Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong những thập niên gần đây, di sản văn hóa (DSVH) trở thành chủ đề thu hút sự quan tâm của các cơ quan quản lý nhà nước, giới nghiên cứu khoa học và cộng đồng xã hội. Tại Việt Nam, từ sau thời kỳ Đổi mới, chủ trương coi văn hóa là mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) và Luật Di sản văn hóa năm 2001 đã thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động kiểm kê, xếp hạng di sản ở các cấp độ.

Theo thống kê được tác giả trích dẫn tính đến tháng 7-2018, số lượng di sản được kiểm kê và vinh danh trên phạm vi cả nước đạt quy mô lớn:

Danh mục phân loại di sản Số lượng đã kiểm kê / xếp hạng Cơ quan / Tổ chức quyết định
Di tích cấp tỉnh, thành phố Gần 10.000 di tích UBND các tỉnh, thành phố
Di tích quốc gia 3.463 di tích Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Di tích quốc gia đặc biệt 95 di tích Thủ tướng Chính phủ
Tổng số di tích đã kiểm kê Trên 40.000 di tích Theo Luật Di sản văn hóa
DSVH phi vật thể kiểm kê 61.669 di sản 63 tỉnh, thành phố
DSVH phi vật thể quốc gia 249 di sản Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Di sản thế giới (Công ước 1972) 08 di sản UNESCO
DSVH phi vật thể đại diện nhân loại 12 di sản UNESCO
Di sản tư liệu (Ký ức thế giới) 07 di sản (03 thế giới, 04 khu vực Châu Á - Thái Bình Dương) UNESCO

Quá trình di sản hóa (heritagization) không đơn thuần là việc tôn vinh một giá trị sẵn có mà là quá trình lựa chọn, kiến tạo với sự tham gia của nhiều bên liên quan gồm nhà nước, chính quyền địa phương, cộng đồng và thị trường du lịch. Đền Hát Môn (huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội) - ngôi đền cổ thờ Hai Bà Trưng - được xếp hạng Di tích quốc gia năm 1964, Di tích quốc gia đặc biệt năm 2013 và Lễ hội đền Hát Môn được đưa vào Danh mục DSVH phi vật thể quốc gia năm 2016. Khi nhà nước can thiệp sâu vào việc quản lý sau vinh danh, cộng đồng chủ thể đối diện nguy cơ bị ngoài lề hóa, thực hành văn hóa bị biến đổi do các động thái chính trị - xã hội đan xen. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần phân tích toàn diện quá trình di sản hóa từ góc nhìn văn hóa học đối với một trường hợp cụ thể tại Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu:

  • Nghiên cứu về quá trình lựa chọn, vinh danh di tích và lễ hội đền Hát Môn trở thành DSVH để biện giải các động thái chính trị, xã hội và kinh tế của vấn đề di sản hóa ở Việt Nam cũng như các tác động của quá trình di sản hóa đối với việc bảo vệ, phát huy giá trị DSVH vật thể và phi vật thể.
  • Thông qua nghiên cứu trường hợp đền Hát Môn, luận án hướng đến luận giải về mặt lý luận xu hướng di sản hóa từ góc độ thực tiễn của Việt Nam, đóng góp vào nghiên cứu về di sản hóa và DSVH trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu tổng quan về di tích và lễ hội đền Hát Môn, quá trình hình thành, phát triển và vai trò của di tích trong việc tạo dựng bản sắc quốc gia - dân tộc cùng ý nghĩa đối với cộng đồng địa phương trong lịch sử.
  2. Nghiên cứu các vấn đề lý luận về xu hướng di sản hóa ở Việt Nam và trên thế giới.
  3. Nghiên cứu có hệ thống thực tiễn quá trình lựa chọn và vinh danh di tích, lễ hội đền Hát Môn trở thành DSVH; chỉ ra quá trình biến đổi của di tích và lễ hội sau khi vinh danh; làm rõ sự tham gia của cộng đồng và nhà nước vào quá trình này.
  4. Bàn luận về những vấn đề đặt ra liên quan đến quá trình di sản hóa các di tích và thực hành văn hóa ở Việt Nam trong bối cảnh xã hội chuyển đổi hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Di tích và lễ hội đền Hát Môn (huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội) cùng các bên liên quan tham gia vào quá trình vinh danh di sản đền và lễ hội này.
  • Phạm vi nội dung: Thực trạng di sản hóa đền Hát Môn; việc biến đổi di tích và thực hành văn hóa trước và sau vinh danh; các động thái tham gia của Nhà nước và cộng đồng trong tiến trình di sản hóa.
  • Phạm vi không gian: Không gian văn hóa xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực tế từ giai đoạn trước (từ năm 1986 đến năm 2013) và giai đoạn sau khi được công nhận Di tích quốc gia đặc biệt cho đến thời điểm nghiên cứu (2016 - 2019).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu theo ba nhóm chính:

Nhóm 1: Các nghiên cứu quốc tế về di sản hóa:

  • Jean-Louis Tornatore (2010) phân tích việc đề cử “Bữa ăn kiểu Pháp” vào danh sách của UNESCO là quá trình di sản hóa từ trên xuống, phục vụ các động thái chính trị của chính phủ.
  • Regina F. Bendix, Aditya Eggert và Arnika Peselmann (2012) trong công trình Heritage Regimes and the State khảo sát 17 trường hợp di sản để chỉ ra “chế độ di sản” của UNESCO và các mục tiêu phát triển kinh tế, xây dựng quốc gia tại Uzbekistan, Barbados, Cuba, Tây Ban Nha và Indonesia.
  • C. Salomone (2016) nghiên cứu quận Sanità ở Naples (Italia), chỉ ra mô hình di sản hóa từ dưới lên (the bottom-up) của cộng đồng nhằm giải quyết việc làm và phát triển kinh tế.
  • Michelle L. Stefano và cộng sự (2012) trong Safeguarding Intangible Cultural Heritage xem xét quan hệ giữa quyền lực của các chuyên gia và tiếng nói của cộng đồng.
  • Isidora Stanković (2015) nghiên cứu quận Marais (Paris), Susan LT Ashley (2014) khảo cứu di sản hóa văn hóa Sikh ở Canada, Awoke Amzaye Assoma (2014) khảo sát cảnh quan Konso; Tim Oakes (2012) nghiên cứu quản trị di sản tại nông thôn Trung Quốc; Tunbridge và Ashworth (1996) bàn về giá trị kinh tế của di sản.
  • Lynn Meskell (2018) trong A Future in Ruins xem UNESCO như cơ quan xây dựng thương hiệu tạo nên cạnh tranh giữa các quốc gia; Daniel Fabre (2013) phân tích hiện tượng quy đổi lễ hội thành di sản và sự sân khấu hóa; Jo Caust (2003), McKercher và du Cros (2002), David C. Harvey (2001), Peter J.M. Nas (2002), Anya Chapman và Duncan Light (2016), Yim Dawnhee (2004) xem xét mối quan hệ giữa di sản hóa và du lịch.

Nhóm 2: Các nghiên cứu về di sản hóa tại Việt Nam:

  • Choi Horim (2007) phân tích chính trị văn hóa của lễ hội làng ở Hà Nội, chỉ ra sự phân hóa giữa người gốc và người ngụ cư trong đóng góp công đức và phô trương địa vị.
  • Kristen Endres (2011) trong Performing the Divine khảo cứu quá trình di sản hóa Đạo Mẫu từ thực hành bị coi là mê tín dị đoan thành bản sắc dân tộc.
  • Oscar Salemink (2012, 2013) bàn về khái niệm chiếm đoạt văn hóa (appropriating culture), chỉ ra việc di sản hóa văn hóa sống biến di sản thành tài sản quốc gia và tước quyền thực hành truyền thống của địa phương.
  • Lê Hồng Lý (2013, 2018), Nguyễn Thị Phương Châm (2018), Nguyễn Thị Hiền (2013, 2018), Hoàng Cầm (2018), Đào Thế Đức (2018) nghiên cứu về tính chính trị, sự củng cố quyền lực nhà nước và suy giảm vai trò cộng đồng tại Hội Gióng, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Hát Xoan Phú Thọ và Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên.
  • Nguyễn Chí Bền, Lê Thị Minh Lý, Từ Thị Loan, Nguyễn Kim Dung, Nguyễn Quốc Hùng, Lương Hồng Quang, Tô Ngọc Thanh, Phan Phương Anh, Trần Minh Chính, Trần Quang Hải, Lê Thị Hoài Phương, Nguyễn Thị Nhung phân tích các khía cạnh về quản lý nhà nước, sân khấu hóa, hành chính hóa và nguy cơ ngoài lề hóa cộng đồng tại Chùa Hương, quan họ Bắc Ninh và Hội Gióng.

Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu về di tích và lễ hội đền Hát Môn:

  • Thư tịch cổ: Hậu Hán thư, Thủy kinh chú, Đại Việt sử lược, Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí.
  • Công trình hiện đại: Phan Kế Bính (1930) trong Nam Hải dị nhân liệt truyện; Nguyễn Vinh Phúc (1983, 2005) nghiên cứu cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và việc đổi hướng đền năm 1882; Phạm Lan Oanh (2011, 2013) khảo cứu tín ngưỡng Hai Bà Trưng với hơn 400 làng thờ phụng ở châu thổ sông Hồng và ngọc phả làng Hát Môn; Nguyễn Hữu Thức (2007), Nguyễn Văn Kịch (2010), Đỗ Đức Hinh, Nguyễn Bích Ngọc, Nguyễn Minh San mô tả kiến trúc và lễ hội đền Hát Môn.

Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình trước đây về đền Hát Môn chủ yếu tập trung miêu tả lịch sử, kiến trúc, văn hóa dân gian hoặc diễn giải nghi lễ truyền thống. Chưa có công trình nào tiếp cận đền Hát Môn dưới góc nhìn văn hóa học như một nghiên cứu trường hợp về tiến trình di sản hóa, khảo sát toàn diện từ khâu chuẩn bị hồ sơ vinh danh đến những biến đổi vật thể, phi vật thể và tương tác quyền lực giữa Nhà nước và cộng đồng trong giai đoạn hậu vinh danh.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Cách tiếp cận: Luận án sử dụng hướng tiếp cận văn hóa học (cultural studies) và liên ngành khoa học xã hội.
  • Kiến tạo luận (constructivism): Tác giả bác bỏ quy chất luận (essentialism) vốn xem di sản là một thực thể tĩnh có sẵn, thay vào đó nhìn nhận di sản là một quá trình xã hội và văn hóa mang tính động, được kiến tạo và tái tạo liên tục trong bối cảnh chính trị - xã hội đương đại.
  • Khung phân tích di sản hóa: Dựa trên luận điểm của Oscar Salemink và các học giả quốc tế, luận án phân tích tính chính trị của di sản hóa qua ba chiều kích:
    1. Động thái chính trị - xã hội và mối quan hệ quyền lực giữa các bên (Nhà nước, chính quyền địa phương, cộng đồng chủ thể, nhà khoa học).
    2. Sự biến đổi của di sản vật thể (quy hoạch, trùng tu, xây mới hạng mục kiến trúc) và di sản phi vật thể (sân khấu hóa, chính quy hóa nghi lễ, tái tạo truyền thống).
    3. Hiện tượng nhà nước hóa và nguy cơ ngoài lề hóa (marginalization) vai trò của cộng đồng địa phương trong việc quản lý và thực hành di sản.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án hoàn toàn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, không sử dụng các mô hình đo lường thống kê lượng hóa:

  • Phương pháp quan sát tham dự:

    • Tiến hành thực địa lần đầu vào tháng 12-2016.
    • Quan sát tham dự liên tục trong 3 năm (2017, 2018, 2019) vào 3 kỳ lễ hội chính: lễ hội ngày mùng 6 tháng Ba (mỗi đợt 7-10 ngày), lễ hội ngày mùng 4 tháng Chín (mỗi đợt 5-7 ngày), lễ hội ngày 24 tháng Chạp (mỗi đợt 4-6 ngày).
    • Điền dã 3 đợt ngoài kỳ lễ hội (tháng 9-2017, tháng 6-2018, tháng 2-2019, mỗi đợt 5-7 ngày) để theo dõi sinh hoạt đời thường tại di tích.
    • Tham dự các cuộc họp triển khai tổ chức và họp tổng kết rút kinh nghiệm của Ban Quản lý/Ban Bảo vệ di tích và chính quyền xã tại nhà khách đền Hát Môn.
    • Ghi chép điền dã, chụp ảnh, ghi âm và quay video tư liệu.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm:

    • Phỏng vấn cán bộ quản lý: đại diện chính quyền huyện Phúc Thọ, xã Hát Môn, các ban ngành đoàn thể (thanh niên, phụ nữ), cán bộ quản lý văn hóa các cấp và các nhà khoa học.
    • Phỏng vấn cộng đồng: thành viên Ban Bảo vệ di tích (BBVDT), thủ quỹ nhà đền, ông từ, người phục vụ dọn dẹp, người dân đi lễ, người tham gia đội tu lễ, người dân các xã lân cận. Tác giả lưu trú tại nhà thủ quỹ BBVDT đền Hát Môn trong các đợt điền dã.
    • Thảo luận nhóm tập trung: nhóm người từng đi Hà Nội đưa bát hương bà Nguyễn Thị Định về thờ (04 người), ban tu lễ tại nhà chứa lễ (07 người), ban thường trực bảo vệ di tích (05 người).
  • Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu:

    • Phân tích văn bản pháp lý: Luật Di sản văn hóa (2001), Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998), các chỉ thị, quy hoạch của UBND thành phố Hà Nội và huyện Phúc Thọ.
    • Phân tích thư tịch cổ, ngọc phả, lý lịch di tích năm 1958, hương ước làng Hát Môn và hệ thống văn bia Hán Nôm tại đền (khắc các năm 1622, 1703, 1882, 1865, 1867).

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục luận án gồm phần Mở đầu (10 trang), 4 chương nội dung (147 trang), Kết luận (5 trang), Tài liệu tham khảo (17 trang) và Phụ lục (31 trang).

Bố cục luận án:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu (42 trang)

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu về di sản hóa trên thế giới và tại Việt Nam, xác lập khung lý thuyết kiến tạo luận và văn hóa học, đồng thời phác họa bức tranh toàn diện về địa bàn nghiên cứu:

  • Đặc điểm địa bàn xã Hát Môn: Xã thuộc huyện Phúc Thọ, Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô 30km về phía tây bắc. Năm 2017, xã có diện tích tự nhiên 433,5 ha, dân số 2.629 người phân bố ở 10 cụm dân cư. Hát Môn có vị trí gần vùng ngã ba sông Hát và sông Hồng, đất bãi bồi, truyền thống đắp đê trị thủy lâu đời. Trước 1945, làng thuộc tổng Phù Long, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây, tổ chức theo mô hình "nhất xã nhất thôn", phân chia thành 5 giáp: Đông Hạ, Đông Thượng, Nam Hạ, Nam Thượng, Trung. Hương ước quy định chặt chẽ trách nhiệm quản lý đền cho từng giáp: Đông Hạ trông nom hậu cung và thiêu hương; Đông Thượng quản lý đại bái; Nam Hạ phụ trách hữu mạc; Nam Thượng phụ trách tả mạc; giáp Trung phụ trách tam quan. Mỗi giáp nhận 1 sào ruộng cửa đền cày cấy lấy hoa lợi lo sóc vọng, 5 mẫu ruộng làng để lấy kinh phí tu sửa miếu khi hư hỏng. Làng có tục kết chạ với Đồng Nhân, Phụng Công, Hạ Lôi.
  • Lịch sử, kiến trúc và hiện vật đền Hát Môn: Khởi dựng từ thời cổ, qua nhiều đợt trùng tu (văn bia năm 1622 đời Vĩnh Tộ, năm 1703 đời Chính Hòa, năm 1882 đời Tự Đức chuyển hướng đền, năm 1940 xây cửa gạch chống lũ, năm 1954 làm nhà Tạm ngự). Cấu trúc gồm: Quán Tiên (Miếu cô), đền Tạm ngự, Cổng tứ trụ, Tam quan (nghi môn nội), nhà Phương đình (xây dựng năm 2010 giữa hồ nước), nhà tưởng niệm bà Nguyễn Thị Định, Đàn thề (xây mới trước Nghi môn), Nhà bia tả hữu, gò Giấu ấn, hai nhà Tả Hữu mạc, đền chính (Đại bái, Tiền tế, Hậu cung theo kiểu "tiền nhất hậu đinh"), nhà khách. Đền lưu giữ 293 di vật, cổ vật có niên đại thời Lê, Tây Sơn, Nguyễn.
  • Hệ thống 3 kỳ lễ hội trong năm:
    1. Lễ hội mùng 6 tháng Ba (kỷ niệm ngày hóa): Diễn ra từ mùng 4 đến mùng 9 tháng Ba âm lịch. Lễ vật bắt buộc là bánh trôi (bánh "tù tì"). Quy trình làm bánh tuân thủ nghiêm ngặt tại "nhà chứa lễ" (gia đình được chọn phải song toàn, đạo đức nề nếp). Đám rước kiệu có tục kiệu đi giật lùi ("cha đưa, mẹ đón"), đầu rồng tay ngai quay vào trong; các nghi thức cử hành theo cặp đôi (hai chủ lễ, hai người đọc văn, hai người che quạt, hai đội nữ binh).
    2. Lễ hội mùng 4 tháng Chín (kỷ niệm ngày tế cờ khởi nghĩa): Tổ chức từ mùng 3 đến mùng 5 tháng Chín âm lịch. Dâng cúng hai lạt vàng tế cáo trời đất, tục tế tam sinh (trâu, dê, lợn; trâu phải đủ tiêu chuẩn lưng cầu, đầu quạ, dạ bình vôi, mắt ốc nhồi; lần tế tam sinh cuối thời phong kiến vào năm 1943). Chuẩn bị lễ vật tại nhà chứa lễ có lập ban quan Giám trai; cấm phát tang trong làng khi chưa tế xong ở đền.
    3. Lễ hội ngày 24 tháng Chạp (kỷ niệm chiến thắng): Tiến hành lễ Mộc dục (tắm tượng) và dịch phục (thay áo mũ). 20 tráng đinh rước tượng ra nhà Dội, xin nước sông Hồng tại làng Vạn Hát (xã Vân Nam); huy động ít nhất 200 người phù giá phải kiêng khem 7 ngày; lần tổ chức cuối cùng thời phong kiến là năm 1942.

Chương 2: Quá trình vinh danh di tích và lễ hội đền Hát Môn (25 trang)

Chương 2 phân tích tiến trình lập hồ sơ khoa học, tiêu chí xếp hạng và động thái tham gia của các bên trong việc vinh danh đền Hát Môn:

  • Tiến trình vinh danh qua các mốc lịch sử: Năm 1964 được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia; năm 2013 được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt; năm 2016 Lễ hội đền Hát Môn được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh là DSVH phi vật thể quốc gia.
  • Sự tham gia và mục tiêu của các bên:
    • Nhà nước: Sử dụng biểu tượng Hai Bà Trưng để củng cố ký ức lịch sử chung, xây dựng bản sắc quốc gia - dân tộc và thực hiện chức năng quản lý văn hóa từ trung ương đến địa phương.
    • Chính quyền địa phương và cộng đồng: Tích cực phối hợp lập hồ sơ đề cử nhằm nâng cao vị thế địa phương, tìm kiếm nguồn vốn đầu tư tu bổ cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế - du lịch.

Chương 3: Quá trình hậu vinh danh di tích và lễ hội đền Hát Môn (52 trang)

Chương 3 trình bày các biến đổi sau khi đền và lễ hội được gắn nhãn di sản cấp quốc gia đặc biệt:

  • Biến đổi di sản vật thể: Các dự án quy hoạch, mở rộng không gian, xây dựng mới các hạng mục như tòa Phương đình giữa hồ (2010), Đàn thề bằng đá, nhà tưởng niệm bà Nguyễn Thị Định, tôn tạo gò Giấu ấn.
  • Biến đổi di sản phi vật thể: Mở rộng quy mô lễ hội, chính quy hóa chương trình theo kịch bản hành chính, đẩy mạnh yếu tố sân khấu hóa trong các màn tế lễ và diễn xướng để phục vụ đại biểu và du khách thập phương.
  • Chuyển dịch quyền lực quản lý: Sự tham gia sâu của các cơ quan quản lý nhà nước làm thay đổi cơ chế tự quản truyền thống của các giáp/tiên chỉ, tạo nên sự đan xen phức tạp giữa quản trị nhà nước và tâm lý cộng đồng bản địa, dẫn tới nguy cơ người dân bị động hoặc đứng bên lề trong một số quyết định trùng tu và tổ chức.

Chương 4: Di sản hóa đền Hát Môn và những vấn đề bàn luận (28 trang)

Chương 4 đúc kết các vấn đề lý luận và thực tiễn từ trường hợp nghiên cứu:

  • Tính chính trị và vấn đề nhà nước hóa di sản: Phân tích quá trình chuyển hóa di sản của làng thành tài sản biểu tượng quốc gia, nơi nhà nước đóng vai trò điều tiết chính yếu.
  • Xung đột giữa bảo tồn tính thiêng và thế tục hóa/thương mại hóa: Sự gia tăng khách du lịch và các hoạt động dịch vụ tạo ra áp lực lên không gian thiêng và các kiêng kỵ cổ truyền của làng (như lệ kiêng mặc áo đỏ, tục làm bánh trôi).
  • Vai trò chủ thể của cộng đồng: Bàn thảo các giải pháp cân bằng quyền lực, trao quyền tự chủ cho cộng đồng nhằm bảo đảm tính bền vững trong bảo vệ DSVH tại Việt Nam thời kỳ chuyển đổi.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về khoa học và lý luận

  • Góc nhìn văn hóa học: Luận án làm rõ quá trình lựa chọn, vinh danh một di tích và thực hành văn hóa cụ thể trở thành DSVH gắn với sự tham gia của các bên liên quan và các động thái chính trị - xã hội của mỗi bên trong thực tiễn Việt Nam sau Đổi mới.
  • Đóng góp lý luận: Cung cấp cách tiếp cận có hệ thống về quá trình di sản hóa; bổ sung và kiểm chứng các khái niệm học thuật như "ngoài lề hóa cộng đồng", "nhà nước hóa di sản", "tính chính trị của DSVH" thông qua cứ liệu thực chứng khách quan từ một trường hợp cụ thể.

Ý nghĩa thực tiễn và đề xuất giải pháp

  • Đóng góp thực tiễn: Chỉ ra những vấn đề mà các DSVH ở Việt Nam đang đối mặt trước và sau khi xếp hạng (biến đổi kiến trúc, sân khấu hóa nghi lễ, suy giảm tính tự nguyện của người dân). Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quản lý, quy hoạch và hoạch định chính sách bảo tồn di sản.
  • Tài liệu tham khảo: Bổ sung nguồn tư liệu thực địa chi tiết phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành văn hóa học, nhân học và quản lý văn hóa.
  • Kiến nghị: Cần có cơ chế phân cấp quản lý hợp lý giữa chính quyền và cộng đồng; tôn trọng tri thức bản địa và quyền thực hành văn hóa của người dân; tránh xu hướng hành chính hóa và hoành tráng hóa làm tổn hại không gian thiêng của di tích.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung sâu vào phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) tại một địa bàn cụ thể là xã Hát Môn (huyện Phúc Thọ, Hà Nội) trong khung thời gian điền dã từ năm 2016 đến năm 2019. Do đó, các kết luận phản ánh đặc thù của không gian văn hóa xứ Đoài và tín ngưỡng Hai Bà Trưng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh quá trình di sản hóa đền Hát Môn với các di tích khác cùng thờ Hai Bà Trưng trong vùng châu thổ sông Hồng (như đền Hạ Lôi tại Mê Linh, đền Đồng Nhân tại quận Hai Bà Trưng, đền Quán Sen tại Thạch Thất) hoặc các Di tích quốc gia đặc biệt khác nhằm hoàn thiện mô hình lý giải về di sản hóa tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án là tài liệu tham khảo về việc vận dụng lý thuyết kiến tạo luận và khung phân tích di sản hóa của Oscar Salemink vào bối cảnh văn hóa Việt Nam; cung cấp phương pháp điền dã dân tộc học, quan sát tham dự và kỹ thuật phỏng vấn sâu chi tiết.
  • Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách văn hóa: Chương 3 và Chương 4 cung cấp căn cứ thực tế về những hệ lụy của quá trình hậu vinh danh, giúp các nhà quản lý tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội xây dựng chính sách bảo tồn hài hòa lợi ích giữa nhà nước, cộng đồng và du lịch.
  • Đối với giảng viên và sinh viên ngành Di sản học, Văn hóa học, Nhân học: Các chương khảo cứu về cấu trúc 5 giáp, hương ước làng Hát Môn, quy trình làm bánh trôi và 3 kỳ lễ hội là nguồn tư liệu dân tộc học phong phú phục vụ bài giảng.

Câu hỏi thường gặp

1. Di tích và lễ hội đền Hát Môn được Nhà nước xếp hạng vào những năm nào?

Đền Hát Môn được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1964; được Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt vào năm 2013. Lễ hội đền Hát Môn được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2016.

2. Đền Hát Môn tổ chức mấy kỳ lễ hội chính trong một năm và mang ý nghĩa gì?

Đền Hát Môn tổ chức 3 kỳ lễ hội lớn trong năm gắn liền với các sự kiện trong cuộc đời Hai Bà Trưng:

  • Lễ hội ngày mùng 6 tháng Ba âm lịch: kỷ niệm ngày Hai Bà Trưng tuẫn tiết (ngày hóa).
  • Lễ hội ngày mùng 4 tháng Chín âm lịch: kỷ niệm ngày Hai Bà Trưng lập đàn thề, tế cờ khởi nghĩa.
  • Lễ hội ngày 24 tháng Chạp âm lịch: kỷ niệm ngày chiến thắng của Hai Bà Trưng, thực hiện nghi lễ Mộc dục và dịch phục.

3. Tục dâng cúng bánh trôi trong lễ hội ngày mùng 6 tháng Ba có những quy định đặc thù nào?

Theo truyền thuyết, bánh trôi (bánh "tù tì") là món ăn Hai Bà Trưng dùng trước khi tuẫn tiết trên dòng sông Hát. Quy trình làm bánh diễn ra nghiêm ngặt tại "nhà chứa lễ" - một gia đình trong làng được chọn lựa khắt khe (song toàn cả ông bà, con cái đủ trai gái, nề nếp văn hóa). Chỉ sau khi hoàn tất lễ dâng cúng bánh trôi lên Hai Bà tại đền vào ngày mùng 6 tháng Ba, các gia đình trong làng mới được làm và ăn bánh trôi.

4. Tác giả luận án đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu thực địa nào?

Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính gồm:

  • Quan sát tham dự liên tục trong 3 năm (2017, 2018, 2019) vào các dịp lễ hội và 3 đợt điền dã thường nhật (tháng 9-2017, tháng 6-2018, tháng 2-2019), tham dự các cuộc họp của chính quyền và Ban Quản lý di tích.
  • Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý các cấp, các nhà nghiên cứu, thành viên Ban Bảo vệ di tích, người phục vụ đền, người đi lễ và cư dân địa phương.
  • Thảo luận nhóm tập trung với nhóm người rước bát hương bà Nguyễn Thị Định (04 người), ban tu lễ (07 người), ban thường trực bảo vệ di tích (05 người).

5. Quá trình di sản hóa tại đền Hát Môn làm nảy sinh những biến đổi nào trong giai đoạn hậu vinh danh?

Về mặt vật thể, di tích được quy hoạch xây mới thêm các công trình (nhà Phương đình năm 2010, Đàn thề bằng đá, nhà tưởng niệm bà Nguyễn Thị Định, tôn tạo gò Giấu ấn). Về mặt phi vật thể, lễ hội được nâng quy mô, kịch bản hóa và sân khấu hóa phục vụ du khách. Về mặt xã hội, cơ chế quản lý hành chính nhà nước can thiệp sâu, làm thay đổi cấu trúc tự quản truyền thống của làng xã và đặt ra nguy cơ ngoài lề hóa vai trò chủ thể của người dân địa phương.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả là công trình chuyên khảo văn hóa học nghiên cứu toàn diện về tiến trình di sản hóa qua trường hợp di tích và lễ hội đền Hát Môn (huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội). Bằng cách tiếp cận kiến tạo luận và phương pháp điền dã dân tộc học định tính, tác giả đã làm sáng tỏ các động thái chính trị - xã hội, sự đan xen quyền lực giữa Nhà nước và cộng đồng trong việc tạo dựng bản sắc và quản lý di sản. Công trình cung cấp những luận cứ khoa học thực tiễn xác thực, chỉ ra những biến đổi vật thể và phi vật thể của di sản sau khi được gắn nhãn cấp quốc gia đặc biệt, đóng góp nguồn tư liệu tham khảo cho nghiên cứu học thuật và hoạch định chính sách bảo tồn DSVH tại Việt Nam.