mở đầu chính sách kinh tế mới tương đối rộng mở theo hướng đu dạng hoá các hình thức đầu tư, đa phương hoá các quan hệ đầu tư nước ngoài, tạo ra sự quan tâm và khả năng đầu tư, hợp tác ngày càng lớn của quốc tế với Việt Nam. Trong hoạt động đối ngoại đổi mới mở cửa, hội nhập để phát triển kinh tế phải đảm bảo vấn để an ninh quốc gia. An ninh và phát triển là hai mục tiêu cơ bản có mối quan hệ chặt chẽ va tác động qua lại lẫn nhau, tuỳ theo từng điều kiện cụ thể để điều chỉnh vị trí, vai trò của từng mục tiêu cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng. Dang ta cũng có quan điểm mới về an ninh và phát triển.
Trong một thế giới, sự hợp tác, liên kết kinh tế, sự đan xen lợi ích và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng thì vấn để an ninh của một quốc gia phải gấn liền với an ninh khu vực, thậm chí an ninh của cả thế giới. Với việc Việt Nam tham gia tích cực vào quá trình liên kết, hợp tác kinh tế khu vực và quốc tế thì vấn để an ninh của Việt Nam sẽ được đảm bảo, mặt khác vấn đề an ninh ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam hội nhập quốc tế. Trước những cơ hội và thách thức của cách mạng nước ta trong tình hình mới, Nghị quyết 13 của Bộ chính trị (tháng 5-1988) về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại đã khẳng định: “Lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hoà bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế. Đó là yếu tố quyết định củng cố, giữ vững an ninh và độc lap.
Can phải có quan điểm mới về an ninh và phát triển trong thời đại ngày nay để khẳng định mạnh it. mẽ phương hướng ưu tiên tập trung cho sự nghiệp giữ ving hoà bình và phát triển kinh tế. Với một nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng vừa đủ mạnh cùng với sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chúng ta sẽ cảng có nhiều khả năng giữ vững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội hơn "{49:7]. Để giữ vững hoà bình và phát triển bển vững, trong quan hệ quốc tế, chúng ta phải “thêm bạn, bớt thd”, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các nước anh em bầu bạn trên thế giới, kiên quyết đập tan âm mưu bao vây, cấm vận về kinh tế, chính trị của các thế lực thù địch để mở rộng quan hệ quốc tế.
Như vậy, nội dung đối mới tư duy đối ngoại của Đảng được khởi xướng và điều chỉnh qua các Nghị quyết Trung ương Đảng. Su khởi xướng và điều chỉnh này đã đặt nền móng cho chiến lược đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa đạng hoá. đa phương hoá quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước ta. Bước vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX.
tình hình thế giới tiếp tục có nhiều biến động, đặc biệt là sự thay đổi chế độ chính trị các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, mặt khác, các thế lực thù địch tăng cường hoạt động chống phá nhầm xoá bỏ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới. Trước tình hình đó, cùng với việc đổi mới toàn diện, Đảng ta nhấn mạnh yêu cầu của công tác đối ngoại là phải nhận thức kịp thời và dự báo được những diễn biến trong quan hệ quốc tế để có những chủ trương đối ngoại phù hợp. Đại hội đại biểu toàn quốc lan thứ VII của Dang (tháng 6-1991) diễn ra trong không khí thắng lợi bước đầu của sự nghiệp đổi mới đất nước được Đảng ta để ra từ Đại hội VI. Mặc dù chưa hoàn toàn thoát ra khỏi khủng hoảng, nhưng những thành tựu của thời kỳ đổi mới đất nước đã dẫn dan khắc phục được tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội và đã tạo ra tiền để vững chấc cho xự nghiệp đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn tiếp theo.
Đại hội lần thứ VII của Đảng ta đã tổng kết những thành tựu đạt được và nêu lên tình hình và nhiệm vụ mới, trong đó tư duy của Đảng ta về quan hệ quốc tế tiếp tục được đổi mới. - ir Đại hội VII khẳng định chủ trương “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hôi khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tổn tại hoà binh"[14:88], với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển "{I4:147]. Đại hội yêu cầu quán triệt việc đa dang hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. “Theo quan điểm của Đảng ta.
đa dang hoá quan hệ có nghĩa là mở rộng quan hệ trên mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật đến các quan hệ về nhà nước, về Đảng và các tổ chức đoàn thể xã hội. Đa phương hoá, có nghĩa là quan hệ với nhiều đối tượng khác nhau, với các tổ chức thuộc các xu hướng và các chế độ chính trị - xã hội khác nhau, với các tổ chức phi chính phủ. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, tình hình chính trị thế giới càng dién biến phức tap, tháng 12-1991 Liên Xô sup đổ. trật tự thế giới hai cực không còn nữa.
Sự biến động ấy đã ảnh hưởng, làm thay đổi phương hướng và chuẩn mực quan hệ quốc tế đối với các quốc gia, dân tộc, các chế độ chính trị khác nhau, Đứng trước tình hình mới, Ban Chấp hành Trung ương Ping Cộng sản Việt Nam họp Hội nghị lần thứ Ba khoá VII (tháng 6-1992), bàn về chính sách đối ngoại và kinh tế đối ngoại. Nghị quyết chỉ ra nhiệm vụ công tác đối ngoại đó là: Giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điểu kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc: đồng thời góp phan tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dan tộc, dân chủ và tiến bộ xã hoi] 14: 146|. Để công tác đối ngoại được tiến hành đúng hướng, giành thắng lợi và tránh sai lầm. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (tháng 1- 1994) chủ trương triển khai mạnh mẽ và đồng bộ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá và đu phương hoá quan hệ đối ngoại, mở rộng quan hệ hợp tác nhiều mặt với tất cd các nước, trên cơ sở giữ vững nguyên tắc SN: đóc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội đồng thời phải rất sáng tao, năng động, linh hoạt phù hợp với vị trí, điểu kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực.
phù hợp với đặc điểm từng đối tương ta có quan hệ. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6-1996) đã hoàn chỉnh và cụ thể hoá quan điểm, chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại của Đại hội VH và các Nghị quyết Hội nghị Trung ương khoá VII, nhấn mạnh việc mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các trung tâm kinh tế, chính trị khu vực và quốc tế. Trong lĩnh vực đối ngoại, bài học chủ yếu được rút ra là: "Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Động viên mọi nguồn lực bên trong là chính, đồng thời khai thác tốt những điều kiện thuận lợi mới trong quan hệ đối ngoại, tạo môi trường quốc tế thuận lợi và tranh thủ những nhân tố tích cực phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Việc mở rộng quan hệ đối ngoại phải trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ, giữ gìn, phát huy bản sắc và truyền thống tốt đẹp của din tộc "{L7: 15]. Đường lối phát triển kinh tế - xã hội đất nước được Đại hội VIII dé ra thể hiện sự nhất quán của Dang trong việc lãnh đạo sự nghiệp đổi mới. Chính sách đối ngoại rộng mở. đa phương hoá, đa dạng hoá tiếp tục được triển khai trong thời kỳ này, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam hội nhập quốc tế.
Các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã cụ thể hoá việc triển khai thực hiện đường lối Đại hội VIH. Trong van kiện Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII chỉ rõ: "Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, can kiệm để công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nâng cao ý chí và nang lực tự cường dân tộc. giữ vững bản sắc dân tộc trong tiến trình hội nhập quốc tế ”45:1392, 1395].
Như vậy, Hội nghị đã hoàn thiện thêm một bước chính sách đối ngoại .l$‹ của Đảng ta trong tình hình mới, đó là hội nhập quốc tế phải dựa trên cơ sở độc lập. thống nhất va tự chủ, đồng thời cũng phải giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Tranh thủ diéu kiện quốc tế gắn liên với việc phát huy nội lực là để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 1X của Đảng (tháng 4-2001), trên cơ sở phân tích sâu sắc tình hình thế giới, đã đi đến nhận định toàn cẩu hoá là một xu thế khách quan và xu thế này đang bị chỉ phối bỡi các nước phát triển, gay nên sự bất bình đẳng và nguy cơ đối với các nước đang phát triển.
Chính vì vậy, Đảng ta đã yêu cầu quán triệt cụ thể hơn quan điểm độc lập. Văn kiện chỉ rõ: “Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập ty chủ về đường lối, chính sách, déng thời có töiểm lực kinh tế đủ mạnh. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải đi đôi với chủ động hội nhập nền kinh tế quốc tế, mở rong và nâng cao hiệu quả kính tế đối ngoại, kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước "{19:25-26]. Điểm đổi mới về đường lối đối ngoại trong văn kiện đại hội IX đó là việc nhấn mạnh vấn để chủ yếu và trước hết của hội nhập khu vực, quốc tế là hội nhập về kinh tế.