng nên địa hình phân chia thành ba vùng tương đối rõ nét. Vùng đồng bằng, vùng đồi núi bán sơn địa và vùng ven biển.
Mỗi vùng có tiềm năng và thế mạnh riêng, song ba vùng có thể bổ sung hỗ trợ nhau để phát triển nền kinh tế hàng hoá. Cùng với tiềm năng về công, nông, lâm nghiệp Ninh Bình còn có thế mạnh phát triển đa dạng các loại hình du lịch với nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng như: Cố đô Hoa Lư, khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, Vườn Quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long, động Vân Trình, nước nóng Kênh Gà, Quần thể di sản thiên nhiên thế giới Tràng An … Với vị trí địa lý đặc biệt, thiên nhiên đa dạng phong phú, Ninh Bình trở thành nơi chuyển tải các ảnh hưởng văn hóa từ lưu vực sông Mã ra phía bắc, từ lưu vực sông Hồng vào phía nam, từ vùng núi xuống vùng biển. Đặc điểm lịch sử Theo kết quả của các công trình khảo cổ học, sử sách ghi lại Ninh Bình là vùng đất cổ, là địa bàn cư trú của của người Việt cổ. Trải qua hàng nghìn năm xây dựng, phát triển và trưởng thành với nhiều thăng trầm, Ninh Bình được đổi tên gọi nhiều lần, mỗi thời đại có cải cách và tên gọi khác nhau.
“Ninh Bình xưa cùng với Thanh Hóa thuộc bộ Quân Ninh, nước Văn Lang. Thời thuộc Hán thuộc quận Giao Chỉ, thời thuộc Đông Ngô về sau thuộc Giao Châu, thuộc Lương là châu Trường Yên. Năm 968, vua Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước, lên ngôi hoàng đế Đại Thắng Minh Hoàng Đế, đóng đô tại Hoa Lư và đổi c tên gọi Trường Châu thành Trường An… Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Ninh Bình trực thuộc quân khu 3 gồm một thị xã, 6 huyện và hai thị trấn. Địa giới và các tổ chức đơn vị hành chính được giữ mãi cho tới ngày miền nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước.
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, tại kỳ họp thứ hai quốc hội khóa V nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam đã ra Nghị quyết Ninh Bình hợp nhất với các tỉnh Nam Định và Hà Nam thành tỉnh Hà Nam Ninh rồi lại tái lập ngày 12 tháng 8 năm 1991”(Trích Bách khoa toàn thư mở) 1. Văn hóa truyền thống ở Ninh Bình Ninh Bình là một tỉnh có diện tích nhỏ nhưng lại có bề dày lịch sử và văn hoá, đặc biệt là văn hoá dân gian. Nơi đây vừa là gạch nối, vừa là ngã ba của ba nền văn hoá lớn sông Hồng - sông Mã - Hoà Bình. Vì vậy, văn hoá truyền thống Ninh Bình vừa có nét riêng bản địa, vừa mang sắc thái vùng miền do yếu tố hội tụ, giao thoa của nhiều nền văn minh, văn hoá tích hợp.
Hoa Lư là kinh đô của nước Đại Việt thế kỷ X, mảnh đất gắn với sự nghiệp của 6 vị vua thuộc ba triều đại Đinh - Lê - Lý với các dấu ấn lịch sử: Thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội. Do ở vào vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam, vùng đất này đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc mà dấu tích lịch sử còn để lại trong các đình, chùa, đền, miếu, từng ngọn núi, con sông. Đây còn là vùng đất chiến lược bảo vệ kinh thành Thăng Long của triều đại Tây Sơn với phòng tuyến Tam Điệp, là căn cứ để nhà Trần hai lần chiến thắng giặc Nguyên - Mông với hành cung Vũ Lâm, đất dựng nghiệp của nhà Hậu Trần với đế đô ở Yên Mô. Cùng với sự phát triển của lịch sử, nhân dân Ninh Bình đã xây dựng, gìn giữ và phát triển một nền văn hóa đậm đà tính dân tộc và in đậm dấu ấn địa phương.
Đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của Ninh Bình vô cùng phong phú, đa dạng biểu hiện ở nhiều phương diện trong cuộc sống của cả người Kinh và người Mường. Đối với người dân Ninh Bình, tín ngưỡng dân gian ngàn xưa đã ăn sâu bắt rễ trong tư tưởng, tình cảm, nếp nghĩ, trong đời sống sinh hoạt… Người dân Ninh Bình quan niệm: “Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn Nước có nguồn bể rộng sông sâu” Thờ tổ tiên là sự thể hiện lòng thành kính, biết ơn, đồng thời cũng là sự thể hiện niềm tin vào sự che chở, bảo hộ, trợ giúp của tổ tiên. Đó là hoạt động dưới dạng hành lễ và được qui định bởi quan niệm, phong tục, tập quán của mỗi cộng đồng, dân tộc. Ngoài tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người dân Ninh Bình thờ thần tự nhiên như thờ thần Núi, thần Biển, thần Sông, thần Cây… mà còn thờ c Phật.
Mọi địa phương trong tỉnh đều có những ngôi chùa thờ Phật. Thờ vua đã là một đặc trưng trong tín ngưỡng dân gian Ninh Bình, càng ngày càng thấm sâu vào ý thức hệ tư tưởng của người dân, làm thức dậy những tình cảm sâu lắng nhất trong mỗi người dân, khắc ghi đạo lí “uống nước nhớ nguồn”. Một mặt con cháu bày tỏ lòng biết ơn đối với tổ tiên, mặt khác thể hiện trách nhiệm liên tục và lâu dài của con cháu đối ơn đức của của tổ tiên đã có công dựng nước. Để tưởng nhớ công ơn của vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Đại Hành người dân Ninh Bình đã lập đền thờ ngay trên nền đất kinh đô Hoa Lư xưa và còn được thờ nhiều nơi trong tỉnh.
Ở Ninh Bình không chỉ thờ vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Đại Hành mà còn thờ các vua khác như Phùng Hưng, Lý Thái Tông, Trần Thái Tông… Tín ngưỡng thờ vua của người Ninh Bình được cụ thể hóa trong trong quan niệm “cây có gốc”, “nước có nguồn”, “chim tìm tổ”, “người tìm tông” và qua các hành vi sống (giữ gìn danh dự và tiếp tục truyền thống của gia đình, dòng họ, đất nước) mà còn ở trong các hành vi cúng tế cụ thể. Trong tín ngưỡng của người Ninh Bình rất coi trọng thờ Mẫu, thờ Thánh… Hiện nay có các đền như đền thờ mẫu Liễu Hạnh ở Tam Điệp, đền thờ Mẫu thượng Ngàn ở Nho Quan, đền thờ đức Thánh Nguyễn ở Gia Viễn… Bên cạnh đó, hầu như ở các làng, xã đều có đền, đình - trung tâm văn hóa thờ Thành Hoàng làng và diễn các nghi lễ văn hóa hàng năm. Ninh Bình là một địa phương còn lưu giữ được nhiều lễ hội dân gian. Ngoài ý nghĩa tâm linh, lễ hội còn là nơi giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
Hiện nay ở Ninh Bình có 74 lễ hội truyền thống và 145 hội làng đậm đà văn hoá của vùng đất châu thổ sông Hồng. Các lễ hội văn hóa ở Ninh Bình chủ yếu diễn ra ở mùa xuân. Lễ hội làng Yên Vệ: ngày 4/1 âm lịch ở làng Yên Vệ xã Khánh Phú, Yên Khánh tại đền Thượng thờ Nguyễn Minh Không và chùa Phúc Long. Lễ hội chùa Bái Đính (Gia Viễn) bắt đầu ngày 6/1 âm lịch… Lễ hội quan trọng nhất trong tín ngưỡng của người dân Ninh Bình là lễ hội Hoa Lư (trước đây là Lễ hội Trường Yên).
Nhắc đến lễ hội Trường Yên xưa dân gian có câu: “Dù ai buôn bán đâu đâu Tháng hai mở hội rủ nhau mà về Dù ai buôn bán trăm nghề Tháng hai mở hội thì về Trường Yên”. Để gìn giữ phát huy những lễ hội như hiện nay ở Ninh Bình là cả một quá trình, mà trong đó có sự hòa quyện cả những yếu tố lịch sử và cả những truyền thuyết dân gian, tín ngưỡng, phong tục tập quán của người Ninh Bình và người dân trong cả nước. Trong quá trình sinh sống lâu đời, người Ninh Bình đã tạo nên những phong tục sống tập quán của riêng quê hương mình. Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn c định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày. Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất. Phong tục của người Ninh Bình rất đa dạng được thể hiện ở hệ thống phong tục liên quan đến vòng đời của con người, như phong tục về sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lên lão. Khi người phụ nữ mang thai không được bước qua thừng trâu.
Người dân quan niệm như vậy người mẹ sẽ bị chửa lên tháng. Khi đứa trẻ mới được sinh ra không để người lạ vào vì sợ phải vía, không cho đứa trẻ đến đám ma vì sợ bị sài quấy khóc, lười ăn. Trong trường hợp đứa trẻ bị sài người dân tin vào việc tắm sài, khêu sài ăn ngon, ngủ ngon. Ngoài ra còn rất nhiều phong tục khác như tục ăn trầu, xông đất, mừng tuổi đầu năm, xem tuổi làm nhà.
Hệ thống phong tục liên quan đến hoạt động của con người theo chu kỳ thời tiết trong năm, hệ thống phong tục liên quan đến chu kỳ lao động của con người. Ninh Bình còn là vùng quê có vốn ca nhạc cổ truyền phong phú mang đặc trưng vùng đồng bằng Bắc Bộ.