CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THÁI ĐỘ VỚI NGHỀ CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON 1. Các nghiên cứu về thái độ Thái độ (attitude) là một nội dung trọng yếu của Tâm lý học. Đầu thế kỷ XX, thái độ đã được các nhà tâm lý học quan tâm, nghiên cứu nghiêm túc và khoa học trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Gordon Allport (1935) cho rằng, thái độ là một khái niệm khá rộng, ông đánh giá thái độ là nội dung quan trọng nhất trong tâm lý học xã hội.
Thái độ được nhiều trường phái nghiên cứu trên lĩnh vực tâm lý học với nhiều hướng tiếp cận khác nhau [71]. Nghiên cứu thái độ như là một chức năng tâm lí cá nhân 1. Nghiên cứu thái độ như là một phạm trù chủ quan của cá nhân trong mối tượng tác xã hội và với bản thân Có thể coi nghiên cứu và định nghĩa của Gordon Allport về thái độ của cá nhân là một trong những nghiên cứu đầu tiên và có tính định hướng, khi ông cho rằng: Thái độ là một trạng thái sẵn sàng về tâm lí và thần kinh, có ảnh hưởng mang hướng dẫn hay động lực trong phản ứng của cá nhân đối với đối tượng và tình huống có liên quan [71]. Hầu hết các nhà nghiên cứu về thái độ đều muốn đưa ra một quan niệm riêng của mình về thái độ.
Vì vậy, có rất nhiều cách nhìn khác nhau về vấn đề này. Các nhà nghiên cứu như Stephen Worchel- Wayne Shebillsue [69], R. Feldman [23], nghiên cứu thái độ cá nhân với tư cách là sự cảm nhận của cá nhân do học được và tương đối ổn định, trong các quan hệ xã hội như quan hệ với cha/ mẹ; với bạn bè hoặc qua trải nghiệm. Thái độ có quan hệ mật thiết với nhận thức, hành vi, niềm tin, đức tin, sự đánh giá người khác v.v của cá nhân trong cuộc sống.
Gerrig và Philip G. Zimbardo, nghiên cứu thái độ với tư cách là sự đánh giá tích cực hay tiêu cực của cá nhân đối với con người, đối tượng hay ý tưởng [65]. Ông đặc biệt quan tâm tới mối quan hệ giữa thái độ với hành vi của cá nhân, cũng như định kiến và sự thay đổi định kiến với tư cách là sự thay đổi cá nhân trong điều kiện có sự thay đổi và bổ sung thông tin. Nicky Hayes, nghiên cứu thái độ như là 8 trạng thái sẵn sàng về tâm thế và thần kinh, có tính định hướng hay động lực đối với phản ứng của cá nhân.
Trong các nghiên cứu của mình, ông lưu ý phân biệt giữa thái độ với giá trị cũng như mối quan hệ giữa thái độ với hành vi của cá nhân [25]. Nghiên cứu về thái độ chủ quan của cá nhân được A. Lazuxki đề xuất khi nghiên cứu tính cách. Ông đã thể hiện rõ quan niệm về thái độ (chủ quan) của con người với môi trường trong những công trình nghiên cứu của mình.
Theo ông, thái độ của cá nhân đối với môi trường là khía cạnh quan trọng của nhân cách, bao gồm: giới tự nhiên; sản phẩm lao động và những cá nhân khác; các nhóm xã hội, những giá trị tinh thần như khoa học, nghệ thuật. Đặc biệt là thái độ của cá nhân đối với nghề nghiệp, với xã hội, với người khác, với lao động và với sở hữu. Ông coi các thái độ này là thái độ chủ đạo khi chúng ta định nghĩa và phân loại nhân cách. Dựa trên quan điểm của A.
Miaxisev đã xây dựng học thuyết về thái độ nhân cách. Ông cho rằng: “Thái độ dưới dạng chung nhất, là hệ thống trọn vẹn các mối liên hệ cá nhân và có chọn lọc, có ý thức của nhân cách qua các khía cạnh khác nhau của hiện thực khách quan. Hệ thống này xuất phát từ toàn bộ lịch sử phát triển con người và nó thể hiện kinh nghiệm cá nhân, quy định hành động và các thể nghiệm của cá nhân từ bên trong” [Theo 32]. Theo Miaxisev, sự hình thành hệ thống thái độ qua cơ chế chuyển dịch từ ngoài vào trong, thông qua việc tác động qua lại với những người khác trong những điều kiện xã hội cụ thể.
Theo ông, hệ thống thái độ nhân cách đã quyết định việc tri giác hiện thực khách quan, đặc điểm cảm xúc và sự phản ứng hành động đối với những tác động do bên ngoài. Trong học thuyết này, V. Miaxisev cũng đã đề cập đến việc phân loại thái độ thành hai loại: tích cực và tiêu cực (dương tính và âm tính). Các kinh nghiệm dương tính hay âm tính với người xung quanh chính là cơ sở hình thành hệ thống thái độ tương ứng bên trong của nhân cách [theo 32].
Tuy nhiên, học thuyết thái độ nhân cách của V. Miaxisev vẫn còn có những hạn chế: chưa làm rõ sự tác động qua lại giữa quan hệ xã hội với thái độ chủ quan của cá nhân và với hiện thực khách quan. Ngoài ra, ông cũng chưa phân biệt rõ thái độ với các quá trình tâm lý; các thuộc tính tâm lý như: tính cách, tình cảm, ý chí, nhu cầu, hứng thú, thị hiếu, sự đánh giá… Nhà tâm lý học người Nga, B.Lomov khi nghiên cứu thái độ chủ quan của cá nhân, đã nhấn mạnh: thái độ không chỉ là mối liên hệ khách quan của cá nhân với 9 thế giới xung quanh, mà nó còn bao hàm cả việc đánh giá, biểu hiện hứng thú của cá nhân [57]. Theo tác giả, khái niệm “Thái độ chủ quan của cá nhân” cũng gần giống như các khái niệm “tâm thế”, “ý cá nhân” và “thái độ”.
Tính chất và động thái của thái độ chủ quan được hình thành ở cá nhân này hay cá nhân khác, suy cho cùng phụ thuộc vào vị trí mà nó chiếm chỗ trong hệ thống các quan hệ xã hội và sự phát triển của nó trong hệ thống này. Lomov cho rằng, sự tham gia vào đời sống cộng đồng đã hình thành ở mỗi cá nhân các thái độ chủ quan nhất định và các thái độ chủ quan này có tính chất nhiều chiều, nhiều tầng và cơ động. Thái độ chủ quan phản ánh lập trường của cá nhân đối với hiện thực khách quan, nó có tính tương đối ổn định, nhưng có sự thay đổi. Thái độ chủ quan của cá nhân phải thay đổi khi vị trí xã hội của họ thay đổi.
Nếu không sẽ có thể phát sinh xung đột nội tâm cá nhân và xung đột giữa cá nhân với những người xung quanh. Theo Lomov, mâu thuẫn giữa thái độ chủ quan của cá nhân và vị trí xã hội khách quan của nó đòi hỏi phải đổi mới hoạt động và giao tiếp. Hay nói khác đi, thái độ chủ quan của cá nhân không chỉ bắt nguồn từ “nguyện vọng hay quyết định bên trong”. Để có sự thay đổi đó, cá nhân phải tích cực tham gia vào các quá trình xã hội khách quan.
Chỉ có như vậy mới bảo đảm sự phát triển của các thái độ chủ quan cá nhân và cả sự phù hợp của chúng với các xu hướng phát triển khách quan của nó [57]. Một cách tiếp cận khác trong các nghiên cứu về thái độ là học thuyết định vị của V.Iadov và thuyết tâm thế của D. Thái độ được hiểu như khái niệm tâm thế trong học thuyết của Uznatze. Theo ông, tâm thế là trạng thái trọn vẹn của chủ thể sẵn sàng tri giác các sự kiện và thực hiện các hành động theo hướng xác định.
Tâm thế là cơ sở của tính tích cực có chọn lọc và định hướng của chủ thể. Đó là trạng thái vô thức, nó xuất hiện khi có sự gặp gỡ của nhu cầu và được thỏa mãn nhu cầu, qui định tất cả biểu hiện của tâm lý và hành động của cá nhân, đồng thời giúp cá nhân thích ứng với điều kiện của môi trường. Như vậy, Uznatze đã giải thích hành động của con người bằng cái vô thức mà chưa tính đến các hình thức hoạt động tâm lý phức tạp và cao cấp khác của con người. Tuy nhiên, bằng cách này, ông đã đặt cơ sở cho khái niệm “Tâm thế xã hội”, giúp cho việc nghiên cứu một cách khách quan hơn về hiện tượng đó.
Một số nhà nghiên cứu quan tâm đến thái độ của cá nhân với tư cách là 10 những nhân tố cốt lõi của nhân cách cá nhân. Phạm Minh Hạc nhấn mạnh tới thái độ là một trạng thái tâm lí biểu hiện phản ánh tâm lí ưa thích hay ghét bỏ đối với sự kiện (xã hội), con người, vật thể, dựa trên cơ sở nhận thức, tình cảm, thang giá trị dẫn đến ứng xử [30]. Trần Trọng Thuỷ, Nguyễn Quang Uẩn nghiên cứu thái độ với tư cách là các cấu trúc của tính cách cá nhân và được thể hiện qua 4 mặt: thái độ đối với tập thể và xã hội; thái độ đối với lao động; thái độ đối với mọi người và thái độ đối với bản thân [64]. Tác giả Võ Thị Minh Chí (2004) trong bài viết về nghiên cứu thái độ trong nhân cách, đã xem xét thái độ như một thuộc tính tâm lý, một thành tố tích cực của ý thức cá thể và là mối quan hệ chủ quan với thế giới được phản ánh, được khách quan hóa bởi tâm vận động của con người.
Nên khi nghiên cứu về con người, về nhân cách chúng ta không thể không nghiên cứu về thái độ của họ [32]. Nhìn chung, trong tâm lí học, thái độ được xem là phạm trù chủ quan của cá nhân trong mối tương tác với ngoại giới hay đối với chính bản thân mình. Thái độ vừa có chức năng định hướng, hướng dẫn, vừa có chức năng động lực thúc đẩy cá nhân ứng xử trong các tính huống khác nhau của đời sống. Điều này được các nhà nghiên cứu chỉ ra trong quá trình xác lập cấu trúc và biểu hiện của thái độ.
Nghiên cứu chức năng của thái thái độ Đây là một trong những hướng tiếp cận trong các nghiên cứu về thái độ thường thấy ở Mỹ và một vài nước phương Tây. Các tác giả theo hướng nghiên cứu này gồm có W. Chính từ công trình nghiên cứu khởi đầu này mà trong những năm 30 của thế kỷ XX, các nghiên cứu về thái độ diễn ra mạnh mẽ như các nghiên cứu của R. Ngay từ những năm 1935, Allport đã cho rằng, thái độ có ý nghĩa quyết định việc chi phối hành động của con người: “Thái độ có thể được xem như là nguyên nhân hành động của người này đối với người khác hoặc một đối tượng khác, khái niệm thái độ còn giúp lý giải hành động kiên định của một người nào đó” [71].La Piere đã chứng minh sự không nhất quán giữa thái độ và hành động trong một nghiên cứu nổi tiếng của mình.
Sự phát hiện này của ông được gọi là “nghịch lý La Piere”.