Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Phát triển du lịch cộng đồng tại làng gốm Thanh Hà, phường Thanh Hà, thành phố Hội An" do sinh viên Võ Thảo Linh thực hiện (ngành Việt Nam học/Lịch sử, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Thị Thu Hiền, hoàn thành tháng 4/2018) tiếp cận mô hình phát triển du lịch cộng đồng tại một làng nghề truyền thống đặc thù ở miền Trung Việt Nam.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn: Du lịch cộng đồng xuất hiện như một phương thức phát triển bền vững nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch thương mại thuần túy đối với môi trường sinh thái và văn hóa bản địa. Tại tỉnh Quảng Nam, bên cạnh các trung tâm thu hút khách truyền thống như đô thị cổ Hội An, khu đền tháp Mỹ Sơn hay các bãi biển An Bàng, Cửa Đại, làng gốm Thanh Hà (cách trung tâm thành phố Hội An hơn 3 km về phía Tây) là một điểm đến giàu tiềm năng ven sông Thu Bồn. Trong bối cảnh nhiều làng nghề truyền thống có nguy cơ mai một, hoạt động du lịch tại làng gốm Thanh Hà có bước khởi sắc, góp phần giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho người dân địa phương. Tuy nhiên, theo quy luật phát triển điểm đến, nếu thiếu các định hướng quản lý và giải pháp bảo tồn đồng bộ, điểm du lịch có thể đối mặt với tình trạng suy thoái. Việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại đây là yêu cầu cấp thiết.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: Mục đích của khóa luận là tìm hiểu, đánh giá thực trạng bảo tồn và phát triển du lịch cộng đồng tại làng gốm Thanh Hà, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đẩy mạnh phát triển loại hình này. Để thực hiện mục đích trên, tác giả xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Tổng quan cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng.
  2. Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động du lịch cộng đồng tại làng gốm Thanh Hà.
  3. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển hoạt động du lịch cộng đồng tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động du lịch cộng đồng tại làng gốm Thanh Hà, trọng tâm là sự tham gia của cộng đồng địa phương vào chuỗi hoạt động du lịch.
  • Phạm vi không gian: Làng gốm Thanh Hà, thuộc khối V (khối Nam Diêu), phường Thanh Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam (diện tích khu vực làng nghề khoảng 0,4 km²).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát và phân tích số liệu trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm: Tác giả hệ thống hóa các định nghĩa về du lịch cộng đồng từ các tổ chức và học giả trong và ngoài nước:

  • Định nghĩa pháp lý: Khoản 15 Điều 3 Luật Du lịch 2017 (hiệu lực từ 01/01/2018) xác định du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi.
  • Quan điểm học thuật: Tiếp thu khung lý thuyết từ The Mountain Institute (2003), Sue Beeton (2006), Potjana Suansri (2013), Võ Quế (2006), Bùi Thị Hải Yến (2012) và Trần Thị Mai (2005).
  • Nguyên tắc cốt lõi: Khóa luận nhấn mạnh 4 nguyên tắc vận hành: Bình đẳng xã hội; Tôn trọng văn hóa địa phương và di sản thiên nhiên; Chia sẻ lợi ích (được xác định là nguyên tắc then chốt); Quyền sở hữu và sự tham gia của người dân bản địa.
  • Điều kiện phát triển: Đánh giá dựa trên 6 yếu tố: Nhu cầu du khách (phân loại 5 nhóm: khách trải nghiệm thực tế, khách quan tâm lịch sử văn hóa, khách du lịch tự do, khách thư giãn, khách thường xuyên); Tài nguyên du lịch (tự nhiên và văn hóa theo Điều 15 Luật Du lịch); Cơ sở hạ tầng - cơ sở vật chất kỹ thuật; Nguồn nhân lực địa phương; Cơ chế, chính sách (Điều 19 Luật Du lịch 2017); Công tác xúc tiến, quảng bá.
  • Chủ thể tham gia: Gồm 5 thành phần (cộng đồng dân cư, chính quyền địa phương/cơ quan quản lý, tổ chức hỗ trợ/đào tạo, doanh nghiệp du lịch lữ hành, du khách) cùng 3 mô hình tham gia (toàn bộ cộng đồng, nhóm hộ gia đình, liên doanh giữa cộng đồng và doanh nghiệp).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập văn bản pháp quy, báo cáo chuyên môn của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam, Phòng Thương mại - Du lịch Hội An, Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, UBND phường Thanh Hà.
  • Phương pháp tổng hợp, phân tích thông tin: Xử lý số liệu thứ cấp và sơ cấp để làm rõ biến động kinh tế, mức độ tham gia và phân phối thu nhập của cư dân.
  • Phương pháp thực địa: Khảo sát trực tiếp không gian sản xuất, hệ thống di tích, lò gốm và cơ sở hạ tầng du lịch tại khối Nam Diêu (được xác định là phương pháp chủ đạo).
  • Phương pháp điều tra xã hội học:
    • Điều tra bảng hỏi: Phát 150 phiếu điều tra (chia làm 2 mẫu phiếu riêng cho người dân địa phương và du khách tại phố cổ Hội An cùng làng gốm Thanh Hà qua 2 đợt khảo sát).
    • Phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn cán bộ quản lý (Chủ tịch UBND thành phố Hội An Nguyễn Văn Dũng, Phó Trưởng phòng Kinh tế Hội An Nguyễn Thị Xuân Vui, cán bộ kinh tế phường Thanh Hà Nguyễn Hào, đại diện Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Trương Hoàng Vinh), các nghệ nhân và chủ hộ sản xuất (Lê Quốc Tuấn, Nguyễn Sơn, Nguyễn Nuôi, Nguyễn Thị Thủy).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận về du lịch cộng đồng

Chương 1 khái quát lịch sử hình thành và phát triển của khái niệm du lịch cộng đồng trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích đặc trưng của loại hình này: lấy cư dân bản địa làm trung tâm, khai thác tài nguyên gắn với trách nhiệm bảo tồn, giữ lại phần lớn lợi ích kinh tế cho cộng đồng. Chương này thiết lập hệ thống tiêu chí về điều kiện cần để phát triển điểm đến (tài nguyên, hạ tầng, nguồn nhân lực, thể chế quản lý), đồng thời phân tích vai trò kết nối giữa các bên liên quan nhằm đảm bảo tính bền vững trước sức ép thương mại hóa.

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại làng gốm Thanh Hà, phường Thanh Hà, thành phố Hội An

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về điều kiện tự nhiên, lịch sử và thực trạng khai thác du lịch tại làng gốm:

  • Lịch sử và di sản: Làng nghề có lịch sử hơn 500 năm, dấu ấn cư trú trải qua các thời kỳ Sa Huỳnh, Champa, Đại Việt. Toàn làng có 166 công trình kiến trúc - tín ngưỡng có giá trị (Đình làng Xuân Mỹ xếp hạng cấp quốc gia năm 1993, Miếu Tổ nghề gốm Nam Diêu xếp hạng cấp tỉnh năm 2008, 5 lò gốm truyền thống hình bầu, 20 lò nung gốm mỹ nghệ và các phế tích lò gạch).
  • Công viên Đất nung Thanh Hà: Điểm nhấn không gian mới rộng 5.800 m², vốn đầu tư hơn 22 tỷ đồng (khởi công cuối năm 2011), gồm 9 phân khu chức năng và 2 tòa nhà úp - ngửa mô phỏng cấu trúc lò gốm.
  • Cơ sở hạ tầng làng nghề: Được nâng cấp qua dự án giai đoạn 2004–2007 (Quyết định số 3461/QĐ-UB) với tổng kinh phí 7 tỷ đồng (đường bê tông, lát gạch gốm đỏ, 1 bến tàu du lịch, 3 nhà vệ sinh công cộng, kè chống xói lở sông Thu Bồn). Khó khăn lớn nhất là diện tích mặt bằng sản xuất bình quân chỉ đạt 100 m²/hộ.
Năm Tổng số hộ trong làng Số hộ làm nghề gốm Tỷ lệ hộ làm gốm (%) Tổng số lao động làm gốm (người)
2012 265 17 6,4 86
2013 285 21 7,3 95
2014 295 29 9,3 129
2015 320 32 10,0 132
2016 320 32 10,0 134

Bảng: Quy mô lao động làm nghề gốm tại làng nghề Thanh Hà giai đoạn 2012–2016 (Nguồn: Trích dẫn Bảng 2.2 của khóa luận)

  • Thu nhập và chất lượng lao động: Thu nhập bình quân của lao động nghề gốm tăng từ 1,5 triệu đồng/tháng (năm 2012) lên 3,5 triệu đồng/tháng (năm 2016). Về trình độ, chỉ có 13% lao động tốt nghiệp trung học phổ thông, 60,5% lao động đã qua các lớp đào tạo ngắn hạn, toàn làng có 5 nghệ nhân truyền nghề theo phương pháp truyền thống.
Năm Mức thu nhập bình quân (Triệu đồng/tháng)
2012 1,5
2013 2,1
2014 2,6
2015 3,0
2016 3,5

Bảng: Thu nhập bình quân của 1 lao động làm nghề gốm trong 1 tháng (Nguồn: Trích dẫn Bảng 2.3 của khóa luận)

  • Sản phẩm và thị trường du lịch: Sản phẩm chia thành 3 nhóm: quà lưu niệm (con thổi, tò he 12 con giáp); gốm gia dụng truyền thống (nồi đất, lu, chum); gốm mỹ nghệ cao cấp (đèn gốm trang trí, mô hình kiến trúc). Giá vé tham quan làng nghề là 25.000 đồng/lượt. Doanh thu bán hàng thông qua khách du lịch chiếm 85% tổng doanh thu làng nghề.
Năm Tổng lượt khách (Lượt) Khách Việt Nam (Lượt) Tổng doanh thu (Triệu đồng)
2013 - - 650
2014 - - 1.030
2015 29.600 3.000 1.636
2016 173.600 - 4.120

Bảng: Lượng khách và doanh thu du lịch làng gốm Thanh Hà (Nguồn: Trích dẫn Bảng 2.4 của khóa luận)

  • Cơ chế điều tiết ngân sách du lịch: Trong tổng nguồn thu từ vé tham quan, 40% được giữ lại cho Trung tâm Văn hóa - Thể thao thành phố Hội An (chi cho công tác quản lý nhà nước, xúc tiến); 60% giao cho UBND phường Thanh Hà quản lý (dùng để bảo vệ môi trường, quảng bá và chi trả phí dịch vụ trực tiếp cho nghệ nhân, lao động trình diễn).

Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch cộng đồng tại làng gốm Thanh Hà, phường Thanh Hà, thành phố Hội An

Dựa trên định hướng phát triển du lịch thành phố Hội An và thực tế địa phương, tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp:

  1. Tăng cường công tác quản lý: Hoàn thiện quy chế quản lý di tích, minh bạch hóa cơ chế phân phối doanh thu từ vé tham quan, kiểm soát trật tự môi trường kinh doanh.
  2. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch cộng đồng: Mở rộng các hoạt động trải nghiệm nặn gốm, thiết kế mẫu mã gốm mỹ nghệ phục vụ thị trường quà tặng, lồng ghép biểu diễn nghệ thuật dân gian.
  3. Tăng tính liên kết giữa cộng đồng và các bên liên quan: Xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa hộ dân sản xuất với các công ty lữ hành (đưa điểm đến vào tour liên hoàn như Trà Quế - Kim Bồng - Thanh Hà).
  4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực địa phương: Tổ chức các khóa bồi dưỡng tiếng Anh giao tiếp, kỹ năng ứng xử du lịch và nghiệp vụ hướng dẫn viên tại điểm cho thanh niên làng nghề.
  5. Tăng cường hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch địa phương: Xây dựng cổng thông tin điện tử, liên kết với các trang mạng xã hội và kênh truyền thông của thành phố Hội An.
  6. Đầu tư kết cấu hạ tầng, kỹ thuật: Mở rộng quy hoạch không gian sản xuất, hoàn thiện khu vực bến tàu du lịch đường thủy, triển khai dự án khu nghỉ dưỡng/homestay tại khu Vịnh Chầu liền kề.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính từ nghiên cứu:

  • Hệ thống hóa các chỉ số phát triển du lịch làng nghề giai đoạn 2012–2016: số hộ tham gia sản xuất gốm tăng từ 17 lên 32 hộ; lực lượng lao động tăng từ 86 lên 134 người; lượng khách năm 2016 đạt 173.600 lượt, tạo ra doanh thu hơn 4,12 tỷ đồng (tăng gấp hơn 6 lần so với năm 2013).
  • Làm rõ cơ chế trích chuyển và chia sẻ lợi ích từ nguồn thu vé tham quan (tỷ lệ 40% cấp thành phố / 60% cấp phường quản lý), chỉ ra cách thức nguồn thu công được tái phân phối cho các nghệ nhân và người lao động trực tiếp trình diễn nghề.
  • Nhận diện các rào cản nội tại: không gian mặt bằng sản xuất bình quân chật hẹp (100 m²/cơ sở), hạ tầng lưu trú tại chỗ còn thiếu (chỉ có 2 homestay nhỏ), lực lượng lao động có trình độ văn hóa chưa cao (13% tốt nghiệp cấp 3).

Hệ thống giải pháp đề xuất: Khóa luận đưa ra 6 nhóm giải pháp mang tính khả thi, tập trung vào: mở rộng chuỗi giá trị sản phẩm gốm, đào tạo năng lực ngoại ngữ cho thợ trẻ, xây dựng liên minh du lịch lữ hành và phát triển hạ tầng lưu trú Vịnh Chầu.

Đóng góp của đề tài theo tự nhận định của tác giả:

  • Về mặt khoa học: Bổ sung và củng cố cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng áp dụng vào thực tiễn làng nghề thủ công truyền thống vùng duyên hải miền Trung.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp tư liệu thực địa có hệ thống, làm căn cứ tham khảo cho các nhà quản lý đô thị Hội An và chính quyền phường Thanh Hà trong việc hoạch định chính sách du lịch bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Nguồn tư liệu thứ cấp về phân tích chi tiêu chi tiết của du khách còn phân tán; thời gian thực hiện nghiên cứu có hạn chế; phạm vi khảo sát xã hội học quy mô 150 phiếu chưa bao quát toàn bộ các thị trường khách quốc tế tiềm năng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Khóa luận gợi mở việc tiếp tục theo dõi biến động kinh tế - xã hội làng nghề sau khi các dự án quy hoạch hạ tầng (như khu lưu trú Vịnh Chầu) đi vào vận hành; nghiên cứu sâu hơn về sức tải môi trường lưu vực sông Thu Bồn trong mùa bão lũ tác động đến tính liên tục của chuỗi cung ứng du lịch làng nghề.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Nghiên cứu có giá trị thực tiễn đối với sinh viên, học viên các ngành Du lịch học, Việt Nam học, Quản lý văn hóa, Lịch sử, Kinh tế phát triển; các nhà quản lý điểm đến tại các địa phương có mô hình làng nghề truyền thống.
  • Nội dung có giá trị ứng dụng cao:
    • Mô hình điều tiết và phân chia ngân sách từ nguồn thu vé tham quan 40/60 giữa cơ quan quản lý di sản và cộng đồng dân cư.
    • Bộ số liệu thực nghiệm về quy mô hộ nghề, lao động và thu nhập giai đoạn 2012–2016 tại làng gốm Thanh Hà.
    • Phương pháp kết hợp sản xuất gốm truyền thống với sản phẩm trải nghiệm du lịch tại chỗ.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ chế phân chia doanh thu từ vé tham quan tại làng gốm Thanh Hà được thực hiện theo tỷ lệ nào?
Nguồn thu từ vé tham quan (giá vé 25.000 đồng/lượt) được phân bổ theo tỷ lệ: 40% do Trung tâm Văn hóa - Thể thao thành phố Hội An giữ lại để phục vụ công tác quản lý nhà nước, xúc tiến du lịch; 60% do UBND phường Thanh Hà quản lý để chi cho công tác quảng bá, bảo vệ môi trường và chi trả thù lao dịch vụ trực tiếp cho nghệ nhân, người lao động phục vụ du lịch.

2. Quy mô lao động và thu nhập bình quân của người làm gốm Thanh Hà biến động ra sao trong giai đoạn 2012–2016?
Số hộ làm nghề gốm tăng từ 17 hộ (chiếm 6,4% tổng số hộ năm 2012) lên 32 hộ (chiếm 10% năm 2016). Tổng số lao động làm gốm tăng từ 86 người lên 134 người (chiếm 41,8% lao động của làng). Thu nhập bình quân của 1 lao động làm gốm tăng từ 1,5 triệu đồng/tháng (năm 2012) lên 3,5 triệu đồng/tháng (năm 2016).

3. Doanh thu và lượng khách du lịch tại làng gốm Thanh Hà đạt con số nào theo thống kê của khóa luận?
Năm 2013, doanh thu du lịch làng nghề đạt 650 triệu đồng. Đến năm 2015, làng gốm đón 29.600 lượt khách (trong đó khách Việt Nam đạt 3.000 lượt), doanh thu đạt 1,636 tỷ đồng. Năm 2016, lượng khách đạt 173.600 lượt và tổng doanh thu đạt 4,120 tỷ đồng. Doanh thu từ du lịch chiếm tới 85% tổng doanh thu làng nghề.

4. Công viên Đất nung Thanh Hà có quy mô và cấu trúc không gian như thế nào?
Công viên Đất nung Thanh Hà có tổng mức đầu tư hơn 22 tỷ đồng trên diện tích 5.800 m², được khởi công cuối năm 2011. Công viên gồm 2 khối nhà chính 3 tầng (tòa nhà úp và tòa nhà ngửa mô phỏng lò gốm) cùng 9 phân khu chức năng (khu lò gốm, bảo tàng làng nghề, khu chợ đất nung, thế giới thu nhỏ, vườn sắp đặt, trại sản xuất, gốm Sa Huỳnh - Chăm, các làng nghề truyền thống, khu triển lãm).

5. Điểm nghẽn lớn nhất về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực của làng gốm Thanh Hà là gì?
Về cơ sở vật chất, diện tích mặt bằng sản xuất trung bình của mỗi cơ sở chỉ đạt 100 m² (dao động từ 10 m² đến 225 m²), gây khó khăn cho mở rộng sản xuất. Về nhân lực, trình độ học vấn còn thấp với chỉ 13% lao động tốt nghiệp trung học phổ thông, toàn làng chỉ có 5 nghệ nhân và thiếu nhân lực có khả năng ngoại ngữ để giao tiếp với khách quốc tế.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Võ Thảo Linh đã phác thảo bức tranh thực tế về mô hình du lịch cộng đồng tại làng gốm Thanh Hà trong giai đoạn chuyển đổi 2010–2018. Công trình đã kết hợp khung lý thuyết du lịch học với dữ liệu khảo sát thực địa để làm rõ các mặt tích cực về tăng trưởng doanh thu, tạo việc làm và cơ chế phân phối lợi ích từ vé tham quan. Đồng thời, nghiên cứu chỉ ra những giới hạn về mặt bằng sản xuất, nhân lực và dịch vụ lưu trú tại chỗ, từ đó đưa ra hệ thống giải pháp tổ chức quản lý nhằm duy trì sự phát triển bền vững cho làng nghề truyền thống Hội An.