Tài liệu Chiến lược Kinh doanh Toàn cầu: Toàn cầu hóa, cạnh tranh (TS. Nguyễn Anh Minh)

Tài liệu học tập Chiến lược kinh doanh toàn cầu của TS Nguyễn Anh Minh. Cung cấp kiến thức chuyên sâu về quản trị, hoạch định chiến lược kinh doanh quốc tế

Trường đại học

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên ngành

Chiến lược kinh doanh toàn cầu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tài liệu đọc

2017

83
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về toàn cầu hóa trong chiến lược kinh doanh toàn cầu

Toàn cầu hóa là quá trình hội nhập giữa các quốc gia trên thế giới về kinh tế, văn hóa – xã hội, chính trị và nhiều lĩnh vực khác. Trong nền kinh tế toàn cầu, khoảng cách địa lý và biên giới quốc gia ngày càng mờ nhạt. Hàng hóa, dịch vụ, tiền tệ, con người và thông tin di chuyển tự do hơn bao giờ hết. Thương mại và đầu tư quốc tế tăng trưởng nhanh hơn sản xuất quốc tế. Doanh nghiệp hiển diện ngày càng nhiều ở thị trường nước ngoài. Một công ty có thể huy động vốn ở nước này, mua nguyên liệu ở nước khác, sản xuất ở nước thứ ba và bán sản phẩm ở nước thứ tư. Sở thích, thị hiếu người tiêu dùng trên thế giới có xu hướng hội tụ. Ngày càng nhiều sản phẩm chuẩn hóa mang cùng nhãn hiệu được bán trên phạm vi toàn cầu. Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ chung trong giao dịch kinh doanh quốc tế. Các phương tiện truyền thông và mạng xã hội kết nối mọi cá nhân trên khắp thế giới.

1.1. Khái niệm toàn cầu hóa và nền kinh tế toàn cầu

Toàn cầu hóa (globalization) là quá trình hội nhập sâu rộng giữa các quốc gia trên thế giới. Quá trình này bao gồm hội nhập về kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị. Trong đó, hội nhập kinh tế đóng vai trò then chốt. Nền kinh tế toàn cầu hình thành khi các nền kinh tế quốc gia liên hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng chặt chẽ. Sự phát triển của khoa học công nghệ trong thông tin liên lạc, viễn thông, giao thông vận tải thúc đẩy mạnh mẽ quá trình này. Kết quả là một thị trường toàn cầu thống nhất dần được hình thành.

1.2. Đặc trưng cơ bản của toàn cầu hóa thị trường

Toàn cầu hóa thị trường là quá trình hình thành thị trường toàn cầu thống nhất dựa trên sự hội tụ thị hiếu người tiêu dùng. Theodore Levitt năm 1983 mô tả sự phổ biến sản phẩm chuẩn hóa dưới tác động tiến bộ công nghệ. Kenichi Ohmae năm 1989 khẳng định sự xuất hiện thế giới 'không biên giới'. Các sản phẩm tiêu dùng, tư liệu sản xuất và dịch vụ đều chịu xu thế này. Nike và Sony là những hãng kinh doanh sản phẩm toàn cầu điển hình. Sản phẩm được tung ra khắp thị trường mà không cần điều chỉnh nhiều.

II. Phân tích môi trường cạnh tranh và rào cản gia nhập ngành

Môi trường cạnh tranh trong thế kỷ 21 chịu tác động mạnh mẽ từ toàn cầu hóa. Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter cung cấp框架 phân tích quan trọng. Rào cản gia nhập ngành là yếu tố đầu tiên cần xem xét. Chúng bao gồm lợi thế quy mô, sự khác biệt sản phẩm, nhu cầu vốn, chi phí chuyển đổi và khả năng tiếp cận kênh phân phối. Đối thủ mới tiềm năng phải đối mặt với chi phí cao khi thâm nhập thị trường. Họ cần đầu tư lớn vào sản xuất, marketing và hệ thống phân phối. Các chính sách hạn chế của chính phủ cũng tạo rào cản đáng kể. Thuế quan, hạn ngạch và quy định chống bán phá giá bảo vệ sản xuất trong nước. Nguy cơ cạnh tranh từ đối thủ mới thay đổi khi triển vọng ngành và rào cản gia nhập biến động. Rào cản thấp đồng nghĩa cạnh tranh khốc liệt hơn cho doanh nghiệp đương nhiệm.

2.1. Rào cản gia nhập ngành và ảnh hưởng đến cạnh tranh

Rào cản gia nhập ngành bao gồm nhiều yếu tố khác nhau. Lợi thế quy mô giúp doanh nghiệp lớn giảm chi phí đơn vị. Sự khác biệt sản phẩm tạo lợi thế cho thương hiệu đã có uy tín. Nhu cầu vốn đầu tư ban đầu lớn ngăn cản nhiều đối thủ mới. Chi phí chuyển đổi khiến khách hàng ngại thay đổi nhà cung cấp. Khả năng tiếp cận kênh phân phối cũng là thách thức lớn. Đối thủ mới thường phải cắt giảm giá để 'mua' đường vào kênh bán buôn, bán lẻ. Kết quả là lợi nhuận bị vắt kiệt cho đến khi sản phẩm được người tiêu dùng chấp thuận.

2.2. Vai trò của chính phủ trong bảo vệ ngành trong nước

Chính phủ các nước thường sử dụng nhiều công cụ để bảo vệ sản xuất trong nước. Thuế quan là biện pháp phổ biến nhất, tăng giá hàng nhập khẩu. Hạn ngạch giới hạn số lượng hàng hóa được nhập khẩu. Quy định chống bán phá giá ngăn chặn đối thủ nước ngoài bán phá giá. Yêu cầu nội địa hóa buộc doanh nghiệp nước ngoài sử dụng tỷ lệ nguyên liệu trong nước nhất định. Các ngành quy định như truyền hình cáp, viễn thông, điện lực chịu kiểm soát chặt chẽ hơn. Những chính sách này làm tăng chi phí đầu vào cho doanh nghiệp nước ngoài. Rào cản gia nhập vì vậy cao hơn đáng kể.

III. Chiến lược kinh doanh toàn cầu và xây dựng lợi thế cạnh tranh

Chiến lược kinh doanh toàn cầugiết kế để doanh nghiệp cạnh tranh hiệu quả trên thị trường quốc tế. Chiến lược chi phí thấp là một lựa chọn phổ biến. Doanh nghiệp tối ưu hóa toàn bộ chuỗi giá trị để giảm chi phí sản xuất và phân phối. Mua sắm toàn cầugiúp tận dụng sức mua lớn, đàm phán giá tốt hơn với nhà cung cấp. Đầu tư công nghệ tự động hóa tăng hiệu quả hoạt động tại các trung tâm phân phối. Quản lý kho hàng thông minh giảm tỷ lệ hao hụt hàng hóa. Đàm phán ưu đãi bất động sản giúp tiết kiệm chi phí mặt bằng. Quản lý lực lượng lao động hiệu quả tạo ra chi phí nhân công thấp hơn. Chiến lược khác biệt hóa tập trung tạo ra sản phẩm độc đáo, khó sao chép. Cả hai chiến lược đều đòi hỏi sự đầu tư bài bản và quản lý chuyên nghiệp.

3.1. Chiến lược chi phí thấp và chuỗi giá trị

Chiến lược chi phí thấp đòi hỏi tối ưu hóa mọi hoạt động trong chuỗi giá trị. Mua sắm toàn cầu giúp doanh nghiệp tận dụng sức mua, giảm chi phí nguyên liệu khoảng 2,5%. Đầu tư công nghệ tự động hóa tại trung tâm phân phối tạo lợi thế chi phí khoảng 4%. Tối ưu chủng loại sản phẩm tăng doanh thu, giảm chi phí khoảng 2%. Hệ thống an ninh, quản lý kho cắt giảm hao hụt khoảng 0,5%. Đàm phán ưu đãi bất động sản tiết kiệm khoảng 2%. Quản lý lao động hiệu quả giảm chi phí nhân công khoảng 5%. Tổng cộng, lợi thế chi phí có thể lên đến 22% so với đối thủ.

3.2. Điều kiện để chiến lược chi phí thấp thành công

Chiến lược chi phí thấp hấp dẫn nhất khi đáp ứng một số điều kiện quan trọng. Cạnh tranh về giá diễn ra mạnh mẽ giữa các đối thủ trong ngành. Sản phẩm được cung cấp bởi nhiều đối thủ khác nhau tương đối giống nhau. Khác biệt hóa khó thực hiện hoặc không mang lại giá trị cho người mua. Phần lớn người mua sử dụng sản phẩm theo cách tương tự nhau. Người mua chịu chi phí chuyển đổi thấp, dễ dàng thay đổi nhà cung cấp. Đối thủ cạnh tranh áp dụng chiến lược khác biệt hóa ít. Điều kiện thị trường như vậy cho phép doanh nghiệp chi phí thấp thu hút lượng lớn khách hàng nhạy cảm về giá.

IV. Bài học thực tiễn từ Walmart và ứng dụng cho doanh nghiệp

Walmart là minh chứng điển hình cho chiến lược chi phí thấp thành công. Hệ thống bán lẻ này xây dựng lợi thế cạnh tranh thông qua nhiều sáng kiến chuỗi giá trị. Mua sắm toàn cầu giúp Walmart đàm phán giá tốt với nhà cung cấp. Công nghệ tự động hóa tại trung tâm phân phối tăng hiệu quả hoạt động. Đội xe giao hàng hoạt động hiệu quả, giao hàng hàng ngày đến các cửa hàng. Hệ thống quản lý kho giảm tỷ lệ hao hụt hàng hóa. Đàm phán ưu đãi bất động sản tiết kiệm chi phí mặt bằng. Quản lý lực lượng lao động tạo ra chi phí nhân công thấp hơn đối thủ. Với lợi thế chi phí khoảng 22%, Walmart định giá thấp hơn và trở thành nhà bán lẻ siêu thị hàng đầu thế giới. Bài học từ Walmart áp dụng được cho doanh nghiệp toàn cầu hóa ở nhiều ngành khác nhau.

4.1. Case study Walmart Từ chi phí thấp đến dẫn đầu thị trường

Walmart xây dựng đế chế bán lẻ dựa trên chiến lược chi phí thấp triệt để. Hãng theo đuổi mua sắm toàn cầu, tập trung hầu hết hoạt động mua bán để tận dụng sức mua. Công nghệ tự động hóa tối tân được đầu tư tại các trung tâm phân phối. Đội xe giao hàng hoạt động hiệu quả, đảm bảo giao hàng hàng ngày đến cửa hàng. Hệ thống an ninh và quản lý kho giúp cắt giảm hao hụt hàng hóa. Walmart còn đàm phán ưu đãi bất động sản với các nhà phát triển. Quản lý và bồi thường lực lượng lao động tạo ra chi phí nhân công thấp hơn. Kết quả là lợi thế chi phí 22% so với các chuỗi siêu thị hàng đầu khác.

4.2. Ứng dụng chiến lược toàn cầu hóa cho doanh nghiệp Việt Nam

Doanh nghiệp Việt Nam rút ra nhiều bài học từ kinh nghiệm toàn cầu hóa thành công. Thứ nhất, cần xây dựng lợi thế cạnh tranh rõ ràng trước khi mở rộng ra thị trường quốc tế. Thứ hai, tối ưu hóa chuỗi giá trị từ khâu mua sắm nguyên liệu đến phân phối sản phẩm. Thứ ba, đầu tư công nghệ hiện đại để tăng năng suất và giảm chi phí. Thứ tư, hiểu biết sâu sắc về thị hiếu người tiêu dùng ở từng thị trường mục tiêu. Thứ năm, tận dụng lợi thế chi phí nhân công cạnh tranh nhưng phải đảm bảo chất lượng. Cuối cùng, xây dựng hệ thống quản lý chuyên nghiệp để vận hành hiệu quả trên nhiều thị trường.

28/05/2026
Tài liệu học tập môn chiến lược kinh doanh toàn cầu ts nguyễn anh minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TOÀN CẦU HÓA, LỢI THẾ CẠNH TRANH VÀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TOÀN CẦU CỦA DOANH NGHIỆP 1. TOÀN CẦU HÓA VÀ MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH TRONG THẾ KỶ 21 1. Kinh tế toàn cầu và quá trình toàn cầu hóa Chúng ta đang sống trong một thế giới, trong đó các nền kinh tế quốc gia ngày càng liên hệ phụ thuộc qua lại chặt chẽ với nhau hơn. Có thể nói sự hình thành nền kinh tế toàn cầu là kết quả của toàn cầu hóa (globalization) – quá trình hội nhập giữa các quốc gia trên thế giới về kinh tế, văn hóa – xã hội, chính trị và những lĩnh vực khác, trong đó hội nhập về kinh tế chiếm vị trí đặc biệt quan trọng.

Trong nền kinh tế toàn cầu, khoảng cách địa lý và biên giới quốc gia ngày càng trở nên mờ nhạt, hàng hóa, dịch vụ, tiền tệ, con người, kỹ năng, thông tin, ý tưởng di chuyển vượt qua biên giới các quốc gia ngày càng tự do hơn. Trong nền kinh tế toàn cầu ngày nay, thương mại và đầu tư quốc tế có sự tăng trưởng nhanh hơn so với sản xuất quốc tế. Các doanh nghiệp hiển diện ngày càng nhiều ở thị trường nước ngoài, sử dụng ngày càng nhiều nhân công và nguồn lực trên các thị trường đó. Một doanh nghiệp có thể huy động nguồn vốn đầu tư ở một nước, sử dụng nguồn vốn đó để mua nguyên vật liệu ở nước thứ hai, mua máy móc, thiết bị ở nước thứ ba, tổ chức sản xuất ở nước thứ tư, và bán sản phẩm làm ra ở nước thứ năm.

Sở thích, thị hiếu của người tiêu dùng trên thế giới ngày càng có xu hướng hội tụ. Ngày càng có nhiều sản phẩm chuẩn hóa, mang cùng nhãn hiệu được bán ở các cửa hàng giống nhau trên phạm vi toàn cầu. Chương trình TV về những sự kiện diễn ra ở một nơi nào đó trên thế giới có thể được phát sóng trên toàn thế giới. Tiếng Anh được coi là ngôn ngữ chung trong các giao dịch kinh doanh.

Mỗi cá nhân có thể kết nối với bất kỳ ai, ở bất kỳ ngõ ngách nào của thế giới thông qua các phương tiện như điện thoại di động, email, và các mạng xã hội như Facebook, Twitter… (xem Hình 1. Toàn cầu hóa thị trường Theodore Levitt (1983), đã mô tả sự hình thành một thị trường toàn cầu thống nhất, với sự phổ biến các sản phẩm chuẩn hóa dưới tác động của những tiến bộ khoa học công nghệ trong các lĩnh vực như thông tin liên lạc, viễn thông, giao thông vận tải và du lịch.1 Sau đó tư tưởng về toàn cầu hóa thị trường được Kenichi Ohmae (1989) khẳng định lại khi đề cập đến sự xuất hiện của một thế giới “không biên giới”, trong đó các sản phẩm chuẩn hóa được sản xuất để phục vụ tất cả các thị trường trên thế giới.2 Ngày nay, toàn cầu hóa thị trường được hiểu như là quá trình hình thành một thị trường toàn cầu thống nhất trên cơ sở có sự hội tụ thị hiếu của người tiêu dùng ở các thị trường khác nhau trên thế giới. Xu thế này diễn ra đối với nhiều sản phẩm tiêu dùng, tư liệu sản xuất và dịch vụ. Một số hãng như Nike (giày thể thao) và Sony (hàng điện tử) kinh doanh những sản phẩm toàn cầu – những sản phẩm được tung ra khắp các thị trường mà không cần có những thay đổi, hoặc chỉ với những thay đổi không đáng kể.

Tương tự, sản phẩm iPhone của Apple cũng được coi là sản phẩm toàn cầu vì có tính chuẩn hóa cao, được bán trên toàn cầu với cùng nhãn hiệu và chính sách marketing giống nhau. Toàn cầu hóa thị trường mang lại nhiều lợi ích đối với các doanh nghiệp. Thứ nhất, các doanh nghiệp kinh doanh những sản phẩm toàn cầu có thể thu được lợi ích về chi phí nhờ 1 Xem Theodore Levitt (1983), ‘The Globalization of Markets’, Harvard Business Review, May- June, 92-102. 2 Xem Kenichi Ohmae (1989), ‘Managing in a Borderless World’, Harvard Business Review, May-June, 152-61.

1 sản xuất hàng loạt sản phẩm giống nhau với quy mô lớn và chuẩn hóa các hoạt động marketing. Toàn Toàn cầu hóa thị cầu hóa sản trường xuất Toàn cầu hóa kinh tế Toàn cầu Toàn hóa các doanh cầu hóa tài nghiệp và các chính ngành Toàn cầu hóa công nghệ Hình 1.1 - Các cấp độ toàn cầu hóa kinh tế Thứ hai, các doanh nghiệp bán những sản phẩm toàn cầu có thể khai thác các cơ hội trên thị trường nước ngoài nếu thị trường trong nước nhỏ hẹp hoặc rơi vào tình trạng bão hòa. Thứ ba, các doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng phổ biến nhưng mang tính thời vụ có thể dựa vào việc bán hàng trên thị trường nước ngoài để ổn định dòng thu nhập của mình. Bất chấp xu hướng toàn cầu hóa thị trường, các doanh nghiệp vẫn cần cân nhắc việc thích ứng sản phẩm trên các thị trường nếu như điều đó mang lại lợi ích lớn hơn so với kinh doanh các sản phẩm chuẩn hóa.

Chẳng hạn, nhiều mặt hàng như đồ uống, đồ ăn nhanh được coi là những sản phẩm toàn cầu, nhưng đôi khi các doanh nghiệp phải có những điều chỉnh cần thiết để thích ứng tốt hơn thị hiếu của người tiêu dùng địa phương. Toàn cầu hóa sản xuất Do có sự di chuyển ngày càng tăng các yếu tố sản xuất, đặc biệt là vốn nên ngày càng có nhiều doanh nghiệp tìm cách tăng cường lợi thế cạnh tranh của mình bằng cách tập trung thực hiện một số hoạt động tạo giá trị, trong khi những hoạt động khác được dành cho các doanh nghiệp khác, có thể trong và ngoài ngành. Điều này dẫn đến xu thế toàn cầu hóa sản xuất – quá trình tiếp cận tới những nguồn cung cấp và phân tán những hoạt động tạo giá trị của doanh nghiệp tới những địa điểm khác nhau trên thế giới nhằm đạt mục tiêu giảm thiểu chi phí và/hoặc tối đa hóa chất lượng đối với một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó. Việc dựa vào các nguồn cung cấp và thực hiện các hoạt động tạo giá trị ở những địa điểm khác nhau trên thế giới cho phép doanh nghiệp có thể tiếp cận và khai thác có hiệu quả các yếu tố sản xuất (như vốn, lao động, đất đai, năng lượng, kỹ năng) ở những địa điểm thích hợp.

Các doanh nghiệp có thể thu được nhiều lợi ích từ quá trình toàn cầu hóa sản xuất. Thứ nhất, việc phân tán các hoạt động tạo giá trị trên phạm vi toàn cầu mang lại lợi ích về chi phí cho các doanh nghiệp nhờ tiếp cận được nguồn nhân công rẻ. Các doanh nghiệp thường thiết lập nhà máy tại những nước có mức lương thấp để sản xuất nhiều loại sản phẩm như đồ gia dụng, đồ chơi, hàng điện tử giá rẻ, dệt may. 2 Thứ hai, toàn cầu hóa sản xuất cho phép các doanh nghiệp có thể tiếp cận những nguồn lực mà trong nước không sẵn có hoặc với mức chi phí cao.

Thứ ba, toàn cầu hóa sản xuất mang lại lợi ích học hỏi cho các doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể khuyến khích và tạo điều kiện cho việc tích tụ kiến thức, kỹ năng, phương pháp kinh doanh, thông tin, và kinh nghiệm thông qua dòng chuyển giao con người và các yếu tố nói trên giữa các chi nhánh trên thị trường nước ngoài. Toàn cầu hóa tài chính Quá trình phi điều tiết, thực hiện tự do hóa dòng vốn tài chính, đặc biệt là đối với dịch vụ tài chính đã dẫn tới sự gia tăng đột biến dòng vốn lưu chuyển giữa các quốc gia. Quá trình toàn cầu hóa thị trường tài chính có tác động thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động đầu tư quốc tế và vận động của dòng vốn ngắn hạn.

Những người đi vay và cho vay tương tác với nhau trên một thị trường tài chính ngày càng thống nhất hơn. Ngày nay, thị trường tài chính nói chung, và thị trường vốn quốc tế nói riêng ngày càng được mở rộng nhờ có sự gia tăng nhanh chóng số lượng các công cụ nợ, cổ phiếu và các đồng tiền được trao đổi trên phạm vi quốc tế. Nếu như vào năm 1983, quy mô các khoản cho vay ngân hàng quốc tế mới chỉ đạt khoảng 1,8 nghìn tỷ USD, thì đến năm 1997 con số này là 5,7 nghìn tỷ, và đến năm 2013 tăng tới mức 32,6 nghìn tỷ USD. Từ 1997 đến tháng 9/2014 quy mô thị trường trái phiếu quốc tế tăng tương ứng từ 3,51 nghìn tỷ lên 22,32 nghìn tỷ USD.

Giá trị cổ phiếu quốc tế niêm yết trên toàn thế giới vào năm 1990 chỉ là 18 tỷ USD thì đến năm 2009 tăng lên đến 750 tỷ USD.3 Theo số liệu của Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS), khối lượng mua bán trung bình mỗi ngày trong tháng 4/2013 trên thị trường ngoại hối - thị trường tài chính có quy mô lớn nhất thế giới, đạt tới 5,34 nghìn tỷ USD (lớn hơn GDP của Nhật Bản trong cùng năm là 4,9 nghìn tỷ USD.4 Toàn cầu hóa công nghệ Toàn cầu hóa công nghệ là quá trình phổ biến nhanh chóng những thành quả khoa học công nghệ, hình thành mạng lưới quốc tế trong lĩnh vực công nghệ, sự hội tụ tiêu chuẩn công nghệ giữa các quốc gia trên thế giới. Các nước dẫn đầu về công nghệ là những địa điểm tốt nhất để tiếp tục cho ra đời những phát minh công nghệ mới nhất. Tuy nhiên, nếu như trước đây hầu như những phát minh, sáng chế chủ yếu mang tính đột phá, thì hiện nay chúng xuất hiện một cách đều đặn, thường xuyên. Điều này có nghĩa quá trình phổ biến công nghệ diễn ra một cách liên tục.

Các công ty toàn cầu thường dựa vào việc đổi mới công nghệ để củng cố, tăng cường các kỹ năng của mình. Như vậy, công nghệ vừa là kết quả, vừa là động lực thúc đẩy toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa các doanh nghiệp và các ngành công nghiệp Quá trình tự do hóa kinh tế trên phạm vi toàn cầu dẫn tới sự gia tăng nhanh chóng dòng vốn FDI, và sự tái phân bổ hoạt động của các doanh nghiệp chủ yếu diễn ra dưới hình thức đầu tư trực tiếp, thành lập liên minh chiến lược quốc tế, thực hiện thôn tính hoặc sáp nhập. Kết quả là sự phân đoạn quy trình sản xuất ngày càng gia tăng – các giai đoạn sản xuất khác nhau của một sản phẩm được thực hiện ở những địa điểm khác nhau trên thế giới.

Bên cạnh những lợi ích về chi phí, lợi ích học hỏi và những lợi ích khác gắn với toàn cầu hóa thị trường và toàn cầu hóa sản xuất đã đề cập ở trên, toàn cầu hóa còn tác động đến các 3 Bank for International Settlements (2014), “International banking and financial market developments”, BIS Quarterly Review, December 2014.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ