Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Giáo dục Chính trị với đề tài "Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách đối ngoại trong thời kỳ đổi mới 1986 - 2001" được tác giả Ngô Văn Duẩn thực hiện tại Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Trung Tỉnh, hoàn thành vào tháng 5 năm 2005).
Về bối cảnh thực tiễn, tác giả xuất phát từ bước ngoặt tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986), thời điểm Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện nhằm đưa đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội. Cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, trật tự thế giới hai cực Xô - Mỹ chấm dứt cùng sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, đặt nền chính trị và quan hệ quốc tế trước những chuyển biến sâu sắc. Việt Nam lúc bấy giờ vừa phải đương đầu với tình trạng khủng hoảng trong nước, vừa bị các thế lực bên ngoài bao vây, cấm vận và cô lập. Trước thực tế đó, việc Đảng kịp thời điều chỉnh đường lối, mở rộng quan hệ hữu nghị và chủ động hội nhập quốc tế được xác định là yếu tố mang tính quyết định để tạo lập môi trường hòa bình, tranh thủ nguồn lực bên ngoài cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Khóa luận xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể gồm:
- Hệ thống hóa và khái quát toàn diện cơ sở hình thành cùng các bước phát triển trong tư duy, đường lối đối ngoại của Đảng từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội IX (2001).
- Phân tích, lý giải tiến trình Đảng lãnh đạo thực thi chính sách đối ngoại trên các mặt trọng điểm: giải quyết vấn đề Campuchia; bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, Hoa Kỳ; gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và thiết lập quan hệ với Liên minh châu Âu (EU).
- Rút ra những thành tựu chủ yếu và các bài học kinh nghiệm về mặt lý luận và thực tiễn phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với chính sách đối ngoại. Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian tập trung vào giai đoạn 15 năm đầu của công cuộc Đổi mới (1986 - 2001), trải dài qua bốn kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc (khóa VI, VII, VIII, IX).
Về lịch sử nghiên cứu, tác giả đã tổng thuật các công trình tiêu biểu của nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (các bài viết trên Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lịch sử Đảng và sách Ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị Quốc gia, 2000), Giáo sư Vũ Dương Ninh (Tạp chí Lịch sử Đảng, 2000), Vũ Quang Vinh (2001), Nguyễn Đình Bin (2002), Lưu Văn Lợi (2004), Đinh Xuân Lý (2003), Võ Đại Lược (1995), Vũ Hiền và Đinh Xuân Lý (2004), cùng ấn phẩm của Bộ Ngoại giao (1999).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Các khái niệm và định hướng đối ngoại được tiếp cận trực tiếp từ hệ thống văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam:
- Quan điểm Đại hội VI (12-1986) về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, ưu tiên phát triển kinh tế đối ngoại;
- Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị khóa VI (5-1988) về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới;
- Quan điểm Đại hội VII (6-1991) với phương châm "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới";
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (6-1992) và Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994) về đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ;
- Quan điểm Đại hội VIII (6-1996) và Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (12-1997) về phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế;
- Quan điểm Đại hội IX (4-2001) về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và bổ sung phương châm "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế".
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp hai phương pháp chủ đạo là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Cùng với đó, phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh tư liệu được sử dụng để làm sáng tỏ các mối quan hệ ngoại giao song phương và đa phương. Nguồn dữ liệu nghiên cứu là các văn kiện đại hội, nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật (như Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987), các hiệp ước, hiệp định quốc tế cùng tài liệu tổng kết ngoại giao giai đoạn 1986 - 2001.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục khóa luận gồm phần mở đầu, hai chương nội dung chính chia thành 5 tiết (dung lượng 45 trang), phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.
CHƯƠNG 1: ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA
Chương 1 tập trung làm rõ cơ sở khách quan và tiến trình phát triển tư duy đối ngoại của Đảng qua các kỳ Đại hội.
Về bối cảnh quốc tế, tác giả phân tích cuộc khủng hoảng của hệ thống xã hội chủ nghĩa, sự chấm dứt trật tự hai cực Xô - Mỹ và quá trình chuyển dịch sang trật tự đa cực. Xu thế toàn cầu hóa và tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đưa nhân loại bước vào nền văn minh tin học. Đảng nhận định tiêu chí sức mạnh quốc gia sau chiến tranh lạnh không còn thuần túy dựa vào quân sự mà chuyển sang sức mạnh tổng hợp, trong đó kinh tế, khoa học và công nghệ giữ vị trí hàng đầu.
Về quá trình phát triển đường lối đối ngoại của Đảng:
- Đại hội VI (12-1986): Đặt nền móng cho việc chuyển hướng đối ngoại, coi kinh tế đối ngoại là nhiệm vụ hàng đầu phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 nhằm đa dạng hóa nguồn lực.
- Nghị quyết số 13 Bộ Chính trị (5-1988): Đánh dấu bước chuyển chiến lược quan trọng với chủ trương ưu tiên giữ vững hòa bình để tập trung phát triển kinh tế, thực hiện phương châm "thêm bạn, bớt thù", giải quyết an ninh gắn liền với hợp tác khu vực và quốc tế.
- Đại hội VII (6-1991): Đề ra chủ trương hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội; xác định rõ nội hàm "đa dạng hóa" (mở rộng trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học...) và "đa phương hóa" (mở rộng với nhiều đối tượng, thể chế chính trị và tổ chức quốc tế khác nhau).
- Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (6-1992) và Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994): Hoàn thiện chủ trương đối ngoại độc lập, tự chủ, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa kết hợp với sự linh hoạt, năng động trong sách lược.
- Đại hội VIII (6-1996) và Nghị quyết Trung ương 4 khóa VIII (12-1997): Nhấn mạnh nguyên tắc lấy việc phát huy nội lực làm chính, kết hợp với tranh thủ ngoại lực, giữ vững bản sắc dân tộc trong hội nhập kinh tế.
- Đại hội IX (4-2001): Khẳng định toàn cầu hóa là xu thế khách quan; đề ra yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ về đường lối và tiềm lực; nâng tầm phương châm đối ngoại thành "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế".
CHƯƠNG 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI GIAI ĐOẠN 1986 - 2001
Chương 2 trình bày chi tiết các hoạt động ngoại giao thực tiễn và kết quả đạt được trên từng lĩnh vực quan hệ cụ thể.
1. Đối ngoại vì mục tiêu hòa bình, ổn định và hợp tác:
- Giải quyết vấn đề Campuchia: Khóa luận hệ thống diễn biến từ cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam (khởi đầu từ các khiêu khích tháng 5-1975 đến cuộc tấn công tháng 12-1978 của quân Pôn Pốt) và việc quân tình nguyện Việt Nam cùng Mặt trận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia giải phóng Phnôm Pênh. Sau Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị, Việt Nam thúc đẩy đối thoại chính trị, hoàn tất việc rút quân tình nguyện vào tháng 9-1989 và tham gia ký kết Hiệp định Pari về Campuchia, tháo gỡ điểm nghẽn lớn nhất trong quan hệ quốc tế.
- Gia nhập ASEAN: Sau khi ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (Hiệp ước Bali) vào tháng 7-1992, ngày 28-7-1995 tại Brunây, Việt Nam chính thức được kết nạp là thành viên thứ 7 của ASEAN. Tháng 12-1998, Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị cấp cao ASEAN VI tại Hà Nội, thông qua Chương trình hành động Hà Nội; tháng 4-1999, chủ trì lễ kết nạp Campuchia thành viên thứ 10 tại Hà Nội.
- Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc: Trải qua giai đoạn căng thẳng sau chiến tranh biên giới phía Bắc (17-2-1979) và các vòng đàm phán bế tắc năm 1979, Việt Nam đã chủ động tạo điều kiện hòa hoãn (bỏ nội dung chống Trung Quốc trong Lời nói đầu Hiến pháp 1980 vào năm 1988, đề nghị giãn quân biên giới của Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch tháng 7-1988). Các cuộc hội đàm cấp cao tại Thành Đô (9-1990) và Bắc Kinh (8-1991) đã mở đường cho chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt vào tháng 11-1991, chính thức bình thường hóa quan hệ hai nước. Năm 1999, hai bên xác định phương châm 16 chữ vàng ("Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai"), tiến tới ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền (30-12-1999) và Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ (25-12-2000).
- Bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ: Việt Nam chủ động phối hợp giải quyết các vấn đề nhân đạo POW/MIA. Phía Hoa Kỳ công bố "Bản lộ trình" 4 giai đoạn vào ngày 9-4-1991. Tiến trình tiếp tục với việc Tổng thống Bill Clinton tuyên bố không cản trở việc giải quyết nợ quá hạn của Việt Nam tại IMF (2-7-1993), bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại (3-2-1994), mở cơ quan liên lạc (tháng 2-1995) và tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào ngày 11-7-1995.
2. Thực hiện chính sách hợp tác phát triển kinh tế:
- Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và APEC: Mở rộng hợp tác với Nhật Bản (nối lại viện trợ ODA từ tháng 11-1992), Ôxtrâylia (bỏ cấm vận tháng 10-1991), Hàn Quốc (thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ ngày 22-12-1992). Ngày 15-6-1996, Việt Nam nộp đơn xin gia nhập APEC. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII (29-12-1997) đề ra 5 nhóm giải pháp lớn chuẩn bị nội lực kinh tế. Ngày 14-11-1998 tại Malaysia, Việt Nam chính thức được kết nạp vào APEC và được tín nhiệm chọn đăng cai Hội nghị cấp cao APEC năm 2006.
- Quan hệ với Liên minh châu Âu (EU): Thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 22-10-1990. Ngày 17-7-1995 tại Brussels (Bỉ), hai bên ký chính thức "Hiệp định hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng đồng châu Âu" (Hiệp định khung), thỏa thuận dành cho nhau quy chế tối huệ quốc (MFN), thúc đẩy đầu tư, chuyển giao công nghệ và hợp tác phát triển. Tháng 1-1996, EU lập cơ quan đại diện thường trực tại Hà Nội.
| Mốc thời gian |
Sự kiện ngoại giao trọng điểm |
Cơ quan / Đại diện ký kết hoặc tuyên bố |
| Tháng 9-1989 |
Hoàn thành việc rút toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia về nước |
Quân đội nhân dân Việt Nam |
| 22-10-1990 |
Thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa Việt Nam và EU |
Chính phủ Việt Nam và Liên minh châu Âu |
| Đầu tháng 11-1991 |
Tuyên bố bình thường hóa chính thức quan hệ Việt Nam - Trung Quốc |
Tổng Bí thư Đỗ Mười, Chủ tịch HĐBT Võ Văn Kiệt thăm chính thức Trung Quốc |
| 22-12-1992 |
Thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ giữa Việt Nam và Hàn Quốc |
Chính phủ Việt Nam và Hàn Quốc |
| 03-02-1994 |
Tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam |
Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton |
| 11-07-1995 |
Tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ |
Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton |
| 17-07-1995 |
Ký kết chính thức Hiệp định khung hợp tác Việt Nam - EU tại Brussels |
Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm và đại diện cấp cao EU |
| 28-07-1995 |
Kết nạp Việt Nam là thành viên chính thức thứ 7 của ASEAN tại Brunây |
Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN |
| 14-11-1998 |
Kết nạp Việt Nam là thành viên chính thức của Diễn đàn APEC tại Malaysia |
Hội nghị Ngoại trưởng APEC |
| 30-12-1999 |
Ký kết Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc tại Hà Nội |
Bộ trưởng Ngoại giao hai nước Việt Nam - Trung Quốc |
| 25-12-2000 |
Ký kết Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Bắc Kinh |
Bộ trưởng Ngoại giao hai nước Việt Nam - Trung Quốc |
Kết quả và đóng góp
Về kết quả thực tiễn, khóa luận trích xuất và tổng hợp hệ thống số liệu phản ánh sự phát triển trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam:
- Đến năm 1995, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với hơn 160 quốc gia, thiết lập quan hệ thương mại với trên 100 nước, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ các công ty của hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ.
- Đến giai đoạn Đại hội IX (năm 2001), mạng lưới ngoại giao mở rộng lên 168 quốc gia có quan hệ chính thức, là đối tác thương mại của 153 quốc gia, có quan hệ với gần 500 tổ chức phi chính phủ (trong đó có 380 tổ chức đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam).
Về giải pháp và bài học kinh nghiệm, tác giả tổng kết hai bài học lớn:
- Nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường gắn với tăng cường đoàn kết và mở rộng hợp tác quốc tế: Độc lập tự chủ là nguyên tắc bất biến trong tư duy nhận thức và hoạch định chính sách, đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu; đồng thời xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ định hướng xã hội chủ nghĩa để tạo cơ sở vật chất vững chắc cho tự chủ chính trị.
- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại: Vận dụng bài học lịch sử vào điều kiện mới, phát huy tối đa nội lực kết hợp với tận dụng thành tựu khoa học - công nghệ và nguồn lực quốc tế phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Về đóng góp khoa học, tác giả đã hệ thống hóa một cách có chỉnh thể quá trình đổi mới tư duy và sự chỉ đạo thực tiễn của Đảng trong lĩnh vực đối ngoại giai đoạn 1986 - 2001; làm rõ tính liên tục, kế thừa và phát triển của các chủ trương đối ngoại qua các kỳ Đại hội; đồng thời cung cấp nguồn tài liệu tổng hợp phục vụ trực tiếp cho việc học tập và giảng dạy môn Lịch sử Đảng và Giáo dục Chính trị.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được tác giả thẳng thắn xác định là công trình nghiên cứu bước đầu, mang tính chất "kết luận mở". Do hạn chế về thời gian thực hiện, dung lượng đề tài (khóa luận cử nhân 45 trang) và phạm vi của các sự kiện ngoại giao thời sự vẫn đang tiếp tục vận động, công trình chủ yếu tập trung làm rõ các mốc sự kiện chính trị - ngoại giao lớn mang tính bước ngoặt.
Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở là tiếp tục theo dõi, đánh giá sự phát triển của các mối quan hệ đối ngoại sau năm 2001, đặc biệt là tiến trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hiệu quả thực thi các hiệp định thương mại song phương và việc hiện thực hóa các cam kết quốc tế trong khuôn khổ ASEAN, APEC và EU.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với:
- Giảng viên và sinh viên các ngành Giáo dục Chính trị, Lịch sử Đảng, Quan hệ Quốc tế, Luật Quốc tế và Ngoại giao khi cần tra cứu hệ thống nghị quyết, quan điểm chỉ đạo của Đảng về đối ngoại giai đoạn 1986 - 2001.
- Người nghiên cứu lịch sử ngoại giao Việt Nam thời kỳ Đổi mới, đặc biệt là các chương mục phân tích chi tiết tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt - Trung, Việt - Mỹ, quá trình đàm phán ký kết Hiệp định khung Việt Nam - EU năm 1995 và 5 nhóm giải pháp chuẩn bị gia nhập APEC theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa VIII.
Câu hỏi thường gặp
1. Phương châm đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát triển như thế nào từ Đại hội VII đến Đại hội IX?
Tại Đại hội VII (1991), phương châm đối ngoại được xác định là: "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển". Đến Đại hội IX (2001), trên cơ sở nhận thức về thế và lực sau 15 năm đổi mới, phương châm được nâng cấp và hoàn thiện thành: "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển".
2. "Bản lộ trình" 4 giai đoạn của Hoa Kỳ đưa ra năm 1991 nhằm bình thường hóa quan hệ với Việt Nam gồm những nội dung chính nào?
Ngày 9-4-1991, Hoa Kỳ đưa ra bản lộ trình gồm 4 giai đoạn gắn liền với vấn đề Campuchia và POW/MIA: Giai đoạn 1 bắt đầu từ tháng 10-1991 với việc ký Hiệp nghị hòa bình về Campuchia; Giai đoạn 2 bắt đầu khi lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc đứng chân vững chắc ở Campuchia; Giai đoạn 3 bắt đầu khi tiến trình giải pháp Campuchia phát triển tốt; Giai đoạn 4 bắt đầu khi Campuchia tổ chức bầu cử tự do, lập quốc hội, ban hành hiến pháp mới, giải ngũ các lực lượng và đạt được mục tiêu song phương hai năm trong việc tìm kiếm người Mỹ mất tích (POW/MIA).
3. Phương châm 16 chữ vàng trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc được xác lập vào thời điểm nào và có nội dung gì?
Phương châm 16 chữ vàng được xác lập trong Thông cáo chung nhân chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu vào tháng 3-1999, với nội dung: "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai".
4. Nghị quyết Trung ương 4 khóa VIII (12-1997) đề ra những nhóm giải pháp nào để chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập APEC?
Nghị quyết đề ra 5 nhóm giải pháp lớn: (1) Điều chỉnh quy hoạch phát triển và kế hoạch đầu tư vào các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh; (2) Áp dụng chính sách bảo hộ hợp lý có chọn lọc và thời hạn; (3) Khuyến khích, tạo thuận lợi cho xuất khẩu và lập quỹ hỗ trợ xuất khẩu; (4) Phát huy nội lực đi đôi với thu hút vốn đầu tư nước ngoài; (5) Chủ động đào tạo cán bộ, hoàn thiện pháp luật, phát triển sản phẩm cạnh tranh và thiết lập hệ thống thông tin thương mại quốc gia.
5. Hiệp định khung hợp tác Việt Nam - EU ký ngày 17-7-1995 có những nội dung hợp tác chính nào?
Hiệp định khung ký tại Brussels xác định các nội dung: Dành cho nhau quy chế tối huệ quốc (MFN); đa dạng hóa trao đổi thương mại và tháo gỡ rào cản; bảo hộ và tạo thuận lợi cho đầu tư; hợp tác hỗ trợ Việt Nam chuyển tiếp sang kinh tế thị trường; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo tiêu chuẩn quốc tế; hợp tác khoa học công nghệ (tiêu chuẩn, đo lường chất lượng); và cung cấp viện trợ phát triển (ODA) cho các dự án phát triển bền vững, xóa đói giảm nghèo.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Văn Duẩn là một công trình nghiên cứu lịch sử - lý luận chính trị được thực hiện nghiêm túc, tái hiện một cách hệ thống tiến trình Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2001. Công trình đã làm nổi bật các bước chuyển đổi chiến lược mang tính nguyên tắc và sách lược mềm dẻo của Đảng, giúp phá vỡ hoàn toàn thế bao vây cấm vận, bình thường hóa và thiết lập quan hệ với các đối tác lớn, đưa Việt Nam hội nhập sâu rộng vào khu vực và thế giới. Các kết quả, số liệu trích xuất cùng những bài học kinh nghiệm được đúc kết trong khóa luận mang giá trị lý luận và thực tiễn cao, đóng vai trò là tài liệu tham khảo bổ ích cho học tập, giảng dạy và nghiên cứu chuyên ngành Giáo dục Chính trị và Lịch sử Đảng.