Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIÊN ĐỘI NGŨ GIANG VIEN TRUONG CAO DANG 1. Khái lược lịch sử nghiên cứu vấn đề Sự phát triển vượt bậc của nên kinh tế, khoa học kỹ thuật công nghệ. do nhu cầu của con người cao về tri thức nhân loại, toàn cầu hóa hội nhập q\ tạo điều kiện cho tất cả nhân loại có điều kiện tiếp nhận công nghệ kỹ thuật tiên tiến và chia xẻ kinh nghiệm cũng như chuyển giao khoa học công nghệ cho việc giáo dục và đào tạo. Để đáp ứng nhanh hơn và tốt hơn các yêu cầu toàn xã hội hóa, khoa học kỹ thuật công nghệ, ién đại hóa và quốc tế hóa giáo dục hiện đại, vụ các trường dai hoc, cao ding là tạo ra cho xã hội một đội ngũ có phẩm chất đạo đức, một xã hội hoàn mỹ, tạo ra cho thị trường lao động một lực lượng có chất lượng cao, có tay nghề vững chắc để đáp ứng với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
‘Theo trang http://www.vn: Ở Singapore van dé dao tao, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên nhằm phát huy cao độ tiểm lực của mỗi người được Chính phủ Singapore đặc biệt quan tâm. Điều đó được thể hiện trước hết ở việc đầu tư rất lớn cho đào tạo (xây dựng cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên; có chính sách ưu đãi như được miễn phí, bao gồm cả học phí, sách giáo khoa, máy tính, phí giao. Việc đào tạo, bồi đưỡng đội ngũ giảng viên theo hướng mỗi người đều cần. được phát triển tài năng riêng; tạo thói quen học tập suốt đời, liên tục học hỏi để mỗi giảng viên đều có đầy đủ phẩm chất, năng lực, trình độ.
Singapore xây dựng chiến lược cán bộ đào tạo thê hiện bằng kế hoạch đào tạo ngắn hạn, dài hạn, đào tạo. bài bản, từ xa. Thời gian đào tạo tối thiêu bắt buộc là 100 giờ trong một năm đối với mỗi công chức. Trong đó 60% nội dung đào tạo về chuyên môn, 40%.
nội dung đào tạo liên quan đến phát triển. Có nhiều khóa học khác nhau dành cho các đối tượng khác nhau. Khóa học làm quen v‹ ông việc dành cho giảng viên mới được tuyển dụng hoặc mới chuyển công tác từ nơi khác đến; khóa học đào tạo cơ bản được tổ chức cho người mới tuyển dụng trong năm đầu tiên công tác; khóa học nâng cao bổ sung, giúp giảng viên đạt hiệu quả cao nhất trong công việc và 1 nâng cao khả năng làm việc của người đó trong tương lai; khóa học mở rông tạo điều kiện cho giảng viên được trang bị những kiến thức và nghiệp vụ bên ngoài lĩnh vực chuyên môn chính đề có thẻ đảm đương những công việc liên quan khi cần thiết. Các khóa học này liên quan chặt chẽ tới con đường sự nghiệp của giảng viên và việc chỉ định vị trí công việc.
Hằng năm, Singapore dành 4% ngân sách cho đào tạo, bồi dưỡng. Viện Quản lý Singapore là nơi tổ chức nhiều chương trình ngắn han để học viên tự lựa chọn theo yêu cầu của cá nhân, từ cập nhật những kiến thức và lý luận mới về quản lý giáo dục cho tới các khóa ngắn hạn, tại chức, mở tại các cơ quan theo yêu cầu. Cũng theo trang http⁄/wvww.vn thì tại Hoa ky, L Đào tạo công chức Hoa Kỳ (1958) yêu cầu các cơ quan nhà nước phải tạo các cơ đào tạo, bồi dưỡng đề nâng cao hiệu quả làm việc của công chức trong đó có đội ngũ giảng viên. Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của công chức và hoạt động của cơ quan.
Luật pháp Hoa Kỳ yêu cầu mỗi cơ quan phải có các quy trình xác định nhu cẳu cải tiến chất lượng hoạt động và xác định chương trình đào tạo gắn với nhu cầu đó. Quy trình này thường bao gồm các bước sau đây: - Xác định chất lượng hoạt động theo yêu cầu đẻ ra của cơ quan, phòng, ban và của từng công chức; - Xác định sự chênh lệch giữa chất lượng hoạt động hiện tại với chất lượng hoạt động theo yêu cầu; Tìm hiểu nguyên nhân của sự chênh lệch về chất lượng và xác định liệu các phương pháp, chương trình tập huấn có giúp nâng cao chất lượng hoạt động theo yêu cầu hay không; Đánh giá nhu cầu họ đào tạo, bồi dưỡng và dựa trên sự đánh giá này để đề ra các chính sách, chủ trương về đào tạo, bồi dưỡng. Theo nghiên cứu của tác giả Tường Vi, Tại Hàn Quốc đặc biệt chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nhất là những người tài và đội gil ging viên, khuyến khích và tạo điều kiện để nguồn nhân lực tài năng phát triển. Chương trình đào tạo khác nhau cho những đối tượng giảng viên khác nhau: Giảng viên mới được tuyển dụng phải tham gia một số chương trình đào tạo bắt buộc.
Cán bộ quản lý sắp được thăng chức phải tham gia 3 chương trình học tại hệ thống các trường đào tạo, 14 bồi dưỡng cán bộ. công chức thì mới được xem xét nâng bậc. Về cơ sở đào tạo, ngoài các trung tâm, viện nghiên cứu của Nhà nước, hẳu như các doanh nghiệp đều. trung tâm nghiên cứu về khoa học, công nghệ theo chuyên môn sâu của.
ngành, trong đó tập hợp được một số lớn các chuyên gia, tiến sĩ đầu ngành. Các tập đoàn công nghiệp lớn như Sam Sung. đều có những trường đại học riêng, chuyên ngành để đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có chất lượng cao. Giảng viên có thể tham gia các khóa học của các trường đại học này đề cập nhật kiến thức về chuyên ngành nhằm nâng cao chất lượng quản lý những ngành nghề.
Ngày 15 tháng I1 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ tọa lễ khai giảng Đại học Đông Dương. Ở đây có 2 ban Khoa học và Văn khoa có nhiệm vụ đào tạo giáo sư trung học chuyên khoa. Chỉ trong vòng 1 năm hàng vạn cl in si diệt đốt đã được bồi dưỡng về phương pháp dạy Bình dân học vụ và đã giúp gân 3 triệu đồng bào thoát nạn mù chữ. Đó là những yếu tế tiền thân để đến tháng 10 năm 1946 Chính phủ chính thức thành lập ngành sư phạm Việt Nam.
Hội nghị sư phạm toàn quốc tháng 11 năm 1964 đã thông qua đẻ án “Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, vững vàng về chính trị nghiệp vụ đẻ thực hiện cải cách giáo dục”. Chỉ thị số 106 ngày 14/11/1964 của Thủ tướng Chính phủ xác định những quan điểm cơ bản về phương hướng nhiệm vụ. biện pháp của công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo viên và Chỉ thị số 88 ngày 05/8/1965 về chuyển hướng giáo. dục, bảo đảm an toàn, tiếp tục phát triển sự nghiệp giáo dục mạnh mẽ, vững chắc, đánh thắng giặc Mĩ trên mặt trận giáo dục.
Các Chỉ thị này được xem là văn bản đầu tiên của Nhà nước về cải cách giáo dục. Hội thảo khoa học “Chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa. hiện đại hóa đất nước” tháng 11/1998 đã mở ra bước ngoặt quan trọng trong việc nghiên cứu, quy hoạch. xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có phâm chất, tầm nhìn, kỹ năng, đáp ứng yêu cầu đổi m: sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
'Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI có nị Phat triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những. yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đôi mới căn bản, toàn 15 diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; đổi mới chương. trình, nội dung, phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo.
Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành. Đây mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triên đất nước. dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình va xd hi : xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tậpsuốt đời” [11]. Ở trong nước, những năm gần đây đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn để xây dựng và phát triển đội ngũ giáng viên như: Để tài Khoa học và Công nghệ cấp Bộ, mã số B92.
38 - 18 “Nghiên cứu việc. bồi dưỡng cán bộ giảng day dai hoc va giáo viên dạy nghề" do Phạm Thành Nghị làm chủ nhiệm để tài (bảo vệ năm 1993). Đề tài đã nêu lên thực trạng đội ngũ giảng. viên giảng dạy đại học và giáo viên dạy nghề, có thê nói khái quát rằng đề tài đã chỉ ra đôi ngũ này đang bị hạn chế về nhiều mặt: mặt bằng trình độ không đồng đều; trình độ tay nghề còn thấp: trình độ sư phạm hạn chế: thiếu hiểu biết thực tế sản xuất và công nghệ mới; trình độ ngoại ngữ và tin học yếu.
Như vậy là phần lớn đội ngũ giảng viên không đủ khả năng thích ứng kịp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phát triển khoa học và công nghệ, những đổi xã hội và hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường. Đề tài đã nêu lên các giải pháp bồi dưỡng để phát triển đội ngũ giảng viên, trong đó có việc xây dựng mô hình đào tạo bồi dưỡng đôi ngũ giảng viên, giáo viên có trình độ đạt chuẩn, cơ cấu chuyên ngành hợp lý và nghiệp vụ sư phạm tỉnh thông. Đề án “Tăng cường năng lực đào tạo giáo viên” do Ngân hàng phát triển Châu Á tài trợ (2002). Đề án đề xuất vai trò của Nhà nước chuyên từ người đóng vai thực hiện sang tạo điều kiện là chính trong sự phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Đề án đã nghiên cứu, xây dựng ban hành chuân chất lượng giáo dục cơ sở vật chất, trang thiết bị và đồ dùng dạy học, giáo viên phù hợp với trình độ và yêu cầu phát triển trong từng giai đoạn. Đặc biệt Để án cũng đã chỉ ra các giải pháp và tổ 16 chức các giải pháp để phát triển đội ngũ nhà giáo thông qua đào tạo giáo viên các cơ. sở giáo dục đại học; trong những giải pháp đó có giải pháp về phát triển đội ngũ giảng viên để đáp ứng được yêu cầu đào tạo giáo viên.