Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội 8 Luan van - Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng - Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng 9 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái quát về bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội Trong xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển phải thông qua lao động. Lao động tạo ra của cải vật chất phục vụ cho bản thân, gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào con người cũng có thể chuyên tâm vào lao động để đạt được những thành công nhất định mà trong quá trình lao động con người có thể gặp những rủi ro ngoài ý muốn do điều kiện tự nhiên, do môi trường sống hoặc do môi trường xã hội làm cho con người gặp khó khăn trong cuộc sống. Khi chẳng may gặp phải những rủi ro này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không giảm đi mà còn tăng thêm, xuất hiện những nhu cầu mới như: cần được khám chữa bệnh và điều trị ốm đau, tai nạn thương tật cần phải người chăm sóc, nuôi dưỡng, sinh con thì phát sinh thêm nhiều chi phí khác phục vụ cho đời sống…. Trước tình hình này đòi hỏi cần phải có biện pháp hỗ trợ cho NLĐ khi họ gặp phải những rủ ro để họ yên tâm nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe và sớm trở lại lao động, ổn định đời sống, ổn đinh xã hội. Vì vậy, chính sách BHXH ra đời, đây được coi là một chính sách có hiệu quả, mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc, là một chính sách đáp ứng nhu cầu phần lớn của NLĐ và được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng.
Theo tập 1 từ điển Bách khoa Việt Nam, “BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ bị mất hoặc giảm thu nhập trong các trường hợp do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính chung từ sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của nhà nước theo pháp luật nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội” [21]. 10 Luan van Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về BHXH theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, BHXH là sự đảm bảo hoặc thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ và gia đình họ khi NLĐ tham gia BHXH bị giảm hoặc mất thu nhập từ lao động do các sự kiện BHXH xảy ra và trợ giúp các dịch vụ việc làm, chăm sóc y tế cho họ trên cơ sở quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp, nhằm ổn định đời sống cho NLĐ, đảm bảo an sinh xã hội. Theo nghĩa hẹp, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ và gia đình họ từ quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp, khi NLĐ tham gia BHXH bị giảm hoặc mất thu nhập từ lao động do các sự kiện BHXH xảy ra, nhằm đảm bảo ổn định đời sống gia đình NLĐ và đảm bảo an sinh xã hội [31].1 Luật BHXH do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2014: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” [28].
Từ những định nghĩa khác nhau về khái niệm “BHXH” nêu trên, có thể khái quát về BHXH như sau: - BHXH là hệ thống bảo đảm khoản thu nhập thay thế cho người lao động khi người lao động bị mất hoặc giảm thu nhập, thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia và có sự ủng hộ của Nhà nước.2] - BHXH được chi trả trong các trường hợp người lao động bị giảm hoặc mất thu nhập, chỉ trong các trường hợp: ốm đau; thai sản; tai nạn lao động; bệnh nghề nghiệp; thất nghiệp; hết tuổi lao động; hoặc chết. - Đối tượng của BHXH chính là thu nhập (có thể coi là số tiền) bị biến động giảm hoặc mất do các trường hợp được quy định trong Luật BHXH của những người lao động tham gia BHXH. - BHXH đã lấy số đông bù số ít và thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang giữa những NLĐ có thu nhập thấp hơn, giữa 11 Luan van những người khoẻ mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc. Nói cách khác, BHXH góp phần đảm bảo sự “thăng bằng” về thu nhập cho NLĐ và gia đình họ.
Điều này đã góp một phần vào việc thực hiện công bằng xã hội. Phân loại BHXH Có thể căn cứ vào loại hình của người tham gia BHXH chia BHXH thành hai loại: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Điều 3,4 Luật Bảo hiểm xã hội quy định rõ: BHXH bắt buộc: là loại hình BHXH mà NLĐ và NSDLĐ phải tham gia. Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là NLĐ và NSDLĐ.
NLĐ và NSDLĐ phải đóng phí BHXH hàng tháng theo một tỷ lệ phần trăm nhất định theo luật BHXH. BHXH tự nguyện: là loại hình BHXH mà NLĐ tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH. Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện thường là những NLĐ tự do, lao động làm nông nghiệp. Số lượng đối tượng này ở các nước đang phát triển và chậm phát triển chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn lao động của xã hội.
Đây là loại đối tượng có hiểu biết về BHXH hạn chế. Ở nước ta, chế độ hưởng của loại hình BHXH bắt buộc bao gồm: trợ cấp ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ cấp hưu trí; trợ cấp tử tuất.; trợ cấp thất nghiệp. Bên cạnh đó, chế độ hưởng của BHXH tự nguyện chỉ bao gồm hưu trí và tử tuất bởi vì khả năng đóng phí BHXH của những đối tượng này thường hạn chế. Hiện nay mức lương tối thiểu mà NLĐ có thể đóng BHXH tự nguyện bằng mức chuẩn hộ nghèo đối với khu vực nông thôn (700.000 đồng), tối đa bằng 20 lần lương cơ sở, tỷ lệ đóng là 22% mức đóng.
Còn đối với BHXH bắt buộc thì mức đóng là 32% mức lương tối thiểu vùng, như vậy mức chênh lệch là tương đối lớn, hơn nữa tỷ lệ người tham gia BHXH tự nguyện hiện nay thấp, mức đóng đa phần thấp do đó để đảm bảo nguồn tài chính thực hiện cần có sự bảo trợ của Nhà nước [28]. Và việc quản lý các đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, quỹ BHXH tự nguyện thường khó khăn, phức tạp do cơ quan BHXH 12 Luan van thường có rất ít thông tin về những đối tượng đóng BHXH tự nguyện này và mức đóng, phương thức đóng cũng rất đa dạng. NLĐ tham gia BHXH bắt buộc được giải quyết các chế độ ốm đau, thai sản, hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp khi đáp ứng đủ các điều kiện tương ứng theo quy định của pháp luật. Mức hưởng các chế độ tùy theo vào mức tiền lương mà NLĐ đóng BHXH hàng tháng, được quy định cụ thể tại Luật Bảo hiểm xã hội 2014, Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 và các quy định pháp luật hướng dẫn liên quan.
Tính chất của bảo hiểm xã hội BHXH gắn liền với đời sống của NLĐ nên có một số tính chất cơ bản sau: Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội. Sản xuất ngày càng phát triển, những rủi ro đối với NLĐ và NSDLĐ ngày càng trở nên phức tạp dẫn đến mối quan hệ NLĐ – NSDLĐ cũng trở nên căng thẳng. Để giải quyết vấn đề này, Nhà nước đứng ra can thiệp thông qua BHXH. Và như vậy, BHXH ra đời hoàn toàn mang tính chất khách quan trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
Tính kinh tế, quỹ BHXH muốn được hình thành, bảo toàn và tăng trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích. Mức đóng của các bên tham gia phải được tính toán rất cụ thể dựa trên xác suất phát sinh thiệt hại của tập hợp NLĐ tham gia BHXH. Quỹ BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp cho NLĐ theo các điều kiện của BHXH. Thực chất phần đóng góp của mỗi NLĐ là không đáng kể, nhưng quyền lợi nhận được là rất lớn khi gặp rủi ro.
Đối với NSDLĐ, việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXH là để bảo hiểm cho NLĐ mà mình sử dụng. Xét dưới góc độ kinh tế, họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để hỗ trợ cho những NLĐ bị mất hoặc giảm khả năng lao động. Với Nhà nước BHXH góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách đồng thời quỹ BHXH còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. Tính xã hội, tất cả NLĐ trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH, và ngược lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho NLĐ và gia đình họ, kể cả khi họ còn đang trong độ tuổi lao động.
13 Luan van Tính dịch vụ, tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ, cơ quan BHXH sẽ: Thu phí BHXH của các đối tượng gồm NLĐ và NSDLĐ; Bảo quản quỹ tài chính BHXH; Chi trả các khoản trợ cấp cho NLĐ khi có các rủi ro, tình huống xấu xảy ra. Khi nền kinh tế-xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hóa của BHXH cũng ngày càng cao. Vai trò và chức năng của bảo hiểm xã hội Đối với NLĐ: BHXH đảm bảo nguồn nhập cho NLĐ và gia đình họ khi chẳng may gặp rủi ro bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập. BHXH giúp NLĐ tiết kiệm những khoản nhỏ, đều đặn tạo thành nguồn dự phòng cần thiết khi mất sức lao động, ốm đau, tuổi già, sinh con,… mà trong đó chủ sử dụng lao động phải đóng một khoản tiền tỷ lệ tương đối cao so với NLĐ.