phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm ba chƣơng: - Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận khai thác giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số phục vụ du lịch. - Chƣơng 2: Thực trạng phát triển du lịch dựa trên văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. - Chƣơng 3: Một số giải pháp góp phần khai thác hiệu quả giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số nhằm phát triển du lịch của huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. 10 luan an CHƢƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHAI THÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ PHỤC VỤ DU LỊCH 1. Những vấn đề lý luận về văn hóa truyền thống 1. Khái niệm văn hóa Xã hội ngày càng phát triển thì con ngƣời ngày càng nhận rõ vị trí và tầm quan trọng của văn hóa đối với đời sống của con ngƣời và sự phát triển của xã hội. Văn hóa là nhân tố quan trọng trong nền sản xuất tổng hợp, văn hóa nhƣ chất keo kết dính các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội…tạo nên hình hài và bản sắc mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.
Văn hóa có khả năng bao quát một cách trực tiếp, đảm bảo tính bền vững của xã hội, tính kế thừa của lịch sử và không bị trộn lẫn ngay cả khi hội nhập vào những cộng đồng lớn hơn. Nhƣ những dòng sông, văn hóa của các dân tộc bền bỉ tích lũy, thâu nhận, gạn lọc tinh hoa từ muôn dặm nẻo, không ngừng chuyển tải và biến đổi, không ngừng giao lƣu và mở rộng để rồi góp phần của riêng mình vào đại dƣơng văn hóa mênh mông của nhân loại. Ngay từ những năm 1943, Hồ Chí Minh đã có quan niệm rất xác đáng về văn hóa “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loại người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [26, tr. Nhƣ vậy từ trong quan niệm của Hồ Chí Minh toát lên một cái nhìn vừa toàn diện, vừa sâu sắc về nguồn gốc lịch sử của văn hóa, về phạm vi rộng 11 luan an lớn của văn hóa, về mặt biểu hiện của văn hóa trong đời sống và toàn bộ sinh hoạt của con ngƣời. Định nghĩa văn hóa trong Tuyên bố Toàn Cầu về Đa dạng Văn hóa của UNESCO trong đó chỉ rõ: “Văn hóa được coi là hệ thống các đặc điểm về tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc của xã hội hay một nhóm người trong xã hội và văn hóa bao gồm nghệ thuật, văn học, phong cách sống, cách thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng” (UNESCO, 2001). Định nghĩa về văn hóa này có liên hệ mất thiết với cách thức mà xã hội, một nhóm ngƣời trong xã hội hay cộng đồng xác định bản sắc của mình.
Trong lĩnh vực nghiên cứu và phạm vi đề tài của mình, học viên lựa chọn hƣớng nhìn nhận văn hóa một cách tổng thể theo định nghĩa về văn hóa của UNESCO. Văn hóa truyền thống Mỗi dân tộc dù ở trình độ văn minh cao hay thấp đều có văn hóa truyền thống đặc trƣng riêng của mình. Hệ thống giá trị đó chính là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất đƣợc chắt lọc qua nhiều thời đại lịch sử để tạo nên bản sắc riêng của một dân tộc. Giá trị văn hóa truyền thống đó đƣợc truyền lại cho thế hệ sau và trở thành một động lực nội sinh để phát triển đất nƣớc.
Do đó sự nghiệp bảo tồn, giữ gìn phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc là của cả dân tộc. Trong quá trình đổi mới, con ngƣời và văn hóa Việt Nam hiện nay luôn có sự liên hệ với cội nguồn truyền thống. Các giá trị văn hóa truyền thống vẫn luôn có tác động đến con ngƣời và văn hóa hiện đại. Về điều này Đảng ta đã kiên trì chủ trƣơng rất đúng đắn rằng: phải “kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của loài ngƣời” [7 ,tr.213] 12 luan an Theo từ điển tiếng Việt, truyền thống là thói quen hình thành từ rất lâu đời trong lịch sử từ lối sống, nếp nghĩ đến các giá trị đạo đức, thẩm mỹ và phong tục tập quán đƣợc hun đúc và truyền lại từ thế hệ này đến thế hệ khác.
Có thể khái quát văn hóa truyền thống với 03 đặc trƣng cơ bản sau đây: - Thứ nhất, tính giá trị: Cũng nhƣ văn hóa nói chung, văn hóa truyền thống mang tính giá trị. Văn hóa truyền thống trở thành một bộ phận thiết yếu của cuộc sống và góp phần phát triển cuộc sống. Văn hóa truyền thống mang tính giá trị bởi vì nó là chuẩn mực, là thƣớc đo cho hành vi đạo đức, cho những quan hệ ứng xử giữa ngƣời và ngƣời trong một cộng đồng, một giai cấp, một quốc gia, một dân tộc nhất định. Giá trị văn hóa truyền thống của một dân tộc là những nguyên lý đạo đức lớn mà con ngƣời trong một nƣớc thuộc các thời đại, các giai đoạn lịch sử đều dựa vào để phân biệt phải trái, đúng, sai để định hƣớng cho các hoạt động vì mục đích xây dựng cuộc sống tự do và tiến bộ của dân tộc đó.
- Thứ hai, tính lƣu truyền: Văn hóa ra đời, phát triển trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Những giá trị của nó đƣợc chuyển giao tiếp nối, qua nhiều thế hệ và giá trị văn hóa truyền thống đó đƣợc giữ gìn phát huy lên một tầm cao mới. Qua hàng nghìn năm lịch sử, các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam nhƣ chủ nghĩa yêu nƣớc, chủ nghĩa nhân văn, ý thức cộng đồng đƣợc lƣu truyền phát triển tạo thành một hệ giá trị mới của dân tộc Việt Nam. - Thứ ba, tính ổn định: Những giá trị của văn hóa truyền thống đƣợc gạn lọc, khẳng định qua nhiều thế hệ, nó trở thành cái chân, cái thiện, cái mỹ đƣợc lịch sử thừa nhận.
Nó là một trong những hệ giá trị của văn hóa dân tộc, một thành tố ổn định của ý thức xã hội. Văn hóa truyền thống trở thành những khuôn mẫu đƣợc cố định hóa dƣới dạng nghệ thuật, phong tục tập quán, nghi lễ, dƣ luận xã hội, pháp luật…Ở Việt Nam đạo lý “uống nƣớc nhớ nguồn”, 13 luan an truyền thống “lá lành đùm lá rách” trở thành những giá trị ổn định. Nó là những thƣớc đo, khuôn mẫu đánh giá nhân cách con ngƣời, hành vi của mỗi cá nhân và cả cộng đồng xã hội. Nhƣ vậy, tính giá trị, tính ổn định và tính lƣu truyền đã tạo nên dáng vẻ riêng của văn hóa truyền thống Việt Nam.
Trong những cuộc đụng đầu lịch sử với những kẻ thù hung bạo nhất, dân tộc ta tìm thấy sức mạnh vĩ đại trong những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam. Giữa truyền thống và truyền thống văn hóa có mối quan hệ thống nhất nhƣng không đồng nhất. Truyền thống mang trong nó tính hai mặt. Một mặt, truyền thống góp phần suy tôn, giữ gìn những gì quý giá, là cốt cách, là nền tảng cho sự phát triển của cộng đồng dân tộc, ở góc độ này truyền thống mang những giá trị tích cực, là chỗ dựa không thể thiếu của dân tộc trên con đƣờng đi đến tƣơng lai.
Mặt khác, truyền thống còn là nơi dung dƣỡng duy trì, làm sống lại mặt bảo thủ lạc hậu khi điều kiện và hoàn cảnh đã thay đổi. Mặt này góp phần kìm hãm, níu kéo làm chậm trễ sự phát triển của một quốc gia dân tộc. Nhƣ vậy, văn hóa truyền thống là một bộ phận của truyền thống, là mặt tích cực, mặt giá trị của truyền thống. Vì vậy, khi nói đến văn hóa truyền thống là nói đến những truyền thống đã đƣợc lịch sử đánh giá, khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồng trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
Đồng thời, khi xem xét đánh giá truyền thống và các giá trị văn hóa truyền thống cần phải có quan điểm biện chứng, quan điểm lịch sử cụ thể nghĩa là phải đặt chúng trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định của cả quá khứ và hiện tại. Giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số 1. Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Việt Nam là một quốc gia gồm 54 thành phần dân tộc, trong đó có một dân tộc đa số và 53 dân tộc thiểu số. Dân số Việt Nam đến 2011 là khoảng trên 87 triệu ngƣời, tăng 1,04% so với năm 2010; 53 dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 14,36% dân số cả nƣớc ( ƣớc khoảng 12.
Các dân tộc theo Danh mục công bố là những cộng đồng ngƣời đáp ứng các tiêu chí khoa học về ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa và ý thức tộc ngƣời. Có những dân tộc thiểu số chỉ thuần là một cộng đồng thống nhất nhƣng cũng có những dân tộc thiểu số lại bao gồm nhiều nhóm địa phƣơng khác nhau. 54 dân tộc chia theo 8 nhóm ngôn ngữ cụ thể nhƣ sau: - Các dân tộc Việt (Kinh), Mƣờng, Thổ, Chứt thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mƣờng. - Các dân tộc Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái.
- Các dân tộc Ba Na, Brâu, Bru – Vân Kiều, Chơ-ro, Co, Cơ – ho, Cơ – tu, Gié – Trieng, Hre, Kháng, Khmer, Khơ mú, Ma, Mảng, M‟Nông, Ơ – đu, Rơ-măm, Tà – Ôi, Xinh – Mun, Xơ – đăng, Xtiêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me. - Các dân tộc H‟mông, Dao, Pà Thẻn thuộc nhóm ngôn ngữ H‟mông – Dao. - Các dân tộc Gia Rai, Ê Đê, Chu Ru, Ra Giai, Chăm thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo – Polinesian. - Các dân tộc Hoa (Hán), Ngái, Sán Dìu thuộc nhóm ngôn ngữ Hán - Các dân tộc Hà Nhì, Phù Lá, La Hủ, Cống, Lô Lô, Si La thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến.
15 luan an - Các dân tộc Cơ Lao, La Chí, Pu Péo, La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ hỗn hợp.