Chương 1 - Tổng quan tình hình nghiên cứu; Chương 2 - Cơ sở khoa học và mô hình nghiên cứu về kinh doanh DLDSVH; Chương 3 - Tiềm năng và thực trạng kinh doanh DLDSVH ở Việt Nam, nghiên cứu trường hợp phố cổ Hội An; Chương 4 - Các giải pháp thúc đẩy kinh doanh DLDSVH ở Việt Nam. 9 Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới về KDDLDSVH khá đa dạng tuy nhiên chưa thấy có nghiên cứu nào đề cập đến trường hợp KDDLDSVH ở Việt Nam. Du lịch là loại hình kinh doanh dịch vụ có từ lâu đời, do vậy các nghiên cứu là rất phong phú, sâu rộng với rất nhiều chuyên ngành hẹp khác nhau. Kinh doanh du lịch gắn với di sản văn hóa (DSVH) là một khái niệm không xa lạ đối với các nhà nghiên cứu khoa học, các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh du lịch, thậm chí là khách du lịch ở các nước phương Tây như Mỹ, Pháp, Thụy Điển, Anh, Ý… Do vậy, hệ thống lý thuyết, các quan điểm về DLDSVH được định hình và phát triển rất mạnh trên thế giới.
Hiện nay có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về Du lịch nói chung và mô hình DLDSVH nói riêng với các nội dung và mục đích khác nhau. Kinh doanh du lịch có nhiều mô hình khác nhau như mô hình du lịch cộng đồng (Community-Based tourism), mô hình du lịch sinh thái (Ecotourism), mô hình du lịch sức khỏe (Health & Wellness tourism), mô hình du lịch mạo hiểm (Adventure tourism), mô hình du lịch nông thôn (Rural tourism), mô hình du lịch biển (maritime tourism)… Trong đó, mô hình DLDSVH (Cultural Heritage Tourism) là một mô hình kinh doanh du lịch hướng tới sự phát triển bền vững, có nội hàm phát triển du lịch đồng thời với việc bảo tồn các DSVH. Một số các nghiên cứu mà tác giả được tiếp cận, có thể chia ra thành các chủ đề như sau: 1. Các công trình nghiên cứu về kinh doanh du lịch 1.
Các nghiên cứu về nội dung của du lịch và kinh doanh du lịch Có rất nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau về du lịch. Một trong số những nghiên cứu sâu sắc và tổng thể nhất về du lịch là cuốn sách The business of tourism của J Christopher Holloway, Claire Humphreys, Rob Davidson (2009). Cuốn sách trích lược một số khái niệm về du lịch như sau: “Du lịch là những di chuyển ngắn hạn tạm thời của người dân đến các điểm bên ngoài nơi mà họ thường sống và làm việc và các hoạt động trong suốt thời gian họ ở tại các điểm này; nó bao gồm sự di chuyển cho tất cả các mục đích cũng như các chuyến thăm hoặc du ngoạn trong ngày” (Viện nghiên cứu du lịch Anh Quốc, 1976: 8). Định nghĩa này 10 Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh đã được điều chỉnh lại một chút tại Hội nghị Quốc tế về Giải trí - Tái tạo - Du lịch được tổ chức bởi AIEST và Tourism Society năm 1981, Du lịch có thể được xác định theo các hoạt động cụ thể được sàng lọc bởi những lựa chọn và được thực hiện ở bên ngoài môi trường gia đình.
Du lịch có thể không liên quan đến việc ở xa qua đêm. Năm 1993, Ủy ban Thống kê của Liên Hợp Quốc đã trích dẫn định nghĩa về du lịch do WTO đưa ra vào năm 1991 “Du lịch bao gồm các hoạt động của những người đi du lịch và lưu trú ở những nơi bên ngoài môi trường thông thường của họ không quá một lần liên tiếp trong năm để giải trí, kinh doanh hoặc các mục đích khác”. Định nghĩa trên cũng đồng quan điểm và được bổ sung rộng hơn đối với ngành Khách sạn, Dịch vụ ăn uống và Du lịch (Hotels, Catering and Tourism - HCT) bởi Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đó là “Du lịch không chỉ bao gồm các dịch vụ cung cấp cho khách du lịch mà còn cả cho người dân. Đối với ILO, HCT bao gồm: khách sạn, nhà trọ, nhà nghỉ, trại du lịch và trung tâm nghỉ mát; nhà hàng, quán bar, quán ăn tự phục vụ, quán ăn nhanh, quán rượu, câu lạc bộ đêm và các cơ sở tương tự; tổ chức cung cấp bữa ăn và giải khát trong bệnh viện, nhà máy, căng tin văn phòng, trường học, máy bay và tàu thuyền; các đại lý du lịch, các tổ chức hướng dẫn viên du lịch và văn phòng thông tin du lịch; và các trung tâm hội nghị triển lãm” (ILO, 2011).
Trong khi đó UNWTO định nghĩa “Du lịch là một hiện tượng xã hội, văn hóa và kinh tế đòi hỏi sự di chuyển của mọi người đến các quốc gia hoặc những nơi bên ngoài môi trường thông thường của họ cho mục đích cá nhân hoặc kinh doanh/ chuyên môn. Những người này được gọi là du khách (có thể là khách du lịch hoặc người đi tham quan; cư dân hoặc không phải cư dân) và du lịch phải thực hiện cùng với các hoạt động của họ, một số trong đó liên quan đến chi tiêu du lịch (UNWTO, 2008). UNWTO cũng nói, Các ngành công nghiệp du lịch chủ yếu là lao động và cung cấp việc làm cho nhiều người. Họ bao gồm các chuyên gia được đào tạo tốt, nhưng cũng có một số lượng lớn công nhân gặp khó khăn khi tìm việc ở nơi khác, chẳng hạn như người mới gia nhập vào thị trường lao động (thanh niên và người di cư), phụ nữ có trách nhiệm gia đình chỉ có thể làm việc bán thời gian và công nhân ít trình độ chuyên môn nói chung.
Du lịch cung cấp cho người lao động thu nhập và kinh nghiệm, và do đó đóng góp cho sự hòa nhập xã hội và phát triển cá nhân của họ. 11 Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh Trong cuốn Heritage or Heresy, Archaeology and Culture on Maya Riviera của tác giả Cameron Jean Walker, 2009 có trích dẫn đến quan điểm của Thomas Lea Davidson (1994:22) đến Du lịch rằng “du lịch thường được mô tả theo thuật ngữ kinh tế là một ngành công nghiệp và, như vậy, đã được sử dụng và ghi nhận theo cách tương tự như các ngành công nghiệp khác như nông nghiệp. Trong một bài viết có tiêu đề “Thế nào là Du lịch và lữ hành: Chúng có thực sự là một ngành công nghiệp?” Thomas lập luận rằng chúng ta đang xem du lịch là một ngành công nghiệp đã góp phần gây ra rất nhiều hiểu lầm trong các cuộc thảo luận về du lịch. Trong kinh tế học, một ngành thường được định nghĩa là “một nhóm các doanh nghiệp độc lập và tất cả tạo ra cùng một sản phẩm”; do đó, khi được coi là một ngành công nghiệp, du lịch đề cập đến lợi ích kinh doanh kết hợp lợi ích kinh tế cụ thể của khách sạn, nhà hàng, cơ sở hạ tầng giao thông và địa điểm vui chơi.
Du lịch có thể dễ dàng được coi là một hiện tượng xã hội bởi vì nó tạo ra một trải nghiệm chủ yếu dựa vào chi tiêu thay vì dựa vào các khoản thu”. Đồng quan điểm, cuốn sách The economic Geography of the tourist industry: a supply-side analysis của hai tác giả Dimitri Ioannides và Keith G. Debbage, 1998 đã trích dẫn quan điểm của Tucker và Sundberg (1988:145) “Du lịch không phải là một ngành công nghiệp theo nghĩa thông thường vì nó không có một quy trình sản xuất, sản phẩm đồng nhất hoặc thị trường hạn chế theo địa điểm”. Leiper (1990:602) nói rằng, một công ty trong ngành công nghiệp hay kinh doanh du lịch chỉ vì nó có những khách hàng có thể được mô tả là khách du lịch.
tương tự như việc quan sát những người có mái tóc màu đỏ trong số những khách hàng của người bán thịt, thợ làm bánh hay nhà sản xuất nến và suy ra sự tồn tại của một “ngành công nghiệp đầu đỏ”. Leiper tiếp tục đề xuất rằng, du lịch có thể được mô tả tốt nhất là “công nghiệp hóa một phần”. Điều này, Leiper ý muốn nói là du khách được phục vụ, như một phần của trải nghiệm du lịch, cả bởi các công ty phục vụ gần như độc quyền cho khách cũng như các công ty khác mà khách du lịch chỉ là một phần nhỏ trong cơ sở khách hàng của họ. Quy mô và cấu trúc của ngành du lịch được tạo thành từ các thành phần rất phân tán và đa dạng.
Ngành du lịch bao gồm các thành phần khác nhau như công ty lữ hành, đại lý du lịch, nhà cung cấp chỗ ở, nhà vận chuyển, hiệp hội du lịch, tổ chức điểm đến và tư vấn (Mowforth và Munt 1998). Như 12 Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh Bhatia (2006) đã nêu, đây là tập hợp của nhiều ngành công nghiệp khác nhau với phạm vi hoạt động đa dạng, chủ yếu nhắm vào doanh thu được tạo ra từ du lịch. Trong báo cáo Knowledge Intensive Service Activities in the Tourism Industry in Australia (2004) của Australia Government nói rằng Tổ chức Phân loại công nghiệp tiêu chuẩn Úc và New Zealand (the Australian and New Zealand Standard Industrial Classification - ANZSIC) cũng không công nhận du lịch là “một ngành công nghiệp” riêng biệt bởi vì “các ngành được phân loại theo hàng hóa và dịch vụ mà họ sản xuất, trong khi du lịch phụ thuộc vào trạng thái của người tiêu dùng” (ABS 2004:3). Với mục đích tách biệt tiêu dùng của khách du lịch ra khỏi những người không phải là khách du lịch, du lịch được định nghĩa là “hoạt động của những người đi du lịch và ở những nơi bên ngoài môi trường thông thường của họ không quá một năm liên tiếp để giải trí, kinh doanh hay các mục đích khác không liên quan đến việc thực hiện một hoạt động được trả thù lao từ trong địa điểm đã viếng thăm” (ABS 2004:48).
Định nghĩa này được điều chỉnh từ định nghĩa về du lịch của UNWTO. Tuy nhiên, trong các chương mục của tổ chức ABS Australian National Accounts, du lịch được xác định theo các tiêu chuẩn quốc tế bao gồm khách du lịch là những người đi với mục đích chính là các doanh nghiệp tư nhân hay chính phủ cũng như du lịch quen thuộc hơn là mục đích giải trí (ABS, 2003). Do đó, nó không chỉ bị hạn chế trong hoạt động giải trí mà còn bao gồm cả việc đi công tác và các lí do khác như giáo dục. Nếu người đó ở lại lâu hơn 1 năm tại một địa điểm, họ không được coi là khách du lịch nữa.
Fundamentals of Business của Stephen J. Skripkak (2018) là cuốn sách giáo khoa dành cho khóa học kinh doanh của Đại học Virginia Tech’s Pamplin nói rằng “ngành kinh doanh du lịch thường được coi là ngành công nghiệp lớn nhất trên thế giới, đóng góp 10% GDP của thế giới.