chương 1 du lịch được hiểu: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài 20 z nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [35; tr. Như vậy, thông qua việc tìm hiểu khái niệm về du lịch của các nhà nghiên cứu du lịch trong và ngoài nước dưới nhiều góc độ khác nhau, chúng ta có thể nhận thấy, du lịch là một dạng hoạt động tổng hợp và phức tạp. Nếu đứng ở góc độ kinh tế, du lịch mang đặc điểm của một ngành kinh tế. Và có thể tiếp cận du lịch từ góc độ văn hóa, góc độ môi trường, xã hội.
Vì vậy, khi nghiên cứu khái niệm du lịch dưới góc độ của người đi du lịch, ở góc độ kinh tế cũng như góc độ văn hóa, môi trường xã hội, tôi đồng tình với khái niệm về du lịch trong Luật du lịch Việt Nam (2008) và coi đó là cơ sở cho hướng nghiên cứu của mình. Quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển du lịch Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng. Trong các năm qua, ngành du lịch đã có những bước phát triển nhanh chóng, góp phần tích cực vào quá trình đổi mới kinh tế. Chính vì thế đường lối, chính sách phát triển du lịch là một bộ phận trong tổng thể kế hoạch phát triển kinh tế của một quốc gia.
Chính sách phát triển du lịch thể hiện ở việc xác định vai trò – vị trí của ngành du lịch trong tổng thể cơ cấu các ngành của nền kinh tế xã hội; thể hiện qua phương hướng mục tiêu, chiến lược phát triển và các biện pháp cụ thể tương ứng với mục tiêu, chiến lược phát triển du lịch Việt Nam. Đại hội lần thứ VI (12/1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt lớn trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong giai đoạn mới. Đại hội đã đánh dấu bước chuyển hướng mang ý nghĩa khởi đầu, mang tính chất quyết định đối với sự hình thành mô hình kinh tế phù hợp với qui luật vận động và thực tiễn khách quan của đất nước. Nhiều lĩnh vực kinh tế đã được nhìn nhận, đánh giá khác trước trong định hướng chiến lược của Đảng.
Đại hội đã nêu lên phương hướng “mở mang ngành 21 z nghề tại chỗ để thu hút lao động thừa và mới tăng, đi đôi với phân bố lao động trên các địa bàn khác, vừa nhằm vào lĩnh vực nông nghiệp, vừa phát triển thủ công nghiệp, tiểu công nghiệp, dịch vụ” [10; tr. Đảng cũng chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, coi trọng và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các hoạt động thu ngoại tệ như du lịch, kiều hối. xóa bỏ ngay những chế độ, thể lệ, thủ tục phiền hà đang làm hạn chế những hoạt động này. Bên cạnh đó, những ngành như giao thông vận tải, bưu điện, ngân hàng cũng được Nhà nước ưu tiên phát triển nên bước đầu cũng đã hỗ trợ cho ngành du lịch phát triển thuận lợi hơn.
Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập đã tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển. Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo xuyên suốt đối với sự nghiệp phát triển du lịch. Thực hiện chủ trương đổi mới kinh tế, ngày 11/4/1987 Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị quyết số 63/HĐBT với nội dung: nhanh chóng chấn chỉnh hệ thống quản lý du lịch từ Trung ương xuống địa phương theo hướng xóa bỏ tập trung quan liêu bao cấp, chuyển hẳn sang hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa; phân biệt rõ chức năng quản lý Nhà nước của Tổng cục Du lịch với quyền tự chủ kinh doanh của các tổ chức kinh doanh du lịch. Tốc độ phát triển du lịch trên thế giới đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động du lịch ở Việt Nam.
Việc khai thác tài nguyên du lịch vốn khá phong phú và đa dạng ngày càng trở nên cấp thiết hơn nhằm đáp ứng phát triển kinh tế xã hội đất nước. Chính vì vậy, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) Đảng và Nhà nước đã xác định: Khai thác sự hấp dẫn của thiên nhiên, di sản văn hóa phong phú và các lợi thế của đất nước, mở rộng hợp tác với nước ngoài để phát triển du lịch [14; tr. Vì vậy, nên từ sau Đại hội Đảng lần thứ VII, ngành du lịch nước ta đã có những thay đổi nhanh chóng. Các công ty du lịch lớn được thành lập cùng với sự ra đời của các Sở 22 z du lịch hoặc Sở thương mại – du lịch tại các địa phương.
Ngành du lịch đã dần dần có vị thế của mình trong nền kinh tế đất nước. Nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và tạo điều kiện cho du lịch phát triển, Chính phủ đã ra Nghị quyết “về đổi mới quản lý và phát triển ngành du lịch”, số 45/CP ngày 22/6/1993. Nghị quyết số 45/CP đã khẳng định du lịch là một ngành kinh tế mang tính tổng hợp, có tác dụng tích cực thực hiện chính sách mở cửa; thúc đẩy đổi mới và phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, tạo công ăn việc làm, mở rộng giao lưu văn hóa giữa các vùng trong nước, giữa nước ta với nước khác, tạo điều kiện tăng cường hữu nghị, hòa bình và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Chỉ thị 46/CT ngày 14/10/1994 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “về đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mới” đã nêu rõ: Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Chỉ thị đã vạch ra phương hướng phát triển du lịch, và yêu cầu các cấp ủy Đảng phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác du lịch, đẩy mạnh công tác xây dựng, phát triển Đảng và các đoàn thể nhân dân trong ngành du lịch. Bên cạnh đó, cùng với việc định hình cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch ở Trung ương. Ngày 17/4/1993, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 171/TTG về việc thành lập Sở du lịch ở một số địa phương có tiềm năng lớn về du lịch. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các tỉnh có được những cơ quan chuyên biệt quản lý, nghiên cứu về du lịch, từ đó sẽ có những chính sách đúng đắn, kịp thời cho ngành kinh tế du lịch của từng địa phương.
Năm 1955, Nhà nước chính thức phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 - 2010”. Bản quy định ra đời tạo điều kiện cho các tỉnh có 23 z thế mạnh về du lịch tăng cường sự chỉ đạo của Đảng bộ địa phương, lập kế hoạch phát triển du lịch, thu hút đầu tư. Chính vì thế trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) Đảng đã tiếp tục đề ra những phương hướng phát triển du lịch: “Phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ hàng không, hàng hải, bưu chính – viễn thông, thương mại, vận tải. Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch, thương mại – dịch vụ tầm cỡ trong khu vực” [15; tr.89] Điều quan trọng và cần thiết là Đảng đã chỉ thị việc tăng cường sự lãnh đạo với công tác du lịch và chỉ đạo cơ quan Nhà nước tăng cường quản lý, ban hành sửa đổi và bổ sung các chính sách, pháp luật có liên quan tới du lịch, làm cho du lịch phát triển mạnh và bền vững trong thời kỳ mới.
Tại Đại hội lần thứ VIII Đảng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế du lịch 5 năm 1996 – 2000 là “Triển khai thực hiện qui hoạch tổng thể phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng du lịch to lớn của đất nước theo hướng du lịch văn hóa, sinh thái môi trường. Xây dựng các chương trình và các điểm du lịch hấp dẫn về văn hóa, di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh. Huy động nguồn lực tham gia kinh doanh du lịch, ưu tiên xây dựng kết cấu hạ tầng ở những khu vực du lịch tập trung, ở các trung tâm lớn. Nâng cao trình độ văn hóa và chất lượng dịch vụ phù hợp với các loại hình du lịch” [51; tr.
Để thúc đẩy phát triển du lịch, Đảng chủ trương khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực, ngành nghề du lịch. Nhà nước tiến hành cổ phần hóa một số khách sạn hiện có để huy động các nguồn vốn để đầu tư cải tạo nâng cấp chúng lên đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách. Để đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch trong cơ chế thị trường, nhằm nâng cao nhận thực xã hội về du lịch, tháng 2/1999 “Pháp lệnh du lịch” được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua và ban hành. Pháp lệnh du lịch ra đời đánh dấu bước chuyển biến quan trọng về cơ sở pháp lý cho hoạt động du lịch 24 z ở nước ta; vừa xác định vị trí quan trọng của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân, vừa thể hiện ý trí quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc thúc đẩy ngành du lịch phát triển tương xứng với vị trí của nó trong giai đoạn mới.
Đó là một điều kiện tốt và có thể coi là nguồn lực then chốt để phát triển kinh tế du lịch. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài thì chúng ta khuyến khích, tạo những điều kiện thuận lợi để liên doanh xây dựng các khu du lịch, các khách sạn lớn có chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế phục vụ cho khách thu nhập cao. Với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước ngành du lịch đã thu hút nhiều vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Đến năm 2000, đã có 194 dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào ngành du lịch được cấp phép, với tổng vốn đăng ký là 5,78 tỷ USD [25; tr.
Trên cơ sở Nghị quyết 45/CP của Chính phủ, Tổng cục du lịch đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu về quản ký hoạt động du lịch như: Quy chế quản lý cơ sở lưu trú dịch vụ, Quy chế quản lý lữ hành, Quy chế hướng dẫn viên du lịch, Quy chế về hoạt động thanh tra du lịch. Nhà nước cũng đã khuyến khích, cho phép nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp mở chuyên ngành đào tạo liên quan đến ngành du lịch.