Luận văn: Đảng lãnh đạo kinh tế đối ngoại với ASEAN 2011-2020 - HVBC&TT

Nghiên cứu quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động kinh tế đối ngoại với các nước ASEAN giai đoạn 2011-2020 cùng các kết quả đạt được.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

98
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về vai trò Đảng CSVN lãnh đạo kinh tế đối ngoại ASEAN

Từ năm 2011 đến 2020, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) xác định kinh tế đối ngoại với các nước ASEAN là trụ cột quan trọng trong chiến lược hội nhập quốc tế. Bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa đòi hỏi Việt Nam phải tận dụng tối đa lợi thế từ Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) hình thành năm 2015. ĐCSVN chủ trương xây dựng quan hệ hợp tác toàn diện, đa dạng trên lĩnh vực thương mại, đầu tư, và chuyển giao công nghệ. Các nghị quyết Đại hội XI (2011) và XII (2016) nhấn mạnh phương châm 'chủ động, tích cực, có trách nhiệm' trong hợp tác kinh tế khu vực. Việt Nam đẩy mạnh tham gia các cơ chế hợp tác như ASEAN+3, RCEP, CPTPP nhằm củng cố vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Hoạt động kinh tế đối ngoại giai đoạn này tập trung vào 3 trụ cột: thu hút vốn FDI, mở rộng thị trường xuất khẩu, và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực tác động

Sau khủng hoảng tài chính 2008, kinh tế toàn cầu phục hồi chậm chạp khiến các nước ASEAN đẩy mạnh liên kết kinh tế. Năm 2015, AEC chính thức vận hành, tạo cơ hội cho Việt Nam tiếp cận thị trường 600 triệu dân. Tuy nhiên, cạnh tranh từ các nền kinh tế lớn như Trung Quốc, Ấn Độ ngày càng gay gắt. Việt Nam phải đối mặt với thách thức duy trì cán cân thương mại bền vững và tránh phụ thuộc quá mức vào xuất khẩu. Bên cạnh đó, căng thẳng thương mại Mỹ-Trung (2018-2020) buộc Việt Nam điều chỉnh chiến lược kinh tế đối ngoại. ĐCSVN nhận diện rõ những biến động này thông qua các báo cáo chính trị, từ đó điều chỉnh chủ trương hội nhập phù hợp.

1.2. Mục tiêu chiến lược giai đoạn 2011 2020

Đại hội XI (2011) xác định mục tiêu 'xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh' và 'tăng cường quan hệ với các đối tác'. Đến Đại hội XII (2016), Đảng bổ sung mục tiêu 'nâng cao vị thế Việt Nam trong ASEAN'. Cụ thể, Việt Nam hướng tới: (1) Tăng tỷ trọng xuất khẩu vào ASEAN từ 15% (2010) lên 20% (2020); (2) Thu hút 25-30% vốn FDI từ khối ASEAN; (3) Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực chế biến, chế tạo. Các mục tiêu này được thể chế hóa qua Nghị quyết 22-NQ/TW (2013) về hội nhập quốc tế. Đảng cũng chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu hội nhập.

II. Những thành tựu và hạn chế trong lãnh đạo kinh tế đối ngoại

Giai đoạn 2011-2020 ghi nhận nhiều thành tựu nổi bật trong kinh tế đối ngoại ASEAN. Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và ASEAN tăng từ 26,9 tỷ USD (2011) lên 51,6 tỷ USD (2020), chiếm 12% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu quốc gia. Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn FDI khi thu hút 28 tỷ USD vốn từ ASEAN, chiếm 22% tổng vốn FDI giai đoạn này. Đặc biệt, Hiệp định CPTPP (2019) giúp Việt Nam tiếp cận thị trường Nhật Bản, Canada với thuế suất 0%. Tuy nhiên, những hạn chế cũng bộc lộ: xuất khẩu phụ thuộc vào 3 mặt hàng chủ lực (dệt may, điện tử, thủy sản); bất cân đối cán cân thương mại với Singapore, Malaysia; và thiếu liên kết giữa doanh nghiệp nội địa với chuỗi giá trị toàn cầu. ĐCSVN chỉ đạo khắc phục thông qua cải cách thể chế, nâng cấp hạ tầng logistics.

2.1. Thành tựu nổi bật giai đoạn 2011 2015

Năm 2015, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 37,8 tỷ USD, tăng 150% so với 2010. Việt Nam hoàn thành 90% cam kết AEC, trong đó nổi bật là xóa bỏ 99% dòng thuế nội khối. Đầu tư từ Singapore tăng 300% (từ 2,1 tỷ USD lên 6,3 tỷ USD), trở thành nhà đầu tư lớn nhất ASEAN tại Việt Nam. Chương trình 'Mỗi xã một sản phẩm' (OCOP) giai đoạn 2013-2015 giúp nông sản Việt Nam thâm nhập thị trường Campuchia, Lào. Tuy nhiên, tỷ lệ nội địa hóa trong ngành công nghiệp vẫn thấp (dưới 30%), khiến Việt Nam phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu từ Trung Quốc.

2.2. Thách thức giai đoạn 2016 2020

Căng thẳng thương mại Mỹ-Trung (2018) khiến xuất khẩu sang hai thị trường này giảm 12%. Đại dịch COVID-19 (2020) gián đoạn chuỗi cung ứng, khiến kim ngạch thương mại ASEAN sụt giảm 8%. Bên cạnh đó, Việt Nam đối mặt với tranh chấp chủ quyền Biển Đông khiến quan hệ với một số nước ASEAN xấu đi. ĐCSVN chỉ đạo thực hiện 'kép' vừa thúc đẩy hội nhập vừa bảo vệ chủ quyền, thông qua các chuyến thăm cấp cao và tuyên bố chung. Tuy nhiên, hiệu quả của các biện pháp này còn hạn chế do thiếu cơ chế ràng buộc pháp lý.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả lãnh đạo kinh tế đối ngoại

Để khắc phục hạn chế, ĐCSVN đề ra giải pháp đột phá trong giai đoạn 2021-2030. Giải pháp trọng tâm là tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo. Đảng chỉ đạo xây dựng Chiến lược xuất khẩu giai đoạn 2021-2030 nhằm đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc vào Trung Quốc và EU. Đồng thời, ĐCSVN thúc đẩy cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính để thu hút FDI chất lượng cao từ ASEAN. Giải pháp thứ ba là nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa thông qua các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới công nghệ. Đảng cũng chú trọng đào tạo nguồn nhân lực theo chuẩn quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực logistics và thương mại số. Các giải pháp này được cụ thể hóa trong Nghị quyết 50-NQ/TW (2022) về định hướng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

3.1. Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu

ĐCSVN xác định mục tiêu giảm tỷ trọng xuất khẩu sang Trung Quốc từ 20% (2020) xuống còn 15% (2025). Thay vào đó, Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sang Ấn Độ, Australia, và châu Phi thông qua các hiệp định thương mại tự do (EVFTA, RCEP). Bộ Công Thương triển khai Chương trình 'Mở rộng thị trường xuất khẩu' giai đoạn 2021-2025, tập trung vào 10 ngành hàng có lợi thế như gỗ, dược phẩm, điện tử. Đặc biệt, Việt Nam tận dụng lợi thế từ CPTPP để thâm nhập thị trường Nhật Bản, Canada với thuế suất 0%. Giải pháp này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành, địa phương và doanh nghiệp.

3.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

ĐCSVN chỉ đạo triển khai Đề án 'Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2025' với ngân sách 5.000 tỷ đồng. Chương trình ưu đãi thuế, tín dụng được áp dụng cho doanh nghiệp ứng dụng công nghệ 4.0. Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các trường đại học đào tạo 10.000 chuyên gia logistics mỗi năm. Đặc biệt, Đảng chú trọng phát triển doanh nghiệp tư nhân, coi đây là động lực chính của tăng trưởng kinh tế. Giải pháp này nhằm khắc phục tình trạng doanh nghiệp nội địa yếu kém, phụ thuộc vào vốn FDI.

IV. Kết luận về vai trò lãnh đạo kinh tế đối ngoại ASEAN

Giai đoạn 2011-2020, ĐCSVN đã lãnh đạo thành công hoạt động kinh tế đối ngoại với ASEAN, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế quốc gia. Những thành tựu nổi bật như tăng trưởng thương mại, thu hút FDI đã khẳng định vị thế của Việt Nam trong khu vực. Tuy nhiên, những hạn chế như phụ thuộc xuất khẩu, bất cân đối thương mại vẫn tồn tại. Giải pháp đề ra trong giai đoạn tiếp theo tập trung vào tái cơ cấu kinh tế, đa dạng hóa thị trường, và nâng cao năng lực doanh nghiệp. ĐCSVN cần tiếp tục duy trì phương châm 'chủ động, tích cực, có trách nhiệm' trong hợp tác kinh tế ASEAN, đồng thời bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Những kinh nghiệm rút ra từ giai đoạn này sẽ là nền tảng quan trọng cho hội nhập quốc tế sâu rộng hơn trong tương lai.

4.1. Những bài học kinh nghiệm

ĐCSVN rút ra ba bài học chính: (1) Hội nhập kinh tế phải gắn với bảo vệ chủ quyền; (2) Cải cách thể chế là yếu tố quyết định hiệu quả hợp tác; (3) Doanh nghiệp nội địa cần được ưu tiên hỗ trợ để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Những bài học này được thể hiện trong các nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết 22-NQ/TW (2013) và Nghị quyết 50-NQ/TW (2022). ĐCSVN cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của đào tạo nguồn nhân lực, coi đây là giải pháp căn cơ để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

4.2. Định hướng phát triển giai đoạn 2021 2030

Đến năm 2030, ĐCSVN đặt mục tiêu đưa kim ngạch thương mại với ASEAN đạt 100 tỷ USD, chiếm 25% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Chiến lược trọng tâm là xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế. Đảng chỉ đạo đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ 4.0 trong sản xuất và quản lý. Đặc biệt, Việt Nam sẽ tận dụng tối đa lợi thế từ CPTPP và EVFTA để mở rộng thị trường xuất khẩu. Giải pháp căn cơ là tái cơ cấu ngành công nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo lên 30% GDP.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Đảng cộng sản việt nam lãnh đạo hoạt động kinh tế đối ngoại với các nước asean từ năm 2011 đến năm 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI VỚI CÁC NƯỚC ASEAN (2011- 2015) 1. Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng 1. Những yếu tố tác động 1. Những yếu tố quốc tế - Những thập niên đầu thế kỷ XXI, hoà bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn, nhưng sẽ có những diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường.

Cục diện thế giới đa cực ngày càng rõ hơn, xu thế dân chủ hoá trong quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển nhưng các nước lớn vẫn sẽ chi phối các quan hệ quốc tế. Những mâu thuẫn cơ bản của thế giới vẫn tiếp tục tồn tại nhưng đã có sự thay đổi về hình thức và nội dung thể hiện. Giữa các nước lớn, quan hệ vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, kiềm chế lẫn nhau. Các nước lớn đều thay đổi chiến lược phát triển của mình, vừa đảm bảo lợi ích quốc gia dân tộc, vừa tránh xung đột với các nước khác.

Cục diện thế giới đơn cực dần nhường chỗ cho cục diện đa cực vì hòa bình, bình đẳng, hợp tác và phát triển. Các cường quốc Trung Quốc, Nga, EU, Nhật Bản đều có sức mạnh chi phối các vấn đề quan trọng của thế giới, nhất là Mỹ, vừa kiềm chế, vừa xoa dịu các nước lớn đe dọa đến vị trí siêu cường của mình. Xu hướng bá quyền của Mỹ đã đặt độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia đang phát triển đứng trước những khó khăn, thách thức nghiêm trọng. Mâu thuẫn giữa Mỹ và các lực lượng dân chủ tiến bộ ngày càng sâu sắc.

Các lực lượng dân chủ, các nước đang phát triển trở thành lực lượng tích cực trong công cuộc đấu tranh thiết lập trật tự thế giới mới bình đẳng, phát triển hơn. - Toàn cầu hoá và cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức- yếu tố đặc biệt quan trọng của sản xuất và đời sống xã hội, ngày càng có ý nghĩa quyết 11 định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, tăng trưởng kinh tế- xã hội, trở thành động lực của sự phát triển của tất cả các nước. Toàn cầu hóa là xu thế khách quan, bao trùm các mặt đời sống kinh tế - xã hội các quốc gia trên thế giới. Toàn cầu hóa tạo nên sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng lớn, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, sự cạnh tranh càng khốc liệt trên phạm vi toàn cầu.

Từ đó nhận thức về thế giới, tư duy đối ngoại, phương thức quan hệ quốc tế cũng thay đổi mạnh mẽ. Xu hướng nổi lên là các nước cố gắng bảo vệ quyền lợi của mình nhưng tránh gây xung đột, giảm đối đầu, tăng hợp tác và đối thoại và liên hệ mật thiết với nhau. Toàn cầu hóa tạo động lực, cơ hội cho việc phát triển; rút ngắn khoảng cách chênh lệch trình độ phát triển về kinh tế với các nước phát triển. - Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam á, là khu vực phát triển năng động nhưng còn tồn tại nhiều yếu tố gây mất ổn định; tranh chấp lãnh thổ, biển đảo ngày càng gay gắt.

ASEAN tuy còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong khu vực. ASEAN đã tận dụng xu thế này để thiết lập, củng cố ảnh hưởng của mình trong và ngoài khu vực. Việt Nam hội nhập, hợp tác, liên kết kinh tế với ASEAN ngày càng có vai trò quan trọng. - Trong bối cảnh quốc tế mới đầu thế kỷ XXI, các nước lớn đều điều chỉnh chính sách đối với các nước Đông Nam Á nhằm củng cố, nâng cao ảnh hưởng tại khu vực, tạo sự hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện chiến lược Châu Á – Thái Bình Dương của mỗi nước.

Cạnh tranh chiến lược và quyền lực giữa các nước lớn ở khu vực Đông Nam Á ngày càng gia tăng, ảnh hưởng mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và tiến trình hợp tác, liên kết khu vực ASEAN. Vị trí của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á giảm đi so với trước đây nhưng Mỹ vẫn có lợi ích chiến lược quan trọng trong khu vực. Mục tiêu mà Mỹ theo đuổi trong chính sách Đông Nam Á là ngăn chặn không cho nước lớn khác xác lập ưu thế tuyệt đối ở khu vực, đồng thời duy trì quyền lợi và ảnh hưởng của mình ở khu vực này. Mỹ 12 củng cố và tăng cường các mối quan hệ hợp tác, lôi kéo các nước Đông Nam Á; đẩy mạnh và tăng cường quan hệ kinh tế với các nước trong ASEAN.

Mỹ sẵn sàng chi viện cho Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Phi lýp pin khi cần thiết để tăng cường kiềm chế sự phát triển của Trung Quốc. - Khu vực Đông Nam Á luôn giữ một vị trí quan trọng đối với sự phát triển của Trung Quốc trên con đường vươn tới vị trí đứng đầu thế giới. Trung Quốc đang khuếch trương tầm ảnh hưởng với khu vực Đông Nam Á; giảm hoặc xóa nợ cho một số nước trong vùng, nhất là các thành viên ASEAN; giúp đỡ, tăng cường buôn bán, đầu tư vào ASEAN, cung cấp tín dụng ưu đãi và viện trợ cho nhiều nước khác, trong đó có các dự án phát triển Tiểu vùng Sông Mekong mở rộng…Mục đích để ASEAN có sự ràng buộc, phụ thuộc về kinh tế vào Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng gặp vấp phải sự phản ứng của các nước trong khu vực do những tham vọng và hành động quân sự ở biển Đông.

- Đông Nam Á có vị trí quan trọng trong chiến lược đối ngoại nhằm nâng cao vị thế của Nga ở Châu Á – Thái Bình Dương và trên thế giới. Nga khôi phục và phát triển quan hệ với Việt Nam, khuyến khích ASEAN 6 (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philipines, Singapore và Thái Lan) đầu tư vào Viễn Đông, phát triển mậu dịch với Nga. Tuyên bố chung Hội nghị thượng đỉnh Nga – ASEAN khẳng định thúc đẩy hơn nữa hợp tác kinh tế - thương mại về hợp tác giai đoạn 2005 – 2015. Hợp tác chính trị, kinh tế của Nga - ASEAN thực hiện chính sách cân bằng ảnh hưởng quyền lợi giữa các nước lớn ở Đông Nam Á có lợi cho hòa bình và ổn định khu vực.

- Bước sang thế kỷ XXI, Châu Á – Thái Bình Dương trở thành thị trường lớn nhất, là trung tâm tăng trưởng của kinh tế thế giới. Thương mại và đầu tư, hệ thống thương mại, Liên kết kinh tế giữa các nước Châu Á phát triển mạnh thông qua cơ chế ASEAN+3; ASEAN+1, APEC, Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, Hiệp định tự do đa phương và song phương với hàng trăm FTA được ký kết giữa các nước Châu Á. 13 - Từ năm 2011 đến nay, khu vực Đông Nam Á nói chung và các nước ASEAN nói riêng hợp tác và phát triển ngày càng tăng. Sự phát triển của ASEAN trong tính năng động của nó đã và đang làm thay đổi vai trò, vị trí quốc tế của khu vực Đông Nam Á.

ASEAN ngày càng trở nên quan trọng hơn không chỉ xét từ góc độ địa chính trị và quân sự chiến lược như trước đây mà còn mang ý nghĩa địa kinh tế và địa lịch sử, văn hóa đối với thế giới đương đại. Các nước ASEAN ưu tiên tăng trưởng, mở cửa kinh tế và hội nhập, tạo lập cơ chế thương mại đa phương và trật tự kinh tế mới. Tuy nhiên, ASEAN đang đứng trước không ít đe dọa về ô nhiễm môi trường, tội phạm xuyên quốc gia, dịch bênh, thiên tai… 1. Yếu tố trong nước Qua 25 năm đổi mới (1986 - 2011), Việt Nam đã phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng.

Cơ bản giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, các ngành đều có bước phát triển, quy mô nền kinh tế tăng lên; đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện. Những thắng lợi đó đã tạo ra thế và lực mới đưa sự nghiệp đổi mới tiếp tục đi vào chiều sâu. Đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, sức mạnh quốc gia được tăng cường, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Việt Nam tham gia tích cực và có trách nhiệm tại các diễn đàn khu vực và quốc tế; đóng góp quan trọng vào việc xây dựng cộng đồng ASEAN và Hiến chương ASEAN, đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN, Chủ tịch Hội đồng liên nghị viện các nước Đông Nam Á (AIPA). Việt Nam luôn xác định tinh thần là một thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm cho sự phát triển vững mạnh của ASEAN. Các lĩnh vực ưu tiên chung nhất của ASEAN cũng như trong hợp tác của ASEAN với các đối tác là hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và đưa Hiến chương ASEAN đi vào cuộc sống. Về lĩnh vực kinh tế, Việt Nam cùng các nước 14 ASEAN thúc đẩy thực hiện các chương trình và chỉ tiêu trong lộ trình liên kết và xây dựng cộng đồng kinh tế, cả ở tầm quốc gia và tầm khu vực.

Xuất phát từ bối cảnh trong nước và quốc tế, cũng như trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đã có những chủ trương và chính sách hiệu quả trong quan hệ về kinh tế với các nước ASEAN. Việt Nam có vai trò ngày càng quan trong hơn với ASEAN, khi chúng ta là nước Chủ tịch của ASEAN. Mối quan hệ Việt Nam - ASEAN ngày được củng cố và phát triển trên nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại. Thực trạng kinh tế đối ngoại Việt Nam trước năm 2011 Sau hơn 20 năm đổi mới, nhất là 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010, tiềm lực kinh tế Việt Nam được nâng cao, đất nước đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển.

“Thời kỳ 2001 - 2005 đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm là 7,5% và hai năm 2006 - 2007 đạt tốc độ tăng trưởng GDP trên 8%” [76, tr. “Các năm 2008 - 2010, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 5,96% (năm 2009 đạt 5,3% và năm 2010 đạt 6,78%); bình quân 5 năm (2006 - 2010) đạt 7%/năm và 10 năm (2001 - 2010) tăng trưởng 7,26%/năm, đạt mục tiêu chiến lược đã đề ra” [76, tr. “Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh so với các nước trong khu vực và trên thế giới” [76, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ