Luận án tiến sĩ: Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng nông thôn mới (2010-2020) - Hoàng Công Vũ

Dưới đây là thông tin meta tags cho bài viết 'Đảng bộ Bắc Giang lãnh đạo xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020' trong format JSON: { "ai_description":

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

253
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Giang

Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, được triển khai sâu rộng trên phạm vi toàn quốc. Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa X đặt nền tảng cho Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Đảng bộ tỉnh Bắc Giang nhanh chóng quán triệt và cụ thể hóa chủ trương này thành các nghị quyết, kế hoạch hành động phù hợp với điều kiện thực tế địa phương. Bắc Giang là tỉnh trung du miền núi phía Bắc, có nền kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Cơ cấu sản xuất nông thôn còn manh mún, hạ tầng thiết yếu chưa đồng bộ. Đời sống vật chất và tinh thần của nông dân còn nhiều khó khăn. Từ thực tiễn đó, Đảng bộ tỉnh xác định xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong giai đoạn 2010-2020. Mục tiêu nhằm thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, nâng cao thu nhập, cải thiện toàn diện đời sống Nhân dân. Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh đã trải qua nhiều giai đoạn với những cách làm sáng tạo, phù hợp.

1.1. Bối cảnh ra đời chủ trương xây dựng nông thôn mới

Trước năm 2010, nông thôn Việt Nam đối mặt nhiều thách thức. Năng suất lao động thấp, kết cấu hạ tầng yếu kém, ô nhiễm môi trường gia tăng. Khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn ngày càng rộng. Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Đảng ban hành Nghị quyết 26-NQ/TW với tầm nhìn chiến lược. Nghị quyết xác định nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ quan trọng. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ra đời với 19 tiêu chí cụ thể. Các tiêu chí bao gồm quy hoạch, hạ tầng, sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa và môi trường. Chủ trương này đánh dấu bước ngoặt trong tư duy phát triển nông thôn toàn diện.

1.2. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án của nghiên cứu sinh Hoàng Công Vũ đặt ra bốn mục tiêu chính. Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong xây dựng nông thôn mới. Thứ hai, phân tích chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang qua hai giai đoạn 2010-2015 và 2015-2020. Thứ ba, nhận xét ưu điểm, hạn chế trong lãnh đạo xây dựng nông thôn mới. Thứ tư, đúc rút kinh nghiệm quý báu cho các địa phương tương đồng. Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp lịch sử, logic, so sánh, phân tích tổng hợp tài liệu và điều tra thực tiễn. Nguồn tài liệu bao gồm 28 nghị quyết của Tỉnh ủy, văn bản của HĐND, UBND và các sở ban ngành.

II. Phân tích thực trạng lãnh đạo xây dựng nông thôn mới 2010 2020

Đảng bộ tỉnh Bắc Giang đã ban hành hệ thống nghị quyết, kế hoạch để lãnh đạo xây dựng nông thôn mới. Giai đoạn 2010-2015 tập trung vào khởi động, tuyên truyền và xây dựng nền tảng. Tỉnh ủy ban hành nghị quyết chuyên đề, thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh và cấp huyện. Công tác quán triệt được triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở trước tháng 5-2011. Hệ thống thông tin tuyên truyền sử dụng đa dạng phương tiện. Báo Bắc Giang, Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh xây dựng hàng chục chuyên đề, tọa đàm. Giai đoạn 2015-2020 chứng kiến sự chuyển biến mạnh mẽ hơn. Đảng bộ tỉnh ban hành các nghị quyết nâng cao chất lượng tiêu chí. Trọng tâm chuyển từ số lượng sang chất lượng các xã đạt chuẩn nông thôn mới. Phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu được phát động rộng rãi. Kết quả đạt được đáng ghi nhận nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Một số xã đạt chuẩn nông thôn mới nhưng chưa bền vững. Thu nhập nông dân tăng nhưng chưa đồng đều giữa các vùng miền.

2.1. Giai đoạn 2010 2015 Khởi động và triển khai chủ trương

Từ năm 2010 đến 2015, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang tập trung vào công tác lãnh đạo ban đầu. Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết chuyên đề về xây dựng nông thôn mới, xác định rõ quan điểm, mục tiêu và giải pháp. Ban Chỉ đạo các cấp được thành lập với sự tham gia của lãnh đạo chủ chốt. Công tác tuyên truyền được đẩy mạnh với 6.000 tin bài, gần 2.500 pano áp phích, 1.000 đĩa tuyên truyền. Ba mươi nghìn tờ rơi được phát hành đến tận thôn, xóm. Tỉnh ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế. Phong trào hiến đất làm đường được Nhân dân hưởng ứng tích cực. Đến năm 2015, nhiều xã đã đạt từ 10 đến 15 tiêu chí nông thôn mới.

2.2. Giai đoạn 2015 2020 Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng

Giai đoạn 2015-2020, Đảng bộ tỉnh chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng. Các nghị quyết mới tập trung vào phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao thu nhập bền vững. Xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu và nông thôn mới nâng cao trở thành mục tiêu cụ thể. Đảng bộ tỉnh chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị được khuyến khích mạnh mẽ. Vai trò của hợp tác xã nông nghiệp được củng cố và phát triển. Kết quả đến năm 2020, số xã đạt chuẩn nông thôn mới tăng đáng kể so với năm 2015. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh theo từng năm.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả lãnh đạo xây dựng nông thôn mới

Từ phân tích thực tiễn, luận án đề xuất nhiều giải pháp nâng cao hiệu quả lãnh đạo. Giải pháp đầu tiên là hoàn thiện cơ chế hoạch định chủ trương của Đảng bộ tỉnh. Các nghị quyết cần bám sát thực tiễn, có tính khả thi cao. Giải pháp thứ hai là tăng cường năng lực tổ chức thực hiện của hệ thống chính trị. Ban Chỉ đạo các cấp cần được kiện toàn, nâng cao vai trò điều phối. Giải pháp thứ ba là huy động nguồn lực toàn diện. Nguồn vốn ngân sách cần được kết hợp hiệu quả với nguồn lực xã hội hóa. Giải pháp thứ tư là phát huy vai trò chủ thể của nông dân. Nhân dân phải được tham gia từ khâu quy hoạch đến giám sát thực hiện. Giải pháp thứ năm là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác nông thôn mới. Cán bộ cơ sở cần được trang bị kiến thức quản lý, kỹ năng vận động quần chúng. Mỗi giải pháp cần được triển khai đồng bộ, có lộ trình cụ thể.

3.1. Hoạch định chủ trương và ban hành nghị quyết chuyên đề

Hoạch định chủ trương là khâu then chốt trong lãnh đạo xây dựng nông thôn mới. Đảng bộ tỉnh cần tiếp tục ban hành nghị quyết chuyên đề với nội dung cụ thể, thiết thực. Nghị quyết phải xuất phát từ điều kiện thực tế của từng địa phương. Quá trình xây dựng nghị quyết cần tham vấn ý kiến chuyên gia, cán bộ cơ sở và Nhân dân. Nội dung nghị quyết cần xác định rõ mục tiêu theo từng giai đoạn, từng nhóm tiêu chí. Cơ chế giám sát, kiểm tra việc thực hiện nghị quyết phải được quy định cụ thể. Việc đánh giá định kỳ giúp phát hiện kịp thời những bất cập để điều chỉnh. Nghị quyết cần có tính dự báo, thích ứng với biến động kinh tế-xã hội.

3.2. Tổ chức thực hiện và vai trò của hệ thống chính trị

Tổ chức thực hiện quyết định thành công của chương trình nông thôn mới. Hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở phải vào cuộc đồng bộ, quyết liệt. Ban Chỉ đạo cấp tỉnh đóng vai trò điều phối chung, tháo gỡ khó khăn vướng mắc. Cấp huyện chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo các xã trên địa bàn. Cấp xã là nơi triển khai trực tiếp các công việc cụ thể. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị rất quan trọng. Các đoàn thể vận động đoàn viên, hội viên tích cực tham gia hiến đất, hiến công. Mô hình đảng viên tiên phong, gương mẫu tạo sức lan tỏa trong cộng đồng. Sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành cần chặt chẽ, tránh chồng chéo.

IV. Kết luận và bài học kinh nghiệm từ xây dựng nông thôn mới

Luận án đã hệ thống hóa toàn bộ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2010 đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu cho thấy Đảng bộ tỉnh đã hoàn thành cơ bản các mục tiêu đề ra. Số xã đạt chuẩn nông thôn mới vượt kế hoạch giai đoạn. Kết cấu hạ tầng nông thôn được đầu tư đồng bộ, hiện đại hơn. Thu nhập của nông dân tăng gấp nhiều lần so với thời điểm bắt đầu chương trình. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, đời sống vật chất và tinh thần cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng bộc lộ một số hạn chế. Chất lượng một số tiêu chí chưa bền vững, đặc biệt về môi trường và sản xuất. Khoảng cách phát triển giữa các vùng miền trong tỉnh vẫn còn đáng kể. Từ thực tiễn đó, luận án đúc rút năm nhóm kinh nghiệm chủ yếu. Các kinh nghiệm này có giá trị tham khảo cho các tỉnh trung du miền núi phía Bắc.

4.1. Thành tựu đạt được và những hạn chế cần khắc phục

Thành tựu nổi bật nhất là sự thay đổi toàn diện diện mạo nông thôn Bắc Giang. Hệ thống đường giao thông nông thôn được cứng hóa, bê tông hóa đạt tỷ lệ cao. Các thiết chế văn hóa, trường học, trạm y tế được đầu tư khang trang. Nông nghiệp phát triển theo hướng hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao. Nhiều sản phẩm nông sản đạt chứng nhận OCOP, được thị trường đón nhận. Tuy nhiên, hạn chế còn tồn tại ở một số lĩnh vực. Môi trường nông thôn ở một số nơi chưa được xử lý triệt để. Năng lực lãnh đạo của một số đảng bộ cơ sở còn yếu. Việc huy động nguồn lực xã hội hóa chưa đạt kỳ vọng. Tính bền vững của kết quả đạt được cần được củng cố thêm.

4.2. Kinh nghiệm rút ra cho các tỉnh có điều kiện tương đồng

Kinh nghiệm thứ nhất là sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng bộ tỉnh là nhân tố quyết định. Kinh nghiệm thứ hai là phải xây dựng hệ thống nghị quyết đồng bộ, có lộ trình phù hợp. Kinh nghiệm thứ ba là phát huy vai trò chủ thể sáng tạo của nông dân trong xây dựng nông thôn mới. Kinh nghiệm thứ tư là huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, cả ngân sách và xã hội hóa. Kinh nghiệm thứ năm là gắn xây dựng nông thôn mới với cơ cấu lại nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn. Các tỉnh trung du miền núi phía Bắc có thể vận dụng phù hợp với điều kiện địa phương. Việc học hỏi kinh nghiệm cần linh hoạt, không áp dụng máy móc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ 2021 đảng bộ tỉnh bắc giang lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2010 đến năm 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề hiện đại hóa nông nghiệp theo đặc sắc Trung Quốc với các giải pháp như: Lấy điều kiện vật chất hiện đại trang bị cho nông nghiệp; áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất nông nghiệp; phát huy hệ thống ngành nghề hiện đại để phát triển nông nghiệp; coi trọng ý tưởng hiện đại dẫn dắt nông dân và bồi dưỡng nông dân kiểu mới để phát triển nông nghiệp. Các nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 1. Các nghiên cứu chung về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam Chu Hữu Quý (1996), Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn, nông nghiệp Việt Nam [61] tác giả khái quát thành tựu nông nghiệp, nông thôn đạt được từ năm 1981 đến năm 1996, đồng thời nhấn mạnh vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn vẫn là nỗi trăn trở, suy tư của toàn xã hội Việt Nam. Từ đó đặt ra yêu cầu phải có chiến lược phát triển đúng đắn thì nông nghiệp, nông thôn Việt Nam mới không có nguy cơ tụt hậu.

Do vậy, vấn đề 14 đặt ra ở nước ta là chủ trương tiếp tục phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững; đổi mới và phát triển KT - XH. Công trình gồm 16 vấn đề về đề tài nông nghiệp, nông thôn, nông dân, đề cập những vấn đề có tính lý luận được thể hiện trong đường lối, chủ trương, chính sách, trong mỗi chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời, cuốn sách cũng nêu lên những kinh nghiệm có tính tổng kết qua việc chỉ đạo thực hiện đường lối chính sách nói trên, nhất là từ sau khi tiến hành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp. Vấn đề bao trùm trong việc triển khai thực hiện có kết quả chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trên từng lĩnh vực, từng địa bàn là các tổ chức đảng phải dày công tiến hành công tác vận động quần chúng, nông dân, thông qua các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội và cán bộ, đảng viên.

Cuốn sách được hình thành trên cơ sở tập hợp các bài viết, bài tham luận của các nhà nghiên cứu, các cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo về kinh tế, nông nghiệp ở các ngành, các cấp ở Trung ương và một số địa phương, cơ sở. Tư tưởng nổi bật của các bài viết đều khẳng định CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, là con đường tất yếu để đưa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Do vậy, phải phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nguyễn Văn Bích (2007), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại [11], đã nhìn nhận một cách toàn diện lịch sử phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam trong thế kỷ XX, nhất là 20 năm đổi mới.

Cuốn sách làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn trong nông nghiệp, nông thôn về quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý. Đặc biệt đã 15 nêu được bối cảnh của sự phát triển nền kinh tế nước ta nói chung, nền nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Đặng Kim Sơn (2008), Công nghiệp hóa nông nghiệp - Lý luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam [66] đã điểm lại một số học thuyết kinh tế trong phát triển nông nghiệp như: Các lý thuyết phát triển nông nghiệp theo giai đoạn, lý thuyết liên kết giữa các lĩnh vực kinh tế, lý thuyết về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường; giới thiệu thực tiễn thành công và thất bại của một số nền kinh tế châu Á điển hình như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc trong quá trình phát triển nông nghiệp và trong bối cảnh tiến hành công nghiệp hóa; từ đó tóm lược một số bài học kinh nghiệm và lý luận phát triển chính thức rút ra từ công nghiệp hóa; đề nghị về chính sách, cách tiến hành để phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong giai đoạn tới. Phạm Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh (2009), Xây dựng mô hình nông thôn mới ở nước ta hiện nay [69], khẳng định mô hình xây dựng NTM là tổng thể các đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, khác với mô hình nông thôn truyền thống ở tính tiên tiến về mọi mặt; qua đó phân tích chủ yếu ba vấn đề: Nông thôn Việt Nam trước yêu cầu mới; hình dung ban đầu về những tiêu chí của mô hình NTM; những nhân tố chính của của mô hình NTM như KT- XH, văn hóa, con người, môi trường.

Các nội dung trên trong cấu trúc mô hình NTM có nhiều mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi chính sách. Hồ Xuân Hùng (2011), Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng lâu dài của Đảng và Nhân dân ta [41], đã khẳng định để Nghị quyết 26 đạt được mục tiêu đề ra về xây dựng NTM, cần phải có quyết tâm, nguồn lực và thời gian để thực hiện Chương trình theo những nội dung: Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng KT - XH hiện đại; tập trung chuyển dịch cơ cấu lao động 16 trong nông thôn; tăng thu nhập gấp 2 - 3 lần hiện nay… Tác giả cũng khẳng định Việt Nam xây dựng NTM trong điều kiện còn nhiều khó khăn nên phải lâu dài. Công việc đó là sự nghiệp cách mạng mới lâu dài của toàn Ðảng và toàn dân; nhấn mạnh một số biện pháp và điều kiện nhằm thực hiện 19 tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM trong giai đoạn hiện nay.

Lê Quốc Lý (2012), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn [50] khẳng định, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn cũng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp. Cuốn sách nghiên cứu toàn diện về kết quả và quá trình tác động của tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam, trong đó có những yếu tố hình thành nên diện mạo NTM. Vũ Văn Phúc (Chủ biên, 2012), Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn [59] gồm 33 bài viết của các nhà khoa học, lãnh đạo các cơ quan Trung ương, địa phương, các ngành, các cấp về xây dựng NTM với những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng NTM; thực tiễn xây dựng NTM ở Việt Nam. Báo Nhân dân (2013), Gỡ khó cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn [10] là tuyển tập 38 tác phẩm báo chí chọn lọc hưởng ứng Cuộc thi viết về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”.

Các tác phẩm thuộc nhiều thể loại báo chí sinh động, đề cập đến mọi lĩnh vực của nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang được xã hội quan tâm. Từ đó, các bài viết phân tích, đề xuất những giải pháp cùng Nhà nước và các ngành, các cấp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, góp phần thiết thực vào phát triển nông nghiệp và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân ở nông thôn. Nguyễn Văn Quý (2018), “Xây dựng nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa X của Đảng - Một số kết quả” [63] trên cơ sở đánh giá diện tích tự nhiên, lực lượng lao động của cư dân nông thôn tác giả 17 luận giải chủ trương, đường lối phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM của Đảng và Nhà nước. Từ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bài viết nêu kết quả bước đầu đạt được.

Bên cạnh đó bài viết cũng chỉ ra một số hạn chế cần tập trung khắc phục và đưa ra kiến nghị trên 10 nội dung cơ bản cần tập trung thực hiện để Chương trình tiến hành trên phạm vi cả nước đạt kết quả cao nhất theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa X đề ra. Các nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở các vùng miền, địa phương Nguyễn Cao Chương (2012), Phát triển kinh tế nông thôn tỉnh Quảng Bình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa [18]. Tác giả hệ thống hóa lý luận về phát triển kinh tế nông thôn trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Tác giả khẳng định, vấn đề phát triển kinh tế nông thôn Quảng Bình cần phải được quan tâm.

Do đó cần phải nghiên cứu việc phát triển các doanh nghiệp nông thôn làm tăng giá trị sản xuất, để tạo việc làm tăng thu nhập cho nông dân. Đồng thời phải tăng cường vai trò quản lý nhà nước, ban hành các cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế nông thôn phát triển trong đó cần quan tâm đến việc giảm các loại thuế, phí không cần thiết để giảm bớt gánh nặng cho nông dân. Luận án góp phần vào hoạch định chính sách quản lý, khai thác tiềm năng nguồn lực, lợi thế cho phát triển kinh tế nông thôn. Nguyễn Viết Hưng (2012), “Thực trạng nông nghiệp, nông thôn Nam Định, các giải pháp và một số kinh nghiệm bước đầu trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới” [59] là bài viết đăng trong cuốn sách Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Vũ Văn Phúc (Chủ biên).

Bài viết đánh giá thực trạng nông nghiệp, nông thôn tỉnh Nam Định, khẳng định mô hình NTM đang được triển khai và đạt được những kết quả bước đầu. Bên cạnh những thành tựu đạt được, tác giả nêu một số khó khăn, tồn tại, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân của 18 những tồn tại và đúc rút 6 kinh nghiệm bước đầu quá trình xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh Nam Định và đưa 3 kiến nghị với Nhà nước, Chính phủ, Ban Bí thư Trung ương Đảng để Nam Định tiếp tục triển khai có hiệu quả Chương trình MTQG xây dựng NTM ở Nam Định. Hà Hòa Bình (2012), “Vĩnh Phúc xây dựng nông thôn mới - kết quả mô hình và những bài học kinh nghiệm” [59] là bài viết đăng trong cuốn sách Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Vũ Văn Phúc (Chủ biên) khẳng định: “Vĩnh Phúc xác định “tam nông” có vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung, mỗi địa phương nói riêng” [59, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ