CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐỀ ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐƯỢC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC Nông nghiệp là ngành ra đời sớm trong lịch sử, đặc biệt nó là ngành sản xuất vật chất cơ bản và quan trọng, khi nó sản xuất ra các sản phẩm tối cần thiết cho sự sống của con người, tạo điều kiện tiền đề cho sự ra đời và phát triển của các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; giữ vững an ninh, chính trị và ổn định xã hội. Vì vậy, có khá nhiều công trình nghiên cứu về nông nghiệp và phát triển nông nghiệp. Các công trình nghiên cứu liên quan đề tài luận án ở ngoài nước Ở nước ngoài có nhiều nghiên cứu về nông nghiệp và phát triển nông nghiệp bền vững. Các nghiên cứu đó cả về lý thuyết và thực tiễn, có thể tổng quan một số công trình của một số tác giả tiêu biểu trên một số phương diện sau: 1.
Nghiên cứu về phát triển nông nghiệp bền vững Nghiên cứu về phát triển nông nghiệp bền vững được thể hiện qua các nghiên cứu về phát triển bền vững. Tổ chức FAO, trong World Food Dry (1992) Food and Agriculture Organization, Rome, Italy đã xác định “Phát triển bền vững là sự quản lý và bảo vệ các nguồn lợi tự nhiên. Các thay đổi kinh tế và thể chế để đạt tới và thoả mãn được nhu cầu của con người cả ở hiện tại và tương lai. Phát triển bền vững không làm thoái hoá môi trường mà bảo vệ được tài nguyên đất, nước, các nguồn lợi di truyền động, thực vật, đồng thời phải thích ứng về kỹ thuật, có sức sống về kinh tế và được chấp nhận về xã hội”.
Harwood cho rằng, “nông nghiệp bền vững là một nền nông nghiệp, trong đó các hoạt động của các tổ chức kinh tế từ việc lập kế hoạch, thực hiện và quản lý các quá trình sản xuất, kinh doanh nông nghiệp đều hướng đến bảo vệ và phát huy lợi ích của con người và xã hội trên cơ sở duy trì và phát triển nguồn lực, tối thiểu hoá lãng phí để sản xuất một cách hiệu quả các sản phẩm nông nghiệp và hạn chế tác hại môi trường, trong khi duy trì và không ngừng nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp". Mục tiêu phát triển bền vững đóng vai trò chi phối phát triển kinh tế. và cộng sự (1991), tính bền vững toàn cầu được xác định như sau: tính bền vững biểu thị mối quan hệ giữa các hệ thống kinh tế của nhân loại biến đổi và tạo thành áp lực mạnh hơn, nhưng các hệ sinh thái biến đổi chậm hơn, trong đó cuộc 12 sống của nhân loại có thể tiếp tục trong một khoảng thời gian rất dài, nhân loại trở nên hưng thịnh; văn hoá và truyền thống nhân loại sẽ được bảo tồn và phát triển; Các tác động do hoạt động của con người duy trì trong khoảng giới hạn, không phá huỷ tính đa dạng, tính phức tạp và chức năng của hệ sinh thái. Hệ thống kinh tế được xem là một hệ thống mở và động trong giới hạn tổng thể của hệ sinh thái toàn cầu.
Cả hai đều có mối liên hệ giữa số lượng nguyên liệu và chất lượng đầu vào của các nguồn tài nguyên trong hệ sinh thái và với hoạt động kinh tế duy trì sản xuất hàng hoá và dịch vụ môi trường. Trong nội dung phát triển bền vững, đặc biệt ở khía cạnh không gian có vị trí đặc biệt quan trọng. Tầm quan trọng của các yếu tố không gian xuất phát từ mối quan hệ thuận nghịch: sự phát triển của địa phương tạo ra các tác động toàn cầu và các khuynh hướng toàn cầu dẫn tới gia tăng các tác động địa phương. Chuyển đổi mô hình đang diễn ra trong quan niệm về phát triển nông nghiệp trên thế giới, mô hình mới, chủ yếu dựa trên lĩnh vực xã hội học và nhân chủng học, đề cao kiến thức bản địa, khoa học của nông dân, tôn trọng mục tiêu và quan niệm của nông dân, hướng tới giảm tối đa sự phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào từ bên ngoài, tìm kiếm hệ thống canh tác tiết kiệm năng lượng, cố gắng kết hợp bảo tồn với phát triển sản xuất.
Ngay từ năm 1991, FAO và Chính phủ Hà Lan đã thông qua tuyên bố Den Bosch và chương trình hành động về phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững. Bản tuyên bố đó cũng đã bao gồm lời kêu gọi về những thay đổi và điều chỉnh cơ bản, một cách tiếp cận mới về phát triển nông nghiệp ở cấp quốc gia và tám chương trình hợp tác quốc tế để thực hiện các đề xuất đã nêu. Chương 14 trong chương trình nghị sự 21 đã nêu lên một số biện pháp làm cốt lõi cho chương trình SARD (Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững). Nông nghiệp bền vững như là một lựa chọn cấp tiến, tuy nhiên khái niệm này cần phải được định nghĩa hẹp hơn để nó mang ý nghĩa thực tiễn hơn.
Thực tế người ta quan tâm nhiều hơn tới việc bảo vệ và phát triển của các hệ thống bản địa có ý nghĩa về mặt sinh thái học, và sự liên kết các hệ thống này với các thị trường thế giới về việc công nhận chất lượng những sản phẩm của họ sản xuất. Theo UNDP (declaration, 1992), phát triển nông nghiệp còn được nhìn nhận dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật. Để tìm kiếm kỹ thuật cho các giải pháp nông nghiệp bền vững, các nhà phân tích đưa ra ba bộ nguyên tắc lớn hướng dẫn. Thứ nhất là sự loại bỏ các phương pháp sản xuất công nghiệp và tìm kiếm các hệ thống yếu tố đầu vào bên ngoài thấp, hiệu quả, năng suất và có tính kinh tế; Thứ hai là có sự tham gia nhiều hơn của chính những người nông dân vào việc sử dụng những hiểu biết về kiến 13 thức bản xứ trong quản lý nông nghiệp và sử dụng các nguồn lực tự nhiên; Thứ ba là yêu cầu có sự lồng ghép việc bảo tồn và tăng cường nguồn lực sản xuất.
Ba nguyên tắc "kỹ thuật" này dẫn đến các nguyên tắc thể chế cụ thể: đó là sự phát triển công nghệ, hợp tác, sự phát triển thể chế trong nước dưới sự kiểm soát của các nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác, và các cách tiếp cận đa ngành về công tác phát triển. Nguyên tắc của IPM là nhằm tối thiểu hoá việc sử dụng thuốc trừ sâu bằng việc gia tăng sự đa dạng, cải thiện sự cân bằng giữa các hình thức sinh sống trong một hệ thống canh tác. Nguyên tắc này nhấn mạnh tới các kỹ thuật canh tác như luân canh và gối vụ, trồng các loại cây có tác dụng phòng trừ sâu bệnh, sử dụng các hàng rào tự nhiên, các biện pháp phòng sâu bệnh, biện pháp trồng xen vụ, và một loạt các tập quán canh tác cụ thể để hạn chế môi trường sinh sống của sâu bệnh. Sự phát triển hệ thống kháng sâu bệnh - và hình thức nghiên cứu này đã đạt được những lợi ích to lớn.
Gần đây, trong bối cảnh ra đời của khái niệm phát triển bền vững của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), Ngân hàng phát triển Châu Á cũng nhấn mạnh khái niệm về nông nghiệp bền vững. Theo đó phải hiểu theo khả năng thích nghi trong không gian và tính linh động qua thời gian để đáp ứng các nhu cầu về ăn, mặc, ở, nhu cầu về bảo tồn đất đai và các nguồn tài nguyên nông nghiệp khác. Nhiều hoạt động khoa học liên quan đến nông nghiệp bền vững đã được thử nghiệm và thực thi trên phạm vi toàn thế giới. Điển hình là: Phong trào LEISA (Low External Input Sustainable Agriculture - nông nghiệp bền vững ít sử dụng vật tư từ bên ngoài hệ thống).
Đó là ý tưởng của một nhóm các nhà khoa học châu Âu khi trào lưu của cách mạng xanh đang phát triển mạnh mẽ, đã và đang bỏ quên những nông dân nghèo thiếu vật tư, tài chính và điều kiện về thủy lợi, làm cho đời sống của họ ngày càng khó khan, gây sức ép nặng nề đến môi trường nông thôn, dẫn đến huỷ hoại tính đa dạng sinh học trong nông nghiệp. Kỹ thuật LEISA giúp cho những nông dân nghèo chọn lựa phương pháp và kỹ thuật phù hợp trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên địa phương để tăng sản lượng và lợi tức một cách lâu bền mà không phá hoại môi trường. LEISA tạo nên sức mạnh cho nông dân và cả cộng đồng trong việc xây dựng cuộc sống no ấm bằng những tri thức, kỹ năng, giá trị văn hoá và thể chế của họ và điều quan trọng hơn là mọi người dân đều được tham gia và thể hiện sự công bằng về giới và cộng đồng trong hưởng thụ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Chương trình SARD (Sustainable Agriculture Research Development - phát 14 triển nông nghiệp nông thôn bền vững) do FAO đề xướng trong cuốn sổ tay huấn luyện, tập 1, chương trình có nội dung sau: Bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu về chất và lượng của thế hệ hiện tại và mai sau, đồng thời có thể cung cấp những nông sản khác; tạo việc làm ổn định, lợi tức vừa đủ và những điều kiện sống, làm việc thoải mái cho mọi người tham gia sản xuất nông nghiệp; duy trì và nếu có thể cải thiện tính năng sản xuất của các nguồn tài nguyên nói chung, đặc biệt là những nguồn tài nguyên tái tạo và cân bằng sinh thái; giảm thiểu các rủi ro do thiên tai hoặc do biến động thị trường cho khu vực nông nghiệp, giúp họ tự tin vào thực lực của chính mình.
Chủ trương của FAO (1995) đã chỉ rõ phát triển nông nghiệp và nông thôn chỉ được bền vững một khi phù hợp với sinh thái, có tính kinh tế, công bằng xã hội, phù hợp với văn hoá, nhân văn của địa phương. Nghiên cứu về phát triển nông nghiệp bền vững trong điều kiện CNH, HĐH tốc độ cao Không có điều kiện tiếp cận các công trình nghiên cứu trực diện về vấn đề này. Tuy nhiên, tác giả đã tiếp cận các công trình nghiên cứu các ngành phi nông nghiệp, coi đó như là các giải pháp hỗ trợ cho sự phát triển bền vững. Cụ thể: Heinrich Wohlmeyer và Theodor Quendler (Greenleaf 2002), trong “The WTO, Agriculture and Sustainable Development”, đã đề cập tới sự phát triển bền vững của nông nghiệp trong khuôn khổ thương mại quốc tế.
Những lợi thế so sánh trong các nền nông nghiệp của từng quốc gia cần phải được phát huy hiệu quả nhất để tạo lợi thế cạnh tranh, tăng giá trị hàng hóa nông nghiệp. Phân tích các lý thuyết về thương mại quốc tế.