Chương 1: Cơ sở lí luận về phát triển NLTƯNN cho GVMN đáp ứng yêu cầu cầu đổi mới giáo dục. Chương 2: Thực trạng phát triển NLTƯNN cho GVMN đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Chương 3: Biện pháp phát triển NLTƯNN cho GVMN đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THÍCH ỨNG NGHỀ NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN MẦM NON ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về năng lực thích ứng nghề nghiệp Xã hội càng phát triển với nhiều biến đổi khó lường trước càng đòi hỏi con người phải có năng năng lực thích ứng ở trình độ cao. Trên thế giới có khá nhiều nhà khoa học nghiên cứu về thích ứng nghề nghiệp ở các khía cạnh khác nhau: Theo Super và Knasel (1981), NLTƯNN là trạng thái sẵn sàng đối mặt với những thách thức công việc có thể được dự đoán bằng vai trò công việc hiện tại hoặc tương lai và để thích ứng với công việc không thể đoán trước hoặc những thay đổi trong môi trường làm việc [95]. Xađônôp (1983) cho rằng thích ứng là việc người lao động nắm bắt tri tức, kĩ năng, kĩ xảo lao động cần thiết và kĩ năng định hướng nhanh trong các tình huống cụ thể của lao động nghề nghiệp.
Các tác giả này cũng cho rằng thích ứng diễn ra qua nhiều giai đoạn và thích ứng nghề là giai đoạn cuối cùng của việc hướng nghiệp. Khi thế giới công việc thay đổi linh hoạt, B. Tác giả nhấn mạnh người lao động cần thích ứng với tâm lí nghề để họ sẵn sàng đương đầu với mọi thay đổi, không chỉ cung cấp cho họ tri thức nghề mà quan trọng là hình thành ở họ kĩ năng nghề. Cũng trên quan điểm về thế giới công việc thường xuyên thay đổi linh hoạt, Rottinghaus (2005) và cộng sự cho rằng, NLTƯNN là xu hướng mà mỗi cá nhân xây dựng và điều chỉnh kế hoạch nghề nghiệp của mình để đối mặt với những tình huống không biết trước trong hoạt động nghề nghiệp [87].
Shcheglova (2007) trong nghiên cứu về thích ứng nghề nghiệp của giáo viên phổ thông đã cho rằng, thích ứng của giáo viên với những giá trị xã hội thông tin là phương pháp độc đáo đòi hỏi tính tích cực trong giảng dạy. Công trình nghiên cứu của Shcheglova đã góp phần khẳng định sự thích ứng với những biến đổi xã hội, đặc biệt là thích ứng với biến đổi của CNTT là một đòi hỏi tất yếu của con người nói chung và của giáo viên nói riêng trong thế kỉ 21 [93]. Vogt và cộng sự (2009) trong nghiên cứu thích ứng nghề nghiệp tập trung vào nghiên cứu với thích ứng với hoạt động giảng dạy đã nhận định năng lực giảng dạy thích ứng cao của giáo viên có liên quan đến kết quả học tập cao hơn của học sinh. Năng lực thích ứng với giảng dạy bao gồm: kiến thức môn học, chẩn đoán, phương pháp giảng dạy và quản lý lớp học [99].
Các nhà tâm lý học đến từ 13 quốc gia (Hà Lan, Mỹ, Trung Quốc, Hồng Công, Nhật Bản, Brazin, Phần Lan, Ý, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ, Bỉ, Anh) đã nghiên cứu về khả năng thích ứng nghề và cùng nhau xây dựng một bộ công cụ đo lường khả năng thích ứng nghề. Theo các nhà khoa học này, thích ứng nghề nghiệp bao gồm 4 yếu tố: quan tâm, kiểm soát, tò mò và tự tin [81]. Rossier, Zecca, Stauffer, Maggiorri & Dauwalger( 2012), cho rằng NLTƯNN là sự sẵn sàng của cá nhân để đáp ứng với thay đổi cũng như các nguồn lực cho phép họ đối phó với sự thay đổi thông qua hoạch định, khám phá, hướng dẫn sự quyết định nghề nghiệp [86]. Cũng trong năm 2016, Guan khẳng định vai trò quan trọng của thích ứng nghề nghiệp.
Tác giả cho rằng những cá nhân có năng lực thích ứng nghề tốt sẽ có những đánh giá tích cực hơn về nghề nghiệp và sẽ có những cống hiến nhiều năng lượng hơn cho sự phát triển nghề nghiệp [67]. Thích ứng nghề giúp người lao động chủ động hơn trong việc tìm hiểu những thay đổi trong hoạt động nghề nghiệp và vì thế họ chủ động trong các tình huống liên quan đến sự thay đổi trong thực tế nghề nghiệp. Haibo (2018) cho rằng khả năng thích ứng nghề nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với định hướng nghề nghiệp. Tác giả cho rằng mức độ nhận dạng chuyên môn quyết định đến mức độ thích ứng nghề và quyết định đến sự thành công trong sự nghiệp [69].
Khi thế giới bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 thì vấn đề thích ứng nghề nghiệp lại được quan tâm nhiều hơn nữa bởi những ảnh hưởng to lớn của nó đến nghề nghiệp… Báo cáo Future of Jobs Report tháng 5 năm 2023 của World economic of rum trình bày về tương lai của công việc và cách người lao động cần phải thích ứng với các thay đổi trong nền kinh tế và công nghệ. Báo cáo chỉ ra rằng trong tương lai sẽ có sự ra đời của nhiều ngành nghề mới và các ngành nghề hiện tại cũng sẽ nhiều nhiều sự thay đổi trong bối cảnh phát triển của khoa học và công nghệ, do đó bên cạnh kỹ năng nghề nghiệp người lao động cần phải làm chủ công nghệ và trang bị các kỹ năng mềm để thích ứng một cách hiệu quả. Từ các nghiên cứu trên cho thấy, trên thế giới các tác giả tập trung nghiên cứu vào các hướng chính: Vai trò của thích ứng nghề nghiệp, thích ứng nghề nghiệp của giới trẻ (nguời mới làm việc) và thích ứng với những tình huống không lường trước trong hoạt động nghề nghiệp. Hầu hết các tác giả đều cho rằng: thích ứng nghề nghiệp liên quan đến sự thành công trong hoạt động nghề nghiệp, có mối liên hệ chặt chẽ với quá trình định hướng nghề và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố.
NLTƯNN là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ khi tiến hành các hoạt động nghề nghiệp. Năng lưc thích ứng nghề nghiệp bao gồm sự quan tâm, kiểm soát, tò mò và tự tin. 13 Nguyễn Văn Hộ (2000) với nhiều nghiên cứu về thích ứng nghề, đặc biệt là tác phẩm “Thích ứng sư phạm”, tác giả đã đưa ra khái niệm về thích ứng, thích ứng sư phạm, quá trình hình thành khả năng thích ứng tay nghề trong quá trình đào tạo cho sinh viên sư phạm. Bên cạnh đó, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp giúp sinh viên đại học thích ứng với nghề dạy học [28].
Lê Thị Minh Loan (2010) và cộng sự nghiên cứu về thích ứng nghề của sinh viên mới tốt nghiệp đại học cho rằng thích ứng nghề nghiệp là quá trình thích ứng hai mặt: một mặt, là sự thích ứng của người lao động với vị thế nghề nghiệp mới của mình, với các điều kiện, đòi hỏi của môi trường kĩ thuật, với bản thân hoạt động nghề nghiệp; mặt khác là sự thích ứng của họ với những đặc trưng nhân cách và nghề nghiệp [37]. Dương Thị Nga (2012) NLTƯ là một dạng năng lực đặc biệt, vừa có tính chất của một dạng năng lực chung, vừa mang những đặc điểm của năng lực chuyên biệt. NLTƯ bao hàm cả những thuộc tính chung về trí tuệ và nhân cách, đồng thời phải có những yếu tố phù hợp với sự thay đổi của một hoạt động chuyên biệt nhất định và NLTƯ được coi là năng lực quan trọng không thể thiếu giúp con người thích nghi với mọi hoàn cảnh, có khả năng cải tạo, sáng tạo hoàn cảnh và bản thân mình. NLTƯ có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều loại năng lực khác và là yếu tố thuận lợi để phát triển năng lực khác [39].
Nguyễn Đình Sảng (2015) đã nghiên cứu về năng lực thích ứng với của học viên các trường đại học quân sự [43] và Trần Thu Hương (2005) năng lực thích ứng với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học Công an nhân dân [34]. Các tác giả đã xây dựng được cấu trúc năng lực thích ứng với hoạt động nghề nghiệp, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng nghề nghiệp và các tiêu chí đánh giá thích ứng với hoạt động nghề nghiệp. Nguyễn Thị Như Hồng (2016) nghiên cứu biểu hiện của khả năng thích ứng nghề nghiệp ở sinh viên sư phạm Trường Đại học Quy Nhơn trong thực tập sư phạm ở 5 mặt biểu hiện: tâm thế nghề nghiệp; thích ứng với nội dung thực tập sư phạm; thích ứng với rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp; thích ứng với các điều kiện, phương tiện thực tập sư phạm; thích ứng với các mối quan hệ trong đợt thực tập sư phạm [31]. 14 Trần Thị Thùy Trang (2018) khả năng thích ứng nghề nghiệp của sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành kế toán trường đại học Công Nghiệp Hà Nội chỉ ra rằng mỗi ngành nghề đều có đặc thù riêng, đòi hỏi năng lực thích ứng khác nhau từ phía người lao động [48].
Nghiên cứu này tập trung phân tích mối quan hệ giữa sự hài lòng và khả năng thích ứng công việc của người lao động theo 3 yếu tố: kỹ năng, kiến thức, thái độ trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu của Super và Knasel (1981), Duffy và Blustein (2005). Kết quả nghiên cứu cho thấy, hai yếu tố là quản lý và thái độ của người lao (sinh viên tốt nghiên chuyên ngành kế toán Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội) có tác động đến sự hài lòng của đối tượng khảo sát, trong đó yếu tố quản lý có mức độ tác động lớn hơn yếu tố thái độ. Cũng trong năm 2018 tác giả Nguyễn Thị Kim Chi nghiên cứu về NLTƯNN chỉ ra rằng NLTƯNN là một khả năng quan trọng của mỗi cá nhân để có thể đối mặt với các thay đổi trong công việc, giúp cho mỗi người có thể tạo ra được các quyết định hợp lý và đạt được mục tiêu, kết quả mong muốn [21]. Như vậy, ở Việt Nam NLTƯNN được nghiên cứu muộn hơn song cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm góp phần hoàn thiện cơ sở lí luận về NLTƯNN.
Các nghiên cứu về NLTƯNN được các tác giả Việt Nam xem xét ở các góc độ: thích ứng trong quá trình đào tạo nghề của sinh viên; thích ứng trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của giáo viên (tiểu học; trung học cơ sở; trung học phổ thông; đại học); thích ứng trong hoạt động nghề nghiệp của người quản lí. Các nghiên cứu về năng lực thích ứng nghề nghiệp của giáo viên mầm non Ở các nước phát triển, GDMN phát triển từ rất sớm và nghề GVMN là một nghề đặc biệt. GVMN ở các nước phát triển là những chuyên gia trong giáo dục trẻ em, các tiêu chuẩn đối với GVMN rất khắt khe.