CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LY THUYET VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VÀ PHÁT TRIÊN VAN HOA AN TOÀN TRONG DOANH NGHIỆP. Tổng quan về văn hóa doanh nghiệp cạnh trong thể hiệ vì có nhiều trường phái, khái niệm và cách hiểu khác nhau do sự không đồng đều về nhận thức và tập quán. Đầu thập kỷ 90 đã có các nghiên cứu phân tích về nhân tố cấu thành cũng như tác động có ý nghĩa của văn hóa đối với sự phát triển tổ chức. Đã có, rất nhiều khái niệm VHDN được hình thành đúc kết, do có nhiều trường phái nên không có định nghĩa chuẩn nào được công nhận như là lý thuyết đúng.
Chúng ta hay sử dụng khái niệm “nhân cách” khi muốn đề cập tư cách đặc điểm tâm lý xã hội của một ai đó. Còn DN, những đặc trưng riêng trong cách thức hành động, ra quyết định và ứng xử trước những tác động bên trong và bên ngoài được coi là “tính cách”, “bản sắc riêng” của DN đó hay VHDN đó. Căn cứ vào định nghĩa của tổ chức lao động quốc tế - ILO thì “văn hóa DN là pha trộn giá trị đặc biệt, bộ tiêu chuẩn, các thói quen nhân viên và truyền thống tại đĩa phương, thái độ ứng xử của cá nhân và lễ nghỉ mà toàn bộ nhân viên là duy nhất đối với một công ty. Rất nhiều khái niệm, để chọn được khái niệm phổ biến và được áp dụng với phạm vi lớn là định nghĩa của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức kinh tế Edga Schien: “Văn hóa công ty là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong qua trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lJ' các vấn đề với môi trường xung quanh” Sau nhiều năm mở cửa thị trường, Văn hóa doanh nghiệp gần đây mới xuất hiện trong các doanh nghiệp, đối với các nước phương tây thuật ngữ này hình (hành rất lâu ở các nước có nền kinh tế thị trường.
Theo nhiều nghiên cứu đã cho rằng một yếu quan trọng trong nguyên nhân thành công của các doanh nghiệp lớn là họ xây dựng nền văn hóa doanh nghiệp đầy sức mạnh thê hiện ý chí của chủ doanh nghiệp hay tổ chức. Vậy văn hóa doanh nghiệp là gì? Theo tổng hợp từ các tác giả nghiên cứu, văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ giá trị, các nhân tố văn hóa mà doanh nghiệp làm ra trong quá trình hình thành và phát triển, tạo nên bản sắc đặc trưng của doanh nợ] Các nhân tố này ảnh hưởng, chỉ phối, tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tắt cả các cá thể trong doanh nghiệp đó. Hay nói cách khác, văn hóa doanh nghiệp thực chất là văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp đó. Văn hóa doanh nghiệp xuất phát từ chính trong doanh nghiệp và cần có cả một quá trình đề hình thành.
Định nghĩa văn hóa doanh nghiệp Tac gia Dinh Thi Dung — Trần Ngọc Thêm (2008) trong bài tông kết “Những nhà văn hóa nôi tiếng” đã đề cập đến câu nói của Edouard Herriot: “Van hod Ia cdi con lai khi ta quên tắt cả, la cdi con thiéu khi ta dé hoc tat ca" (La culture, c'est ce qui reste quand on a tout oublié, c'est ce qui manque quand on a tout appris). Vậy “văn hóa” là gì để khiến nó có thể tồn tại mãi mãi như vay? Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi sinh tổn" (Khái niệm văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, 2012) Edgar H. Schein (2010) giải thích: Văn hóa vừa là một hiện tượng năng động của hiện tại, vừa là một cấu trúc nền tảng mang tính cưỡng chế có ảnh hưởng đến chúng ta theo nhiều cách thức khác nhau. Văn hóa luôn được thiết lập lại và được sáng tạo ra bởi sự tương tác với các cá nhân khác và bởi chính những hành vi của chúng ta.
'Về mặt thuật ngữ khoa học, “văn hóa” được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus" mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo trồng tỉnh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người" (Giòng Bách Việt, 2010, trích trong bài viết “Định nghĩa về văn hóa”) Nhà nhân loại hoc ngudi Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917) đã định nghĩa: “Van héa hay văn mình, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số VHAT và thỏi quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là thành viên của xã hội” ( Đinh Thị Dung — Trần Ngọc Thêm, 2008, trích trong “Những nhà văn hóa nỗi tiếng”) Để nhắn mạnh đến các quan niệm về giá trị khi nghiên cứu “văn hóa”, William Isaac Thomas (1863 - 1947), nha xã hội học người Mỹ coi văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử,. Chú trọng khía cạnh tổ chức cấu trúc của văn hóa, Ralph Linton (1893 - 1953), nhà nhân loại học người Mỹ cho rằng: “Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã hội; Là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các 10 thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa” (Giòng Bách Việt, 2010, trích trong bài viết “Định nghĩa về văn hóa”) Tác giả Nguyễn Như Ý (biên soạn, 1998) cho rằng: Văn hóa là những giá trị vật tĩnh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử. Từ rất nhiều khái niệm “văn hóa” được nêu trên, tác giả bài viết đồng quan điểm với Tiến sỹ Đinh Việt Hòa (2012): “Văn hoá được hiểu như một thống những chuẩn mực và giá trị mà những thành viên trong cộng đồng tác động lẫn nhau, thực hiện và sự tác động ấy tạo nên một sự khác biệt”. Chính sự “khác biệt” được tạo nên từ “văn hóa” đó đã làm cho nó tổn tại bền vững, bởi Jack Trout đã từng khẳng định “Khác biệt hay là chết”.
Vì vậy, một quốc gia, một tổ chức hay một doanh nghiệp muốn trường tồn, cần phải có “văn hóa” Đề cập đến khái niệm "văn hoá tô chức", các nhà nghiên cứa đã đưa ra rất nhiều ý kiến khác nhau. Nguyễn Viết Lộc trích dẫn trong Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 25, 2009, trang 231) quan niệm: “Văn hóa rổ chức là một tập hợp những quan niệm chung của một nhóm người. Những quan niệm này phần lớn được các thành viên hiểu ngâm với nhau và chỉ thích hợp cho tổ chức của riêng họ. Các quan niệm này sẽ được truyền cho các thành viên mới " Thuật ngữ “văn hóa” chỉ những giá trị, tín ngưỡng và nguyên tắc bên trong tạo thành nền tảng của hệ thống quản lý của tổ chức cũng như một loạt các thủ tục quản lý và hành vi ứng xử minh chứng và củng cố cho những nguyên tắc cơ bản này Tunstall (1983) (ThS.
Nguyễn Viết Lộc trích dẫn trong Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 25, 2009, trang 231) xác định: “Văn hoá tổ chức có thể được mô tä như một tập hợp chung cúc tín ngưỡng, thông lệ, hệ thống giá trị, quy chuẩn hành vi ứng xử và cách kinh doanh riêng của từng tổ chức. Những mặt trên sẽ quy định mô hình hoạt động riêng của tỗ chức và cách ứng xử của các thành viên trong tổ chức”.Schein (2010, trang 42) đưa ra định nghĩa chính thức về văn hóa: “Văn hóa của một nhóm hiện có thể được định nghĩa là mô hình mẫu của các giả định căn bản được chia sẻ mà nhóm đó đã học hỏi được khi nó giải quyết các vấn đề liên quan đến việc điều chỉnh cho phù hợp với bên ngoài và hội nhập ở bên trong, nó đã vận hành đủ tốt để có thể được đánh giá là phù hợp và do đó được hướng dẫn lại cho các thành viên mới như một phương pháp đúng đắn để lĩnh hội, tư duy và cảm xúc đối với các vấn đê như trên ” MBA. Nguyễn Văn Dung — TS. Phan Đình Quyền — Ths.
Lê Việt Hưng (biên soạn, 2010, trang 20) đề xuất văn hóa của một nhóm có thể được định nghĩa như sau: “Ä⁄ô/ "1 dạng thức các quan niệm cơ bản cùng chia sẻ mà nhóm học hỏi được, khi nó giải quyết những vấn đề liên quan đến việc thích nghỉ với môi trường bên ngoài và sự hợp nhất bên trong. Dạng thức này hiệu quả đủ tốt để được xem là có giá trị, và do đó được truyên dạy cho các thành viên mới như cách thức đúng đắn đẻ nhận thức tư duy và cảm nhận liên quan các vấn đề đó " GS. TSKH Trần Ngọc Thêm (2013) cho rằng các định nghĩa văn hóa hiện có tuy rất phong phú và đa dạng, nhưng tông kết tựu trưng lại chúng không nằm ngoài hai loại định nghĩa về miêu tả và định nghĩa nêu đặc trưng cho nền văn hóa đó. Từ rất nhiều khái niệm về văn hóa đã được các nhà nghiên cứu đề xuất, tác giả bài viết cho rằng: “Văn hóa tổ chức là hệ thống cúc giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vỉ của tổ chức chỉ phối tình cảm, nếp suy nghĩ, ứng xử của mọi thành viên; cùng được chỉa sẻ trong tổ chức và tạo nên nét đặc thù riêng của tổ chức.
” “Văn hóa” tạo ra cho tổ chức nét “cá tính” riêng có; “Văn hóa” được coi là “linh hồn” của mỗi tổ chức; “Văn hóa” xây dựng “phong cách”, là “đạo”, là “bộ gen” và là “sức mạnh cạnh tranh” của mỗi tổ chức. Các yếu tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp Cách tiếp cận của Edgar H. Schein (2010) “Văn hóa” vẫn được coi là một phạm trù tương trừu tượng, nhưng thực tế không hẵn như vậy. Schein đã phân tích “văn hóa tổ chức” với 03 cấp độ.
Các cấp độ này di chuyên từ những biểu hiện rõ ràng, hữu hình, có thê nhìn thấy và cảm nhận được, cho đến những giá trị căn bản đã được ăn sâu, trở thành nền tảng và được ông cho là cốt lõi văn hóa. Nằm giữa 02 cấp độ đó là những giá trị, chuẩn mực. và quy tắc hành xử chung mà những thành viên của tổ chức đó sử dụng như cách thức. để mô tả văn hóa cho chính mình và người khác.1 Ba cấp độ văn hóa 1, Các sản phẩm của con người Các cấu trúc và quy trình nhìn thấy được và cảm nhận được Các hành vi quan sát được (Khó lý giải) 2.