CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA VIỆT NAM 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Giá trị văn hóa Giá trị văn hoá được hiểu theo những ý nghĩa sau : - Giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức. đều là sản phẩm của quá trình tư duy, sản xuất tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất của văn hoá.
Giá trị, giá trị văn hoá là một hình thái của đời sống tinh thần, nó phản ánh và kết tinh đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của con người. - Giá trị văn hoá do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, nhưng một khi hệ giá trị văn hoá đã hình thành thì nó lại có vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong các xã hội ấy. Cũng như văn hoá, giá trị được sản sinh từ các mối quan hệ con người với tự nhiên, với xã hội. - Giá trị văn hoá của mỗi cộng đồng (tộc người, quốc gia.) bao giờ cũng tạo nên một hệ thống, với ý nghĩa là các giá trị ấy nảy sinh, tồn tại trong sự liên hệ, tác động hữu cơ với nhau.
Hệ giá trị mang tính chất tương đối. Để đánh giá tính giá trị hay phi giá trị, giá trị cao hay thấp thì phải đặt nó trong toạ độ về mặt không gian, thời gian và chủ thể văn hoá 1. Giá trị văn hóa truyền thống Trong quá trình hình thành và phát triển mình, mỗi dân tộc đều sáng tạo ra nền văn hóa, trong đó có các giá trị văn hóa. Các giá trị văn hóa này được lưu truyền trong xã hội qua các thời kỳ lịch sử và trở thành các giá trị văn hóa truyền thống.
Giá trị văn hóa truyền thống chính là những tư tưởng, biểu tượng, giá trị và chuẩn mực xã hội hóa, những tác phẩm văn hóa được cộng đồng tin tưởng và mong muốn gìn giữ, truyền đạt và noi theo. 11 Nói đến những giá trị văn hóa truyền thống là nói đến những giá trị tốt đẹp, tiêu biểu cho một nền văn hóa được chắt lọc, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do đó, nói đến những giá trị văn hóa truyền thống cũng là nói đến những giá trị văn hóa được hình thành và phát triển trong quá trình dựng nước và giữ nước của mỗi dân tộc, nó có tính “di truyền xã hội”. Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc không phải là cái có sẵn từ khi dân tộc hình thành mà nó được các thế hệ nối tiếp nhau làm nên.
Các giá trị này biến đổi tùy điều kiện tác động đến nó. Nhưng nếu giá trị văn hóa truyền thống biến đổi cơ bản về chất thì nó sẽ không còn là truyền thống. Nói đến giá trị văn hóa là nói đến là nói đến cái lâu dài, trải qua nhiều thời gian thử thách mà cốt lõi bản chất của nó luôn được giữ vững. Giá trị văn hóa truyền thống là những giá trị ổn định, tốt đẹp, tiêu biểu cho dân tộc, tạo nên bản sắc cho dân tộc đó.
Chính vì thế, giá trị văn hóa truyền thống luôn có tính bền vững, trở thành những nguyên lý đạo đức lớn để dân tộc đó phải dựa vào để liên kết xã hội, tạo nên sức mạnh nhằm bảo vệ và xây dựng đất nước vì sự tiến bộ của con người và xã hội. Bảo tồn và phát huy Có thể hiểu bảo tồn là các nỗ lực nhằm bảo vệ và gìn giữ sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó. Hiện nay, trên thế giới có 02 quan điểm về bảo tồn là: Bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa. Bảo tồn nguyên vẹn có nghĩa là những sản phẩm của quá khứ nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn, như nó vốn có, nên phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể.
Bảo tồn trên cơ sở kế thừa có thể được hiểu là xem di sản như một ngành công nghiệp, do đó để quản lý di sản thì chúng ta cần phải có cách thức quản lý giống như quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa. Phát huy có nghĩa là cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm. Cũng còn có ý nghĩa là những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, phát triển theo chiều hướng tiến bộ, mang lại những lợi ích vật chất và 12 tinh thần cho con người, là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển xã hội. Có thể nhận xét rằng, giữa bảo tồn và phát huy luôn có sự tương hỗ lẫn nhau và là hai mặt của hoạt động.
Thông thường bảo tồn đi kèm với khai thác, phát huy giá trị của văn hóa, đặc biệt là các giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống xã hội. Phát huy có nghĩa là đưa các giá trị di sản để đưa giá trị văn hóa đến cộng đồng, tạo mọi điều kiện để cộng đồng phát triển mạnh mẽ hơn nữa trên tất cả các mặt kinh tế - xã hội. Nhờ đó, thực hiện tốt hơn công tác bảo tồn di sản văn hóa. Để đảm bảo sự phát triển bền vững thì quan trọng nhất là giữa bảo tồn và phát huy cần tạo ra sự cân bằng hợp lý.
Bản sắc văn hóa Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ "bản sắc" thông thường dùng để chỉ tính chất, màu sắc riêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của một sự vật, tức là nói tới sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng của sự vật đó [27, tr. Trong thực tế, nói đến "bản sắc" nghĩa là nói đến cái riêng, cái rất riêng của một sự vật để phân biệt sự vật đó với các sự vật khác trong thế giới khách quan. Bản sắc văn hóa là đặc trưng riêng, là những cái cốt lõi của một cộng đồng văn hóa trong quá trình lịch sử tồn tại và phát triển của mình, nhằm phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Bản sắc văn hóa tộc người được coi là những nét đẹp tinh hoa, đặc trưng riêng được chắt lọc từ trong cuộc sống của cộng đồng, được cộng đồng thừa nhận, là sự kết nối, gắn bó giữa con người với nhau, là tài sản vô giá của cộng đồng dân tộc, tộc người tạo nên sức mạnh tinh thần mang tính đặc thù khác với tộc người khác [11, tr.
Bản sắc văn hoá là yếu tố mang sức mạnh tinh thần dân tộc, giúp dân tộc vượt qua những thử thách của lịch sử, bởi vì “bản sắc dân tộc là tổng thể những phẩm chất, tính cách, khuynh hướng cơ bản thuộc sức mạnh tiềm tàng và sức sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính nhất quán, tính thống nhất và tính duy nhất, so với bản 13 thân mình trong quá trình phát triển” [1, tr. Chính vì vậy, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc đã và đang được nhiều quốc gia dân tộc coi trọng. Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: "Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.
Nội dung, bản chất và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của quan điểm, đường lối, chủ trương, nhiệm vụ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa…" [26, tr. Các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước ban hành những chính sách nhằm giải quyết những vấn đề mang tính cộng đồng thì được gọi là chính sách công. Khoa học chính sách nghiên cứu nhiều loại chính sách khác nhau, nhưng chú trọng nghiên cứu các chính sách công nhằm thực hiện đạt mục tiêu góp phần nâng cao hiệu lực của chính sách và khẳng định hiệu quả quản lí Nhà nước của chính sách đó. Là một bộ phận của chính sách công, chính sách văn hóa được UNESCO định nghĩa như sau: “Chính sách văn hóa là một tổng thể các nguyên tắc hoạt động quyết định các thực hành, các phương pháp quản lý hành chính và phương pháp ngân sách Nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa” [18, tr.
Chính sách văn hóa là một phạm trù rộng, bao gồm nhiều bộ phận chính sách khác nhau gộp thành. Trong đó, chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đóng vai trò quan trọng, là tập hợp nhiều quyết định chính trị có nội dung liên quan nhằm lựa chọn, đề xuất các mục tiêu, công cụ và giải pháp để thực hiện tốt việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Chính sánh bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa được thực hiện trên cơ sở các chủ trương, đường lối Đảng và Nhà nước, từ Hiến pháp đến văn kiện các kỳ Đại hội Đảng, được cụ thể qua Nghị quyết các Hội nghị Trung ương Đảng, qua việc hoạch định chiến lược phát triển văn hóa qua các thời kỳ, khi Luật Di sản văn hóa được 14 thông qua và các Thông tư, Nghị định hướng dẫn Luật di sản văn hóa được các cơ quan có thẩm quyền ban hành. Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Là một khâu hợp thành chu trình chính sách, thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa có vị trí rất quan trọng.
Chu trình chính sách nếu khuyết thiếu công đoạn này thì sẽ bị đứt gãy, không thể tồn tại vì thực hiện chính sách có vai trò trung tâm, kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống hoàn chỉnh. Tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa để từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung. Mục tiêu của chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa có liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội. Thực tế, trong quá trình thực hiện chính sách này cho thấy muốn đạt được mục tiêu của chính sách thì phải thông qua việc thực hiện chính sách, và các mục tiêu của chính sách thì cần phải có quan hệ với nhau và ảnh hưởng đến các mục tiêu chung.
Thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa còn để khẳng định được tính đúng đắn, tính hợp lý của chính sách.