Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức 4 Chương 2: Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ viên chức thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2012-2017 Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh Tuyên Quang 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CHẤT LƢỢNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨC 1. Nhân lực và đặc điểm nhân lực trong ngành Bảo hiểm xã hội 1. Nhân lực của một ngành Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người.trong các nguồn lực đó thì nhân lực là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia từ trước đến nay. Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong công cuộc hội nhập và phát triển hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; Đảng ta luôn xác định Nguồn lao động dồi dào; con người Việt Nam có truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh. Vậy nhân lực là gì? Nhân lực dưới góc độ từ và ngữ là danh từ (từ Hán Việt) nhân là người, lực là sức. Ngay trong phạm trù sức NLĐ cũng chứa một nội hàm rất rộng. Nếu dừng lại ở các bộ phận cấu thành đó là sức óc, sức bắp thịt, sức xương.
Sức thể hiện thông qua các giác quan mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi, da cảm giác. Còn chất lượng của sức lao động đó là trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, lành nghề. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nhân lực. Ngân hàng thế giới (World bank) cho rằng Nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp.
của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nhân lực được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo tổ chức lao động quốc tế ILO (International Labour Organization): - Nhân lực của một quốc gia là Toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. - Nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát 6 triển.
Do đó, nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Ở nước ta khái niệm nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới. Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nhân lực Nhân lực được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất).
Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai (Phạm Minh Hạc, 1996). Theo Nguyễn Hữu Dũng (2009) đã luận giải bản chất của nhân lực dưới các lát cắt khá rộng sau: - Nhân lực là tiềm năng của con người có thể khai thác cho sự phát triển kinh tế - xã hội; - Nhân lực là số lượng và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sưc khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm sống; - Là tổng thể những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội; - Là sự kết hợp giữa trí lực và thể lực của con người trong sản xuất tạo ra năng lực sáng tạo và chất lượng, hiệu quả của hoạt động lao động (Nguyễn Hữu Dũng, 2003). Nhân lực bao gồm cả số lượng và chất lượng của dân số và lao động của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, được chuẩn bị về năng lực làm việc và kỹ năng chuyên môn và ở một mức độ nhất định, đang và sẽ tham gia vào các hoạt động kinh tế khác nhau trong xã hội (Chu Tiến Quang, 2005). Kinh tế phát triển cho rằng nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động; nhân lực được biểu hiện trên hai mặt về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của NLĐ.
Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm. Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt số lượng và chất lượng. Như vậy theo khái niệm này, có một số được tính là nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là Những người không có việc 7 làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học. Như vậy, khái niệm nhân lực được hiểu khá rộng với các mức độ khác nhau, đó là hiểu theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng thì nhân lực là “số dân và chất lượng con người, gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất”. Theo nghĩa hẹp thì nhân lực được hiểu là “lực lượng lao động, gồm số người đang làm việc, người thất nghiệp, và lao động dự phòng”; hay bao gồm những người được đào tạo và chưa được đào tạo, có thể đang làm việc hoặc đang không làm việc. Theo cách hiểu hẹp hơn nữa thì “nhân lực là lực lượng lao động đang làm việc và lực lượng lao động có khả năng những không có việc làm (đang trong tình trạng thất nghiệp)”. Vậy, có thể hiểu nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. Đặc điểm nhân lực trong ngành Bảo hiểm xã hội 1. Vai trò, chức năng của ngành Bảo hiểm xã hội Cuộc sống con người luôn phấn đấu cho an sinh hạnh phúc, nhưng quy luật của tạo hoá là sinh ra, lớn lên và già yếu, đi theo đó là những rủi ro, ốm đau, hoạn nạn có thể đến bất cứ lúc nào. Với trí óc thiên phú, con người luôn có những phát kiến khoa học cả về tự nhiên và xã hội để chế ngự thiên nhiên, khắc phục những diễn biến bất thường của quy luật, làm cho xã hội không ngừng phát triển.
BHXH như là một phát kiến văn minh của nhân loại về khoa học xã hội kết hợp với khoa học tự nhiên để giữ gìn, bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ cho con người. Hoạt động BHXH là hoạt động sự nghiệp của toàn xã hội, phục vụ mọi thành viên trong xã hội, lợi nhuận không phải là mục tiêu của hoạt động BHXH. Do đó, chính sách BHXH có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội của một quốc gia và được thể hiện ở các mặt sau đây: Một là, BHXH góp phần ổn định đời sống của NLĐ và gia đình khi đã hết tuổi lao động hoặc không đủ sức tiếp tục lao động, hoặc quá trình làm việc không may gặp phải rủi ro. Mục đích lớn nhất của BHXH là đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ, người tham gia BHXH sẽ được thay thế một phần thu nhập bị mất hoặc giảm thu nhập, nó làm cho NLĐ yên tâm cống hiến và không phải lo lắng khi rủi ro có thể xảy ra.
Đồng thời, BHXH góp phần hạn chế và điều hòa các mâu thuẫn có thể xảy 8 ra giữa người sử dụng lao động và NLĐ, tạo môi trường làm việc bình đẳng, ổn định, đảm bảo cho hoạt động sản xuất, công tác đạt hiệu quả cao, từ đó góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước. Đây là vai trò cơ bản nhất của chính sách BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất, phương thức hoạt động của BHXH. Hai là, BHXH làm gắn bó lợi ích giữa NLĐ, người sử dụng lao động đối với Nhà nước. BHXH không những đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ mà còn góp phần bảo vệ lợi ích của người sử dụng lao động khi rủi ro xảy ra đối với NLĐ của mình, nó tạo điều kiện cho người sử dụng lao động có thể nhanh chóng ổn định sản xuất.
Đồng thời, thể hiện sự quan tâm của người sử dụng lao động đối với NLĐ thông qua việc đóng góp vào quỹ BHXH, do đó NLĐ có trách nhiệm hơn trong công việc, tích cực, sáng tạo trong quá trình lao động. Đối với Nhà nước, thông qua việc tổ chức hoạt động BHXH nhằm đảm bảo cho mọi NLĐ, mọi tổ chức, đơn vị hoạt động sản xuất, kinh doanh bình đẳng, công bằng trong lao động sản xuất, xã hội phát triển an toàn. Ba là, BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội. BHXH dựa trên nguyên tắc NLĐ bình đẳng trong nghĩa vụ đóng góp và thụ hưởng.
Thông qua hoạt động của mình, BHXH tham gia vào việc phân phối và phân phối lại thu nhập xã hội giữa những NLĐ thế hệ trước với thế hệ sau, giữa những ngành nghề sản xuất, giữa những người thu nhập cao và thu nhập thấp, giữa những người may mắn và không may mắn.