CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA THỐNG KÊ HỌC 1. Khái niệm về thống kê Trong thực tế chúng ta thường sử dụng thuật ngữ “thống kê” như để mô tả lại các công việc đã làm trong ngày, các số liệu đã có, các khoản thu, chi.Thuật ngữ này có thể hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất: Thống kê các số liệu đã được thu thập để phản ánh các hiện tượng kinh tế - xã hội, tự nhiên, kỹ thuật. Thứ hai: Thống kê là hệ thống lại quá trình được sử dụng để nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội, tự nhiên, kỹ thuật bao gồm các bước sau: - Thu thập và xử lý số liệu, điều tra chọn mẫu. - Nghiên cứu mối liên hệ giữa các hiện tượng.
- Nghiên cứu các hiện tượng trong hoàn cảnh không chắc chắn. - Ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn. Chúng ta quan sát ví dụ sau: Ví dụ 1. Kết quả chính thức điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2002 và kết quả sơ bộ khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2004 của Tổng cục Thống kê về tỷ l ệ hộ nghèo cho năm 2002 và 2004 theo chuẩn nghèo được Thủ tướng Chính phủ ban hành áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 (200 nghìn đồng/người/tháng cho khu vực nông thôn, 260 nghìn đồng/người/tháng cho khu vực thành thị) như sau: (ĐVT:%) Diễn giải Năm Năm 2002 2004 Số liệu ví dụ 1 cho thấy, tính chung cả nước tỷ Cả nước 23,0 18,1 lệ hộ nghèo đã giảm từ 23,0% năm 2002 còn Chia theo khu vực 18,1% năm 2004.
Thành thị 10,6 8,6 Vùng Đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng có tỷ lệ số nghèo giảm nhanh nhất, năm 2002 Nông thôn 26,9 21,2 là 18,2%, năm 2004 chỉ còn 12,9%. Chia theo vùng Vùng Tây Bắc tỷ lệ hộ nghèo cao nhất, năm Đồng bằng sông Hồng 18,2 12,9 2002 là 54,5%, năm 2004 có giảm nhưng chậm Đông Bắc 28,5 23,2 vẫn còn 46,1%. Tây Bắc 54,5 46,1 Vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ hộ nghèo ít nhất. Bắc Trung Bộ 37,1 29,4 Duyên hải Nam Trung Bộ 23,3 21,3 Tây Nguyên 43,7 29,2 Đông Nam Bộ 8,9 6,1 Đồng bằng sông Cửu 17,5 15,3 1 Từ ví dụ nêu trên chúng ta có nhận xét sau: - Các số liệu thể hiện trong bảng là các số liệu thống kê.
Các số liệu này thu thập được là dựa vào các tài liệu thống kê. - Tài liệu thống kê có được do kết quả tổng hợp của các cơ quan từ xã - huyện - tỉnh - toàn quốc bằng cách ghi chép quá trình diễn biến trong sản xuất, trong đời sống xã hội, văn hoá. và lập các báo cáo hàng năm. - Từ các tài liệu thống kê từng năm, ta có thể tính bình quân rồi so sánh giữa các giai đoạn thời gian khác nhau dựa vào số liệu của từng giai đoạn.
- Các số liệu thống kê cho phép đánh giá kết quả (bản chất) của các hiện tượng kinh tế xã hội của một đất nước ở từng năm và xu hướng phát triển của nó qua các năm (theo thời gian). - Các số liệu này cũng gợi mở cho người sử dụng nó các biện pháp thúc đẩy quá trình sản xuất tốt hơn hoặc dự kiến khả năng đạt được trong giai đoạn tới. Tóm lại: Tất cả các công việc từ theo dõi diễn biến các hiện tượng, ghi chép tài liệu – tổng hợp tài liệu ở phạm vi rộng, phân tích rút ra kết luận về bản chất, tính quy luật và đề ra các biện pháp chỉ đạo.là một quá trình nghiên cứu thống kê. Thống kê học là một hệ thống các phương pháp bao gồm thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và ra quyết định.
Thống kê được chia làm hai lĩnh vực: Thống kê mô tả: bao gồm các phương pháp thu thập số liệu, tính toán các đặc trưng đo lường, mô tả và trình bày số liệu. Thống kê suy diễn: bao gồm các phương pháp như ước lượng, kiểm định, phân tích mối liên hệ, dự đoán.Trên cơ sở các thông tin thu thập từ mẫu giúp ta có những hiểu biết về tổng thể. Một số khái niệm dùng trong thống kê 1. Tổng thể và đơn vị tổng thể a) Tổng thể Tổng thể là tập hợp các đơn vị (hay phần tử) cần được quan sát, thu thập và phân tích theo một hoặc một số đặc trưng nào đó.
Ví dụ, muốn tính chiều cao trung bình của sinh viên nam lớp X thì tổng thể sẽ là toàn bộ sinh viên nam lớp X. b) Đơn vị tổng thể Đơn vị cá biệt (hay phần tử) cấu thành nên tổng thể gọi là đơn vị tổng thể. Ví dụ, quay lại ví dụ trên đơn vị tổng thể chính là sinh viên nam. 2 c) Các loại tổng thể * Tổng thể bộc lộ: Tổng thể trong đó bao gồm các đơn vị (hay phân tử) mà ta có thể quan sát hoặc nhận biết trực tiếp được.
Ví dụ: Tổng số sinh viên của Trường đại học Sài Gòn năm học 2016-2017. * Tổng thể tiềm ẩn: Tổng thể trong đó bao gồm các đơn vị (hay phân tử) mà ta không thể quan sát hoặc nhận biết trực tiếp được. Ví dụ: Tổng số sinh viên yêu thích các hoạt động đoàn – hội. * Tổng thể đồng chất: Tổng thể trong đó bao gồm các đơn vị (hay phân tử) giống nhau ở một hay một số đặc điểm chủ yếu có liên quan đến mục đích nghiên cứu.
Ví dụ: Sản lượng lúa của Việt Nam năm 2015. * Tổng thể không đồng chất: Tổng thể trong đó bao gồm các đơn vị (hay phân tử) không giống nhau ở một hay một số đặc điểm chủ yếu có liên quan đến mục đích nghiên cứu. Ví dụ: Sản lượng các loại cây ăn quả hàng năm. * Tổng thể mẫu: Tổng thể bao gồm một số đơn vị được chọn ra từ tổng thể chung theo một phương pháp lấy mẫu nào đó.
Ví dụ: Số sinh viên được chọn tham dự Đại hội Đảng bộ Trường đại học Sài Gòn năm 2016 là 150 người. Mẫu Mẫu là một số đơn vị được chọn ra từ tổng thể theo một phương pháp lấy mẫu nào đó. Các đặc trưng của mẫu được sử dụng để suy rộng ra các đặc trưng của tổng thể. Biến (tiêu thức, tiêu chí) Biến là khái niệm dùng để chỉ đặc điểm của đơn vị tổng thể.
Ví dụ: nghiên cứu về cộng đồng người Hoa sinh sống tại Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh thì tổng thể chính là tập hợp tất cả các người Hoa đang sinh sống tại quận 5, ta có thể nghiên cứu trên các biến như sau: giới tính, độ tuổi, trình đô học vấn, nghề nghiệp, tôn giáo,. Biến được chia làm hai loại 3 Biến định tính (tiêu thức thuộc tính): là biến phản ánh tính chất hay loại hình của đơn vị tổng thể, không có biểu hiện trực tiếp bằng các con số. Ví dụ: giới tính nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, dân tộc, tôn giáo. Biến định lượng (tiêu thức định lượng): là biến có biểu hiện trực tiếp bằng con số.
Ví dụ: tuổi, chiều cao, trọng lượng con người,. o Biến định lượng rời rạc: là biến mà các giá trị có thể có của nó là hữu hạn hay vô hạn đếm được. Ví dụ: số công nhân trong một doanh nghiệp, số sản phẩm sản xuất trong ngày,. o Biến định lượng liên tục: là biến mà các giá trị có thể có của nó có thể lấp kín cả một khoảng trên trục số.
Ví dụ: trọng lượng, chiều cao của sinh viên,. Chỉ tiêu thống kê Chỉ tiêu là các con số phản ánh các đặc điểm, các tính chất cơ bản của tổng thể trong điều kiện thời gian và không gian xác định. Chỉ tiêu có thể chia thành hai loại: Chỉ tiêu khối lượng: là chỉ tiêu thể hiện qui mô của tổng thể. Ví dụ: tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam năm 2015 đạt 196,2912 tỷ đô, tổng số sinh viên trường đại học Sài Gòn, diện tích đất gieo trồng trên một vùng,.
Chỉ tiêu chất lượng: là chỉ tiêu biểu hiện tính chất mức độ phổ biến, mức độ tốt xấu, quan hệ so sánh trong tổng thể và quan hệ giữa các biến với nhau. Ví dụ: giá thành, hiệu quả sử dụng vốn, tiền lương công nhân, năng suất lao động,. Khái quát quá trình nghiên cứu thống kê 4 1. Thang đo định danh Thang đo định danh (thang đo danh nghĩa) là loại thang đo dùng cho các biến định tính.
Thang đo này dùng các mã số để phân loại các đối tượng và không mang ý nghĩa nào cả mà chỉ để lượng hoá các dữ liệu cần cho nghiên cứu. Người ta thường dùng các chữ số tự nhiên như 1, 2, 3, 4. để làm mã số và giữa các con số này không có quan hệ hơn kém. Thang đo thứ bậc Thang đo thứ bậc thường được sử dụng cho các bi ến định tính và đôi khi cũng áp dụng cho biến định lượng.
Trong thang đo này giữa các biểu hiện của biến có quan hệ bậc hơn kém tuy nhiên sự chêch lệch giữa các mức độ không nhất thiết phải bằng nhau. Đánh giá trình độ học vấn: 0. Đánh giá kinh nghiệm chuyên môn: 5 1. Thang đo khoảng Thang đo khoảng thường dùng cho biến định lượng và đôi khi cũng được áp dụng cho biến định tính.
Thang đo khoảng là thang đo thứ bậc có các khoảng cách đều nhau. Thang đo khoảng cho phép chúng ta đo lường một cách chính xác sự khác nhau giữa hai giá trị bất kì. Còn thang đo thứ thự thì không thể chỉ có thể nói giá trị này hơn giá trị khác. Thang đo tỷ lệ Thang đo tỷ lệ là loại thang đo dùng cho biến định lượng.
Thang đo tỷ l ệ có đầy đủ các đặc tính của thang đo khoảng tức là có thể áp dụng phép tính cộng trừ, ngoài ra nó còn có trị số 0 “thật”. Đây là loại thang đo cao nhất trong các loại thang đo. Trong nghiên cứu kinh tế, chúng ta áp dụng thang đo tỷ lệ cho nhiều loại dữ liệu dạng số thực như giá trị tổng sản phẩm nội địa, thu nhập, năng suất, sản lượng,. Phiếu điều tra tình hình chơi Game Online của thanh thiếu niên với các câu hỏi như sau: STT Biến Loại biến Thang đo Định tính Định Định Thứ bậc Khoảng Tỷ lệ lượng danh cách 1 Giới tính của bạn 2 Nghề nghiệp a.
Khác 3 Tuổi 4 Bạn có chơi game không? a. Không 5 Bạn chơi game ở đâu a.