Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm hệ thống chính trị cơ sở 1. Khái niệm hệ thống chính trị Hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, một cấu trúc hệ thống ổn định bao gồm các thể chế có quan hệ với nhau về mục tiêu, chức năng trong việc ra quyết định chính trị, trong việc thực thi quyền lực chính trị. Khái niệm hệ thống chính trị được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, theo nghĩa phổ biến nhất hệ thống chính trị của một quốc gia là một cấu trúc của xã hội bao gồm các tổ chức chính trị đặc trưng của xã hội (Nhà nước, các đảng phái chính trị, các tổ chức chính trị xã hội…) tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật chính thức hiện hành, cùng với tổng thể các mối quan hệ chính trị ràng buộc, gắn kết các tổ chức đó thành một chỉnh thể, thông qua đó giai cấp cầm quyền thực hiện quyền lực chính trị của mình trong xã hội.
[10] Hệ thống chính trị nói chung xuất hiện khi có nhà nước, nhưng khái niệm hệ thống chính trị xuất hiện gắn với tư bản chủ nghĩa, với sự ra đời của nhà nước tư sản, trong chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến đã có nhà nước nhưng không tồn tại hệ thống chính trị mà chỉ có cơ quan quyền lực do giai cấp chủ nô, phong kiến nắm giữ với bản chất là bộ máy quyền lực, quan liêu, tập trung quyền lực, vào giai cấp bóc lột, hệ thống chính trị với đầy đủ ý nghĩa trong xã hội loài người xuất hiện trong chế độ tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, việc ra quyết định chính trị, thực thi quyền lực chính trị không chỉ do nhà nước thực hiện mà còn có vai trò của đảng cầm quyền, vai trò của các nhóm lợi ích chính trị - tạo thành hệ thống chính trị. Tuy nhiên, nhà nước vẫn giữ vai trò cơ bản, quan trọng nhất. 8 Trong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của chủ thể cầm quyền được thực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định, đó là hệ thống chính trị.
Hệ thống chính trị là tổng thể các đảng phái chính trị, cơ quan, tổ chức nhà nước, đoàn thể xã hội và mối quan hệ giữa các lực lượng đó, chi phối sự tồn tại và phát triển đời sống chính trị của một quốc gia, thể hiện bản chất của một quốc gia, con đường phát triển của quốc gia đó. Hệ thống chính trị ở nước ta là hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là tổng thể các tổ chức của hệ thống bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị đoàn thể xã hội hoạt động trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản nhằm củng cố và tăng cường nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công cụ đặc biệt của Đảng vì chỉ Nhà nước mới thực hiện quyền lực; thực hiện các mối quan hệ các đoàn thể nhằm thực thi dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, xét về thực chất hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ra đời khi giành được chính quyền, Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền. Tuy nhiên, do cuộc đấu tranh giai cấp gay go, quyết liệt trong suốt thời kỳ quá độ, nên thuật ngữ “Hệ thống chính trị” không được sử dụng, mà dùng khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản”, nói lên tính chất đấu tranh một mất một còn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản.
Khái niệm hệ thống chính trị được Đảng ta chính thức đưa ra từ Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ sáu (khóa VI) vào tháng 3/1989 và chính thức sử dụng trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) thay thế cho khái niệm chuyên chính vô sản đã được sử dụng trước đó. Hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một chỉnh thể bao gồm Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cùng với các tổ chức chính trị xã hội hợp pháp, hoạt động 9 theo một cơ chế nhất định nhằm từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân và thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, xã hội công bằng, văn minh. Hệ thống chính trị nước ta vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Đây không chỉ đơn giản là sự thay đổi tên gọi mà là một bước đổi mới quan trọng trong tư duy chính trị của Đảng ta.
Hệ thống chính trị hiện nay là sự kế thừa và phát triển các thành tựu về tổ chức và hoạt động của hệ thống chuyên chính vô sản trong các giai đoạn trước đổi mới, đồng thời phản ánh một hiện thực mới về chính trị trong điều kiện đổi mới kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay. Ở nước ta hiện nay, mô hình tổng thể hệ thống chính trị được xác định gồm có: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội là Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Cựu chiến binh Việt Nam… Trong đó Đảng cộng sản Việt Nam vừa là một bộ phận một thành viên, vừa là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị; Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trụ cột hệ thống chính trị, là tổ chức thực thi quyền lực, thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, Mặt trận tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị của các đoàn thể nhân dân và các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc tôn giáo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; các tổ chức chính trị - xã hội đại diện và thực thi quyền làm chủ nhân dân, tham gia xây dựng và giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước, tham gia vào quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Về cơ bản, khái niệm hệ thống chính trị ở Việt Nam là một chỉnh thể bao gồm Nhà nước, Đảng Cộng sản cầm quyền, các tổ chức chính trị - xã hội 10 hợp pháp của nhân dân và mối quan hệ tác động qua lại cùng với sự vận hành của các yếu tố đó nhằm bảo đảm quyền lực của nhân dân. Đặc điểm cơ bản của hệ thống chính trị Việt Nam - Hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Mục đích của hệ thống chính trị ở Việt Nam là nhằm lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. - Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay mang những đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Do đó hệ thống chính trị đang trong quá trình hoàn thiện về tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động và đội ngũ cán bộ. - Trong cấu trúc của hệ thống chính trị ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là yếu tố cấu thành của hệ thống chính trị, vừa là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị.
Do đó, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Cán bộ, đảng viên của Đảng phải chấp hành hiến pháp, pháp luật. Mặt khác, hệ thống chính trị do Đảng thành lập, mang bản chất giai cấp công nhân, phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc, do đó Đảng đồng thời lãnh đạo hệ thống chính trị. Mọi tổ chức trong hệ thống chính trị hoạt động theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm phấn đấu vì mục tiêu chung là xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là trung tâm quyền lực của hệ thống chính trị. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. - Các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội là cơ sở chính trị của Đảng, Nhà nước; thông qua đó quyền làm chủ của nhân dân lao động được phát huy. 11 Trong quá trình vận hành, mọi thành viên của hệ thống chính trị hoạt động với chức năng riêng.
Song hệ thống chính trị là một chỉnh thể, mọi thành viên chỉ tồn tại với tư cách là một bộ phận của một cấu trúc chung, tác động theo cùng một phương, cùng tạo thành một tổng hợp lực hướng vào một mục đích chung. Mọi thành viên của hệ thống chính trị có quyền hạn, chức trách và nhiệm vụ riêng. Nhưng những quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ ấy không đối lập nhau. Chúng vừa có tính đối thoại, trao đổi, tranh luận, vừa có tính hợp tác tương hỗ, trong đó mỗi thành viên hoạt động tương đối độc lập, nhưng lại thống nhất với các thành viên khác trên một nền chung là cùng vì lợi ích của toàn thể, của cả quốc gia, dân tộc.
Tính thống nhất của hệ thống chính trị không cho phép tuyệt đối hóa vị trí, vai trò của bất cứ một thành viên nào trong hệ thống; mặt khác lại đòi hỏi phải khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản và quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Chỉ có như thế mới xây dựng được một xã hội dân chủ, trong đó mọi năng lực sản xuất vật chất và tinh thần của các tầng lớp, giai cấp xã hội đều được phát huy; đồng thời bảo đảm cho xã hội có một nền tảng vững chắc là sự liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; và cũng chỉ như thế mới loại trừ được sự độc quyền, chuyên chế, vừa loại trừ được mọi hình thức chính trị đa nguyên và dân chủ cực đoan. Hệ thống chính trị là phương tiện của nhân dân để thực hành dân chủ. Do vậy, mỗi tổ chức thành viên của hệ thống chính trị trước hết phải là một thiết chế dân chủ.