CHƯƠNG 1 : TONG QUAN VE VĂN BIA HẬU PHẬT HUYỆN VIỆT YEN 1. Giới thiệu sơ lược về huyện Việt Yên 1. Địa lý và lịch sử Huyện Việt Yên qua các thời kỳ Huyện Việt Yên là một huyện năm ở phía tây nam của tỉnh Bắc Giang. Địa giới hành chính hiện tại của huyện Việt Yên được giới hạn phía đông tiếp giáp với thành phó Bac Giang và huyện Yên Dũng; phía tây giáp huyện Hiệp Hòa; phía bắc tiếp giáp huyện Tân Yên; phía nam tiếp giáp thành phố Bắc Ninh và các huyện Yên Phong, Qué Võ của tỉnh Bắc Ninh, cách ngăn bởi dòng sông Cầu.
Trong quá khứ, địa giới của huyện Việt Yên đã trải qua nhiều lần thay đổi. Thời Trần, tên huyện là Yên Việt, thuộc phủ Lạng Giang, lộ Bắc Giang. Đến thời kỳ nhà Minh đô hộ (1407-1427), huyện Yên Việt là 1 trong 3 huyện của châu Bắc Giang, phủ Bắc Giang. Từ niên hiệu Quang Thuận năm thứ 7 đời vua đời vua Lê Thánh Tông (1466), đặt 12 đạo thừa tuyên, huyện Yên Việt thuộc phủ Bắc Hà, lệ vào thừa tuyên Bắc Giang.
Niên hiệu Quang Thuận năm thứ 10 (1469) định lại bản đồ trong nước, gồm 12 thừa tuyên, đồi thừa tuyên Bắc Giang thành Kinh Bắc. Năm Hồng Đức thứ 21 (1490), Lê Thánh Tông tổ chức lại hành chính trong nước thành 13 xứ, Yên Việt thuộc phủ Bắc Hà, xứ Kinh Bắc. Đầu thời Nguyễn, Gia Long (1802 — 1819) chia nước thành 24 trấn, 4 doanh và 2 thành. Yên Việt khi này là huyện thuộc phủ Bắc Hà, trấn Kinh Bắc.
Năm thứ nhất niên hiệu Minh Mệnh (1820), tên huyện đổi thành Việt Yên. Niên hiệu Minh Mệnh thứ 13 (1832), trích lấy Việt Yên và Hiệp Hòa làm phân phủ của phủ Thiên Phúc. Năm Tự Đức thứ 5 (1852), bỏ hai phân phủ Từ Sơn và Thiên Phúc, huyện Việt Yên do huyện Yên Dũng kiêm nhiếp. Đến năm Tự Đức thứ 6 (1853) lại dem huyện Việt Yên cho lệ vào phân phủ Lạng Giang [49; 70].
Ngày 10 tháng 10 năm 1895 (năm thứ 7 niên hiệu Thành Thái thứ 7), viên Toàn quyền Đông Dương là Rousseau (Rútxô) ký Nghị định số 983 thành lập tỉnh Bắc Giang. Huyện Việt Yên khi này có 7 tổng: Dĩnh Sơn, Hoàng Mai, Mật Ninh, Quang Biểu, Thiết Sơn, Tiên Lát, Tự Lạn!. ! Tham khảo [30; 24] 15 Đến thời kỳ Pháp thuộc, căn cứ theo thông tin trong cuốn sách Nomenclature des communes du Tonkin (Danh mục các làng xã Bắc kì) của Ngô Vi Liễn xuất bản năm 1928, được nhà xuất ban Văn Hóa thông tin in lại trong cuốn Tén làng xã và địa dư các tỉnh Bac kì năm 1999, huyện Việt Yên có 7 tông: Dinh Sơn, Hoang Mai, Mật Ninh, Quang Biểu, Thiết Sơn, Tiên Lat, Tu Lan. Dưới các tổng là các đơn vi hành chính cấp xã, cụ thê: - Tổng Dinh Sơn: Ai Quang, Bich Động, Dĩnh Sơn, Dục Quang, Dương Huy, Đồn Lương, Nguyễn Quả, Sơn Quang, Tăng Quang, Tiên Nghiên.
- Tổng Hoàng Mai: Điêu Liễn, Hoàng Mai, Hùng Lam, My Điền, Phúc Long, Phúc Tăng, Thượng Phúc, Trung Đồng, Vân Cốc. — Tổng Mat Ninh: Cao Lôi, Chu Xá, Gia Sơn, Hữu Nghi, Khả Ly, Mai Vũ, Mật Ninh, Ninh Động, Nội Ninh, Phúc Ninh, Sen Hồ. — Tổng Quang Biểu: Dao Ngạn, Đông Tiến, Nam Ngạn, Ninh Khánh, Phúc Lâm, Quang Biểu, Yên Ninh — Tổng Thiết Sơn: Lý Nhân, Mỏ Thổ, Ngân Dai, Nghĩa Hạ, Nghĩa Thượng, Nghĩa Vũ, Như Thiết, Thiết Nham, Thiết Sơn, Thiết Thượng, Tĩnh Lộc, Trung Lai, Yên Liễn. — Tổng Tiên Lat: Ha Lat, Lương Tài, Nguyệt Đức, Phù Tài, Than Chúc, Thổ Hà, Thượng Lát, Yên Viên.
— Tổng Tu Lan: Hà Hạ, Hà Thượng, Hương Giáp, Hương Mai, Lan Trạch, Núi Tràng, Tự Lạn, Xuân Lạn. Ngày nay huyện Việt Yên gồm có 17 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, trong đó có 2 thị tran (Bích Động, Nénh) và 15 xã (Hồng Thái, Tăng Tiến, Vân Trung, Quang Châu, Ninh Sơn, Quảng Minh, Tự Lạn, Việt Tiến, Hương Mai, Trung Sơn, Tiên Sơn, Nghĩa Trung, Minh Đức, Thượng Lan, Vân Hà)”. Về địa hình, Việt Yên năm trong vùng trung du xen kẽ đồng bằng, đồi núi tương đối thấp. Về vị trí địa lý, Việt Yên nam trên trục đường ngắn nhất từ kinh thành Thăng Long đến Lạng Sơn, do đó khu vực Việt Yên đồng thời nằm trên hướng tiến quân của bộ binh từ phương Bắc xuống Thăng Long.
Địa thế có tính chất “phên dau” này khiến cho Việt Yên cũng như Bắc Giang khó tránh khỏi những cuộc binh đao giữa quân đội xâm lược phương Bac với quân dân ta. ? Căn cứ Nghị quyết số 813/NQ-UBTVQH14 ban hành năm 2019 về việc Sắp xếp đơn vị hành chính cap xã thuộc tỉnh Bắc Giang 16 Cuộc chiên chông giặc xâm lược sớm nhât của nhân dân Việt Yên được truyên lại là từ thời Hùng Vương. Theo truyền thuyết được ghi chép trên tắm bia Thánh tích bi kí 5Rfffid3 được dựng ở miếu Tiên Lat, xã Tiên Sơn, dựng năm Tự Đức thứ 8 (1855), Thạch Linh Tướng quân là người đã giúp vua Hùng đời thứ 16 (Hùng Tạo vương) đánh đuôi giặc Man. Thời Lý, trong cuộc kháng chiến chống quân Nam Tống xâm lược năm 1077, Lý Thường Kiệt cho quân dựng phòng tuyến ở bờ nam sông Như Nguyệt (sông Cầu), kéo dài từ chân day Da Phúc (đoạn cuối chân dãy Tam Đảo) đến phía Nham Biên.
Nhiều trận đụng độ giữa hai bên đã diễn ra trên đất Việt Yên, như trận đánh ở cánh đồng Đông Xá (x. Nhân quân địch đang chú ý và dồn quân vào chiến trận Đông Xá, Lý Thường Kiệt dẫn quân tấn công vào trại của Triệu Tiết ở hướng Yên Phụ - Như Nguyệt trong đêm, quân địch thương vong nặng nè, số còn lại phải rút về núi Tam Tầng (x. Thời Trần, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ hai (1285 — 1288), vùng đất Tam Tầng cũng là nơi quân dân nhà Tran chặn đánh quan Nguyên Mông. Cuối thời Lê trung hưng, bối cảnh đất nước vô cùng rối ren, vua Lê thì bạc nhược, sức mạnh của chúa Trinh cũng suy yếu.
Trong nước, các thé lực nồi lên cát cứ, nhiều phong trào dau tranh của nhân dân cũng đã diễn ra. Tháng 10 âm lich năm Mậu Thân (1788), quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị dẫn binh tiến quân vào Đại Việt, ban đầu đóng quân ở Tam Tầng. Quân Tây Sơn vượt sông Nguyệt Đức (sông Cầu), đánh vào căn cứ của quân Thanh, nhưng vì hỏa lực quân địch mạnh nên thua. Sau đó, đồn Thị Cầu bị Tôn Sĩ Nghị đánh úp mà thất thủ.
Tháng 11 năm Mậu Thân (1788), quân Tôn Sĩ Nghị tiến vào thành Thăng Long. Tết năm Kỷ Dậu (1789), quan Tây Sơn tiến công thần tốc ra Bắc, chỉ trong vài ngày đã đánh tan quân Thanh ở các trận Đống Đa, Ngọc Hồi, giành được thành Thăng Long. Quân Thanh cùng với dư đảng của Lê Chiêu Thống chạy về ở căn cứ núi Tam Tầng, lại bị quân Tây Sơn truy quét. Tôn Sĩ Nghị bỏ cả sắc thư, quân ấn, kì bào mà tháo chạy.
Tinh thần đấu tranh bảo vệ bờ cõi đất nước ay con tiép tục được thé hiện trong các giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước, góp phan vào thắng lợi của các cuộc kháng chiến, tô thắm thêm cho tinh than anh dũng, bat khuất của địa phương. 3 Tổng tập văn khắc Hán Nôm, Tập 9, tr. Việt Yên - một vùng đất giàu truyền thống, văn hoá Ngoài các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm hào hùng, lịch sử Việt Yên còn được phản ánh qua phong tục tập quán, các truyền thống quý báu lưu truyền trải qua hàng trăm, hàng ngàn năm, qua những vết dấu lưu lại trên các công trình, di tích, danh thắng, và qua các câu chuyện được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Những yếu tố văn hóa ay hòa trộn cùng thời gian để làm nên lịch sử của một vùng đất Việt Yên đầy tự hào.
Về tôn giáo và tín ngưỡng, Việt Yên có hệ thống tôn giáo tín ngưỡng phong phú gắn liền với đời sống sinh hoạt của làng xã. Ngày nay, bên cạnh hai tôn giáo chính của địa phương là Phật giáo và Công giáo, còn có sự tồn tại, lưu hành của các tín ngưỡng được hình thành bởi sự ảnh hưởng của Nho giáo, Đạo giáo (như tín ngưỡng thờ Thành hoàng, thờ Không Tử, thờ Lão Tử) và các tín ngưỡng bản địa (như tín ngưỡng thờ đá, thờ than núi, thần cây, thần đất, tho Mẫu. Chúng ta có thể nhận thấy sự phong phú trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của huyện Việt Yên qua các di tích chùa chiền Phật giáo (như chùa Bồ Đà trên núi Bồ Đà, th. Tiên Sơn có từ thời Lý); các di tích đền, đình làng có lịch sử lâu đời là nơi thờ cúng các vị Thành hoàng của mỗi làng (như đình Thổ Hà thờ Thái thượng Lão quân; đình làng Vân (x.
Vân Hà), đình Hữu Nghị, đình Quang Biểu, đình Tiên Lát thờ đức Thánh Tam Giang Truong Hồng — Trương Hat) cùng với các nghi thức cúng tế, lễ tế Thành hoàng lớn, được tô chức long trọng hằng năm (tiêu biểu như lễ hội đình Thổ Hà); các văn chỉ thờ đức Thánh Khong được thờ (như văn chỉ Thổ Hà, văn chỉ Mật Ninh); một số đền thờ mẫu nỗi tiếng của Việt Yên (như đền Chúa Kho ở xã Tiên Sơn; đền thờ chúa Lam ở làng Trung Đồng, Vân Trung; đền thờ Mẹ đá ở Tiên Lát;. Văn hóa dân gian của Việt Yên được cộng đồng cư dân xây dựng trong suốt chiều dai lịch sử của địa phương và được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Đó là sự kết hợp của trí tuệ, óc sáng tạo, sự trao đối hằng ngày của con người trong đời sống sinh hoạt va lao động, phản ánh tâm tư, tình cảm của con người vùng đất này. Các sản phâm văn hóa dân gian của Việt Yên rất đa dạng, mỗi sản phẩm lại có cách thể hiện riêng, mang những nét đặc trưng riêng.
Nhiều loại nghệ thuật dân gian truyền thong đã hiện hữu và phát triển ở Việt Yên trong suốt quá trình nhân dân sinh sống và xây dựng quê hương. Các loại hình nghệ thuật dân gian điển hình của địa phương có hát Quan họ, hát Vi, hát chẻo, tuông, ca trù,. Các loại hình nghệ thuật dân gian này là sản phẩm do những người dân chung sức và trí tuệ vào xây dựng trước hết là dé phục vụ cho 18 đời sống tỉnh thần thường nhật của chính mình. Đồng thời, kho tàng nghệ thuật này cùng trở thành kho tư liệu quý báu lưu giữ văn hóa và truyền thống của quê hương.
Trong số các thành tố đóng góp vào văn hoá địa phương, không thé không kể đến truyền thống khoa cử.