Luận án tiến sĩ: Hệ thống chỉ tiêu tài chính đánh giá năng lực tài chính ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam - Nguyễn Thu Hằng, ĐH Kinh tế Quốc dân

Phân tích hệ thống chỉ tiêu tài chính đánh giá năng lực ngân hàng TMCP Việt Nam. Khám phá tiêu chí, phương pháp quản lý và ứng dụng trong giám sát tài chính.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

193
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống chỉ tiêu tài chính đánh giá ngân hàng thương mại

Hệ thống chỉ tiêu tài chính đóng vai trò then chốt trong việc đánh giá năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Năng lực tài chính phản ánh sức khỏe tổng thể của ngân hàng, bao gồm khả năng huy động vốn, quản lý rủi ro và tạo ra lợi nhuận bền vững. Các chỉ tiêu tài chính được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết kế toán, tài chính ngân hàng và thực tiễn hoạt động tại Việt Nam. Hệ thống chỉ tiêu này giúp nhà quản trị, nhà đầu tư và cơ quan giám sát đánh giá khách quan tình hình tài chính. Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hằng (2021) tại Đại học Kinh tế Quốc dân đã hệ thống hóa các chỉ tiêu thành các nhóm chính: chỉ tiêu thanh khoản, chỉ tiêu an toàn vốn, chỉ tiêu hiệu quả hoạt động và chỉ tiêu tăng trưởng. Mỗi nhóm chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh cụ thể của năng lực tài chính ngân hàng. Việc áp dụng hệ thống chỉ tiêu này cần phù hợp với đặc thù của hệ thống ngân hàng Việt Nam và các quy định của Ngân hàng Nhà nước.

1.1. Khái niệm năng lực tài chính ngân hàng thương mại cổ phần

Năng lực tài chính ngân hàng thương mại cổ phần là khả năng tổng hợp thể hiện sức mạnh tài chính của ngân hàng trong quá trình hoạt động kinh doanh. Khái niệm này bao gồm nhiều chiều cạnh: khả năng huy động vốn từ thị trường, khả năng cho vay và đầu tư hiệu quả, khả năng thanh toán các nghĩa vụ nợ đến hạn và khả năng sinh lời cho cổ đông. Năng lực tài chính mạnh giúp ngân hàng duy trì hoạt động ổn định, mở rộng quy mô và đối phó với các rủi ro tài chính. Theo các nghiên cứu trong nước, năng lực tài chính ngân hàng được đo lường thông qua hệ thống chỉ tiêu định lượng phản ánh các khía cạnh an toàn, thanh khoản và hiệu quả.

1.2. Vai trò của hệ thống chỉ tiêu tài chính trong đánh giá ngân hàng

Hệ thống chỉ tiêu tài chính cung cấp công cụ đánh giá khách quan và có hệ thống về tình hình hoạt động của ngân hàng. Các chỉ tiêu giúp xác định điểm mạnh, điểm yếu trong quản lý tài chính và so sánh hiệu quả hoạt động giữa các ngân hàng. Đối với cơ quan quản lý, hệ thống chỉ tiêu là cơ sở giám sát an toàn hệ thống ngân hàng. Đối với nhà đầu tư, các chỉ tiêu hỗ trợ ra quyết định đầu tư sáng suốt. Đối với ban lãnh đạo ngân hàng, hệ thống chỉ tiêu là công cụ quản trị hiệu quả, giúp xây dựng chiến lược phát triển phù hợp với thực tế thị trường và năng lực nội tại.

II. Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính đánh giá năng lực ngân hàng

Hệ thống chỉ tiêu tài chính đánh giá năng lực ngân hàng thương mại cổ phần được phân thành bốn nhóm chính. Nhóm chỉ tiêu thanh khoản đo lường khả năng đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn, bao gồm tỷ lệ an toàn thanh khoản và khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt. Nhóm chỉ tiêu an toàn vốn đánh giá mức độ bảo vệ người gửi tiền và duy trì hoạt động ổn định, thể hiện qua hệ số an toàn vốn CAR và tỷ lệ nợ xấu. Nhóm chỉ tiêu hiệu quả hoạt động phản ánh khả năng sinh lời thông qua ROA, ROE và biên lợi nhuận ròng NIM. Nhóm chỉ tiêu tăng trưởng đánh giá tốc độ phát triển qua các kỳ kế toán, bao gồm tăng trưởng vốn chủ sở hữu, tăng trưởng dư nợ cho vay và tăng trưởng lợi nhuận. Mỗi nhóm chỉ tiêu có công thức tính toán chuẩn và ngưỡng đánh giá riêng. Sự kết hợp các nhóm chỉ tiêu tạo nên bức tranh toàn diện về năng lực tài chính của ngân hàng.

2.1. Nhóm chỉ tiêu thanh khoản và an toàn vốn ngân hàng

Nhóm chỉ tiêu thanh khoản bao gồm tỷ lệ khả năng thanh toán ngắn hạn, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Các chỉ tiêu này phản ánh khả năng ngân hàng đáp ứng các nghĩa vụ nợ đến hạn mà không gặp khó khăn về dòng tiền. Nhóm chỉ tiêu an toàn vốn bao gồm hệ số an toàn vốn CAR, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ và tỷ lệ dự phòng rủi ro. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, hệ số CAR tối thiểu là 8% theo chuẩn Basel II. Tỷ lệ nợ xấu cần duy trì dưới 3% để đảm bảo an toàn hệ thống. Việc đánh giá hai nhóm chỉ tiêu này giúp nhận diện rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động ngân hàng.

2.2. Nhóm chỉ tiêu hiệu quả hoạt động và tăng trưởng ngân hàng

Nhóm chỉ tiêu hiệu quả hoạt động bao gồm ROA (tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản), ROE (tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) và NIM (biên lợi nhuận ròng). ROA cho biết mỗi đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROE phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cổ đông. NIM thể hiện chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động. Nhóm chỉ tiêu tăng trưởng bao gồm tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu, tăng trưởng dư nợ tín dụng và tăng trưởng lợi nhuận trước thuế. Các chỉ tiêu tăng trưởng giúp đánh giá xu hướng phát triển và tiềm năng tương lai của ngân hàng trong dài hạn.

III. Phương pháp xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính

Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính ngân hàng thương mại cổ phần đòi hỏi phương pháp khoa học và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng. Nghiên cứu định tính thông qua phân tích tài liệu, phỏng vấn chuyên gia và tổng hợp kinh nghiệm quốc tế. Nghiên cứu định lượng sử dụng dữ liệu tài chính từ báo cáo tài chính kiểm toán của các ngân hàng giai đoạn 2013-2018. Phương pháp phân tích tỷ lệ tài chính là công cụ chính, kết hợp với phân tích so sánh ngang và phân tích xu hướng dọc. Hệ thống chỉ tiêu được xây dựng theo nguyên tắc toàn diện, có trọng số phù hợp với đặc thù hoạt động ngân hàng. Các chỉ tiêu được lựa chọn dựa trên tần suất sử dụng trong nghiên cứu trước đó và mức độ phản ánh năng lực tài chính. Phương pháp đánh giá sử dụng thang điểm và xếp hạng để so sánh hiệu quả giữa các ngân hàng trong cùng thời kỳ.

3.1. Nguyên tắc và quy trình xây dựng hệ thống chỉ tiêu

Xây dựng hệ thống chỉ tiêu tuân thủ các nguyên tắc: tính toàn diện bao quát các khía cạnh tài chính, tính khả thi về dữ liệu thu thập, tính so sánh giữa các ngân hàng và tính phù hợp với quy định pháp luật. Quy trình xây dựng gồm bốn bước. Bước một, tổng hợp lý thuyết và nghiên cứu trước đó về chỉ tiêu tài chính ngân hàng. Bước hai, lựa chọn chỉ tiêu dựa trên mức độ phù hợp và tính đại diện. Bước three, xác định công thức tính toán và ngưỡng đánh giá. Bước bốn, kiểm định hệ thống chỉ tiêu bằng dữ liệu thực tế từ các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam để đảm bảo tính tin cậy và giá trị ứng dụng.

3.2. Nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập xử lý thông tin

Nguồn dữ liệu chính bao gồm báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Dữ liệu được thu thập từ các nguồn công khai: website của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch Chứng khoán và hệ thống công bố thông tin của các ngân hàng. Phương pháp xử lý dữ liệu sử dụng phần mềm thống kê để tính toán các chỉ tiêu, phân tích xu hướng và kiểm định giả thuyết. Dữ liệu được chuẩn hóa để đảm bảo tính so sánh giữa các ngân hàng có quy mô khác nhau. Thời kỳ nghiên cứu tập trung giai đoạn 2013-2018 để đánh giá biến động năng lực tài chính qua các năm.

IV. Kết luận và ứng dụng hệ thống chỉ tiêu tài chính ngân hàng

Nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu tài chính nhằm đánh giá năng lực tài chính các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam mang lại nhiều kết quả có giá trị. Hệ thống chỉ tiêu được xây dựng đáp ứng yêu cầu đánh giá toàn diện năng lực tài chính ngân hàng trên bốn khía cạnh: thanh khoản, an toàn vốn, hiệu quả hoạt động và tăng trưởng. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt đáng kể về năng lực tài chính giữa các ngân hàng thương mại cổ phần trong giai đoạn 2013-2018. Các ngân hàng lớn có lợi thế về quy mô vốn và mạng lưới hoạt động thường có chỉ tiêu tài chính ổn định hơn. Hệ thống chỉ tiêu này có tính ứng dụng cao trong thực tiễn quản trị ngân hàng, giám sát tài chính và đầu tư. Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng hệ thống chỉ tiêu để đánh giá sức khỏe hệ thống ngân hàng. Nhà đầu tư áp dụng để lựa chọn cổ phiếu ngân hàng có nền tảng tài chính vững chắc.

4.1. Kết quả nghiên cứu chính về năng lực tài chính ngân hàng

Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống chỉ tiêu tài chính có khả năng đánh giá và phân loại năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần. Nhóm chỉ tiêu an toàn vốn và thanh khoản có ý nghĩa quan trọng nhất trong đánh giá năng lực tài chính ngân hàng. Nghiên cứu phát hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động và chỉ tiêu tăng trưởng. Các ngân hàng có ROE và ROA cao thường duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định. Hệ thống chỉ tiêu giúp nhận diện ngân hàng có năng lực tài chính mạnh, ngân hàng có tiềm năng phát triển và ngân hàng cần cải thiện để đảm bảo an toàn hoạt động trong dài hạn.

4.2. Ứng dụng thực tiễn và kiến nghị phát triển hệ thống chỉ tiêu

Hệ thống chỉ tiêu tài chính có thể ứng dụng rộng rãi trong nhiều đối tượng sử dụng. Ngân hàng thương mại cổ phần áp dụng để tự đánh giá và cải thiện năng lực tài chính nội bộ. Cơ quan thanh tra giám sát sử dụng để đánh giá sức khỏe từng ngân hàng và toàn hệ thống. Nhà đầu tư tổ chức và cá nhân tham khảo để ra quyết định đầu tư vào cổ phiếu ngân hàng. Kiến nghị phát triển hệ thống chỉ tiêu bao gồm: bổ sung chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng chi tiết hơn, tích hợp chỉ tiêu phi tài chính như quản trị doanh nghiệp, cập nhật theo chuẩn Basel III và ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu lớn để nâng cao hiệu quả đánh giá năng lực tài chính ngân hàng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu tài chính nhằm đánh giá năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH VÀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Trong những năm gần đây, khi nền kinh tế thị trường đã và đang phát triển, cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới kéo dài đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế các nước. Song, để cung cấp những thông tin tài chính, giúp các nhà quản trị và các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá thực trạng tài chính trong các doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong nước cũng như các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới thường có các phương pháp tiếp cận khác nhau. Qua việc tìm hiểu và tham khảo các công trình nghiên cứu trước, có thể chia cách tiếp thành hai nhóm sau: Nhóm thứ nhất: gồm những công trình, các đề tài nghiên cứu sử dụng các chỉ tiêu tài chính thông thường trong phân tích tài chính doanh nghiệp hoặc các tổ chức tín dụng.

Các tác giả trình bày công thức xác định, nội dung và ý nghĩa kinh tế của các chỉ tiêu phân tài chính doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng, sau đó kiến nghị phương hướng hoàn thiện các chỉ tiêu đó. Nhóm thứ hai: gồm các công trình, các đề tài nghiên cứu sử dụng các chỉ tiêu tài chính của mô hình Camel trong đánh giá năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng và các ngân hàng thương mại. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu tài chính thông thường trong phân tích tài chính doanh nghiệp hoặc các tổ chức tín dụng Phân tích tài chính trong doanh nghiệp là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản trị, nhà đầu tư và đối tượng khác quan tâm. Ngoài ra, phân tích chỉ tiêu tài chính còn là một nội dung quan trọng để đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp.

Thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Trước hết, phải kể đến đề tài nghiên cứu cấp bộ của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước do tác giả Phạm Trọng Bình làm chủ nhiệm vào năm 2000. Phạm Trọng Bình (2000) đã đề xuất mô hình đánh giá tài chính của các doanh nghiệp niêm yết dựa trên cơ cở định mức tín nhiệm thông qua 2 nhóm chỉ tiêu định tính và định lượng. Trong các chỉ tiêu định lượng có 3 nhóm chỉ tiêu chính được xem xét đánh giá đó là khả năng thanh toán, cơ cấu tài chính và năng lực hoạt động.

Nhóm chỉ tiêu năng lực hoạt động thể hiện hiệu quả của doanh nghiệp trong việc sử dụng các nguồn lực kinh tế và khả năng đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, đây là nhóm chỉ tiêu rất quan trọng cần được phân tích 11 cụ thể khi đánh giá tài chính doanh nghiệp. Nhưng các chỉ tiêu phân tích tài chính trong nghiên cứu này chỉ được đưa ra như một nội dung quan trọng để xếp hạng và đánh giá mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp còn việc phân tích các chỉ tiêu, đánh giá, bình luận, nhận xét và tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng là không được đề cập. Tiếp theo đó, đã có các tác giả đi sâu vào việc hệ thống hoá cơ sở lý thuyết về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính sau đó đánh giá thực trạng và cuối cùng là hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các doanh nghiệp. Có thể kể đến các nghiên cứu sau: Nguyễn Thị Quyên (2011) khi nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần niêm yết nói riêng; phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính của công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Các chỉ tiêu phân tích tài chính được chia thành hai phân hệ với các nhóm cụ thể chi tiết như sau: - Phân hệ chỉ tiêu sử dụng để đánh giá khái quát tài chính: đánh giá khái quát mức độ độc lập vốn, khả năng sinh lợi, khả năng thanh toán. - Phân hệ chỉ tiêu sử dụng phân tích chuyên sâu tài chính: nhóm chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính, tình hình thanh toán và khả năng thanh toán theo thời gian, hiệu quả kinh doanh, rủi ro tài chính và dự báo chỉ tiêu tài chính, phân tích luồng tiền. Qua nghiên cứu thực tế, luận án thấy rằng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam chưa được xây dựng, công bố phù hợp. Các chỉ tiêu phân tích tài chính đã được đề cập trong nội dung công bố thông tin của bản cáo bạch và báo cáo thường niên, tuy nhiên chất lượng của hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính chưa cung cấp đủ thông tin cho các đối tượng sử dụng.

Do vậy, việc hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính của công ty cổ phần niêm yết là vấn đề cần được khắc phục, hoàn thiện hơn nữa. Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả đã đưa ra hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán ngoài các chỉ tiêu phân tích TCDN nói chung, bao gồm: lãi cơ bản trên cố phiếu (EPS), tỉ lệ cổ tức so với giá trị thị trường của cổ phiếu (DYR), tỉ lệ giá trên thu nhập của cổ phiếu (P/E), tỉ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách (P/B). 12 Cùng hướng nghiên cứu với tác giả Nguyễn Thị Quyên (2011), Nguyễn Thị Cẩm Thuý (2013) đã nghiên cứu để hoàn thiện phân tích tình hình tài chính của các công ty chứng khoán Việt Nam.

Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng phân tích tình hình tài chính tại các công ty chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 đến tháng 06/2012. Luận án giới hạn nghiên cứu thực trạng phân tích tình hình tài chính tại các công ty chứng khoán Việt Nam; trong đó tập trung vào các công ty chứng khoán trên 2 địa bàn chủ yếu là Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Với phần lý luận, nội dung phân tích tài chính của công ty chứng khoán mà tác giả đưa ra bao gồm: 1. Đánh giá khái quát tình hình tài chính: Đánh giá mức an toàn tài chính, Đánh giá khái quát tình hình huy động vốn, đánh giá khái quát mức độ độc lập tài chính, đánh giá khái quát khả năng thanh toán; 2.

Phân tích cấu trúc tài chính: phân tích cơ cấu nguồn vốn, phân tích cơ cấu tài sản, phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn; 3. Phân tích cân bằng tài chính; 4. Phân tích tình hình và khả năng thanh toán thời gian; 5. Phân tích hiệu quả kinh doanh: phân tích khả năng sinh lợi của tài sản, phân tích khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu; 6.

Phân tích rủi ro; 7. Phân tích vốn khả dụng; 8. Dự báo nhu cầu tài chính. Trong mỗi nội dung phân tích, tác giả trình bày tương đối đầy đủ công thức tính của các chỉ tiêu cụ thể.

Với phần thực trạng, tác giả đã đi sâu vào khảo sát thực trạng phân tích tình hình tài chính tại 30 công ty chứng khoán niêm yết trên hai Sở Giao dịch chứng khoán, đại diện cho mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh và mô hình công ty chứng khoán đa năng. Luận án cũng đánh giá được thực trạng phân tích tình hình tài chính của các công ty chứng khoán: Căn cứ vào thực trạng phân tích tình hình tài chính của các công ty chứng khoán được khảo sát để đưa ra những nhận xét, đánh giá, những ưu điểm, những tồn tại trên các mặt như tổ chức phân tích, phương pháp phân tích và nội dung phân tích. 13 Theo quan điểm của NCS, NHTMCP cũng là một doanh nghiệp cổ phần nên khi phân tích tài chính NHTMCP có thể kế thừa các quan điểm về mục tiêu, chỉ tiêu, phương pháp và phân tích tài chính đối với doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng. Tuy nhiên, NHTMCP có tính đặc thù về hoạt động kinh doanh (đối tượng kinh doanh, mức độ rủi ro, các loại hoạt động…) và đặc biệt hoạt động của nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế nên chịu sự giám sát, tuân theo quy định của cơ quan quản lý Nhà Nước.

Vì vậy, khi phân tích tài chính NHTMCP cần bổ sung thêm mục tiêu và nhiều nội dung đặc thù. Không chỉ có các nghiên cứu về doanh nghiệp hay công ty cổ phần, đã có nhiều tác giả trong nước nghiên cứu về phân tích tài chính của các ngân hàng thương mại. Nguyễn Năng Phúc (2011a) đã trình bày một nội dung nhỏ của phân tích tài chính trong các ngân hàng thương mại cổ phần. Trong bài báo, tác giả đã kiến nghị hệ thống chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng thương mại cổ phần như: Hệ thống chỉ tiêu phân tích cấu trúc tài chính; Hệ thống chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng trưởng về huy động và đầu tư vốn; Hệ thống chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán; Hệ thống chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi; Hệ thống chỉ tiêu phản ánh mức độ an toàn trong sử dụng vốn.

Bài báo này tuy có trình bày một cách khá đầy đủ và chi tiết hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính nhưng chỉ dưới dạng cơ sở lý thuyết còn không đi vào phân tích thực trạng cũng như sử dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng để nghiên cứu. Chính vì lý do đó, với tác giả luận án thì đây cũng là một định hướng tốt về mặt cơ sở lý luận cho tác giả vận dụng vào đề tài nghiên cứu của mình. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt đòi hỏi các lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp cần xây dựng cho mình một hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính riêng phù hợp với đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý. Hoàng Thị Thu Hường (2019) đã hoàn thiện nội dung phân tích tài chính các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam.

Nội dung phân tích tài chính trong các NHTMCP: gồm 8 nội dung phân tích là phân tích tình hình nguồn vốn, phân tích tình hình tài sản, phân tích tình hình đảm bảo an toàn vốn, phân tích khả năng thanh toán, phân tích tình hình kinh doanh, phân tích rủi ro tài chính, phân tích dòng tiền và phân tích tình hình cố phiếu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ