Phần mở đầu 2. Chƣơng 1 : Tổng quan và cơ sở lí luận 3. Chƣơng 2 : Phƣơng pháp nghiên cứu 4. Chƣơng 3 : Kết quả khảo sát đánh giá 5.
Kết luận, kiến nghị và giải pháp 11 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN Trong chƣơng này, cơ sở để xây dựng đƣợc bộ tiêu chí đánh giá chất lƣợng giảng dạy của đội ngũ giáo viên THCS sẽ đƣợc trình bày theo từng vấn đề cụ thể về những quan điểm khác nhau của các tác giả trong nƣớc và trên thế giới về chất lƣợng giáo dục nói chung cũng nhƣ các quan niệm về giảng dạy có chất lƣợng; Những khái niệm về đánh giá chất lƣợng giáo dục, qui trình tiếp cận, công cụ đo cũng nhƣ việc sử dụng các kết quả đánh giá. Từ những khái niệm về đánh giá chất lƣợng nói chung, sẽ đi nghiên cứu thực tiễn đánh giá chất lƣợng giảng dạy của một số nƣớc điển hình trên thế giới và ở Việt Nam. Trên cơ sở đó sẽ rút ra những vấn đề cơ bản trong các nghiên cứu nhằm xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lƣợng giảng dạy của đội ngũ giáo viên các trƣờng THCS và từ đây sẽ cụ thể hoá các tiêu chí để xây dựng một bộ công cụ đo phù hợp. CÁC QUAN NIỆM VỀ CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC “Chất lượng giáo dục” là một khái niệm phức tạp, trừu tƣợng, mang tính đa diện, đa chiều.
Chất lƣợng giáo dục đƣợc định nghĩa rất khác nhau tuỳ theo từng thời điểm và giữa những ngƣời quan tâm: ngƣời học, giáo viên, ngƣời sử dụng lao động, các cơ quan quản lý; trong một số hoàn cảnh, nó còn phụ thuộc vào tình trạng phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nƣớc. “Chất lượng giáo dục” cũng là một khái niệm khó định nghĩa, thậm chí khó nắm bắt. Từ định nghĩa “Chất lượng giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu ” có thể xem chất lƣợng giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục. Mục tiêu giáo dục thể hiện những đòi hỏi của xã hội đối với con ngƣời, cấu thành nguồn lực mà giáo dục phải đào tạo.
Luis Eduarda đã đƣa ra mô hình đánh giá chất lƣợng giáo dục. Trong 12 mô hình này chất lƣợng giáo dục đƣợc xem nhƣ một hệ thống gồm các khía cạnh gắn kết với nhau : Sự phù hợp (Relevance); Hiệu quả (Effectiveness); Nguồn lực (Resources); Hiệu suất (Efficiency); Sự công hiệu (Efficacy); Quá trình (Process). Trong những khía cạnh trên thì sự phù hợp đóng vai trò chủ chốt quyết định đến chất lƣợng giáo dục. Chƣơng trình hành động về chất lƣợng giáo dục đại học UNESCO đã giải thích về sự phù hơp nhƣ sau: “Khả năng của hệ thống giáo dục và của các cơ sở Giáo dục và Đào tạo trong việc đáp ứng những nhu cầu đặt ra của cộng đồng, của địa phương hoặc của một đất nước, đó cũng là sự đáp ứng của giáo dục trước những yêu cầu của thế giới mới với tầm nhìn, công cụ và cách thức hành động đã và đang tiếp tục thay đổi ”.
Vấn đề sự phù hợp của hệ thống giáo dục và những ảnh hƣởng của nó đối với chất lƣợng giáo dục đã đƣợc các nhà giáo dục xem xét từ nhiều năm nay. Sự phù hợp của giáo dục là khía cạnh quan trọng nhất của chất lƣợng giáo dục, quyết định đầu vào (input), quá trình (process) và đầu ra (outcome) [1]. Các yếu tố tác động Đầu vào Quá trình Đầu ra Trong một nghiên cứu khá nổi tiếng của Harvey và Green nhằm tổng kết những quan niệm chung của các nhà giáo dục, chất lƣợng giáo dục đƣợc định nghĩa nhƣ tập hợp các thuộc tính khác nhau [25] thể hiện nhƣ sau: 13 - Chất lƣợng là sự xuất sắc (quality as excellence): - Chất lƣợng là sự hoàn hảo (quality as perfection); - Chất lƣợng là sự phù hợp với mục tiêu (quality as fitness for purpose); - Chất lƣợng là sự đáng giá với đồng tiền (quality as value for money); - Chất lƣợng là sự chuyển đổi về chất (quality as transformation). Peter Newby cho rằng quan niệm „„chất lƣợng là sự đạt đƣợc các mục tiêu‟‟ là các phát biểu cho việc trốn tránh nên bản chất thực của chất lƣợng.
Vì theo ông : „„Chất lƣợng giáo dục có đƣợc chính từ giáo dục. Và vì vậy, chất lƣợng không thể chỉ là đạt chuẩn mà chất lƣợng phải là vƣợt chuẩn‟‟. Chất lƣợng là một quá trình chứ không phải là chuẩn [8]. Seymour quan niệm „„Chất lƣợng là sự phù hợp hay sự đáp ứng vƣợt trội các nhu cầu của khách hàng‟‟ và „„Chất lƣợng nằm trong hệ thống của rất nhiều quá trình gồm các đầu vào, các quá trình đầu ra.
Khi trong hệ thống xảy ra sai sót thì chất lƣợng bị ảnh hƣởng‟‟ [8].Massy , đƣa ra bảy nguyên tắc của chất lƣợng giáo dục [9] cụ thể nhƣ sau : - Xác định chất lƣợng giáo dục theo sản phẩm đầu ra; - Tập trung chú ý vào quá trình dạy, học và đánh giá ngƣời học; - Sự cố gắng để thể hiện một cách hoàn chỉnh toàn diện chƣơng trình, các quá trình giáo dục và sự đánh giá; - Quá trình giáo dục toàn diện còn có ý nghĩa xem xét quy mô lớp học và các cơ hội phát triển thông qua lăng kính kinh nghiệm học tập của ngƣời học; - Làm việc hợp tác để đạt đƣợc sự tham gia hỗ trợ từ hai phía; - Đƣa ra những quyết định dựa vào các sự kiện, dựa trên các thông tin 14 hàng ngày về các hoạt động giáo dục; - Xác định và học hỏi từ các điển hình tốt nhất. Các nhà Giáo dục Việt Nam cũng đƣa ra một số định nghĩa khác nhau về chất lƣợng giáo dục, nhƣng các định nghĩa này thƣờng trùng với các định nghĩa của nƣớc ngoài. Nguyễn Đức Chính, có đƣa ra định nghĩa về chất lƣợng của Giáo dục Việt Nam nhƣ sau: “Chất lƣợng GD ĐH đƣợc đánh giá qua mức độ trùng khớp với mục tiêu định sẵn”. Định nghĩa này tƣơng đồng với quan niệm về chất lƣợng của hầu hết các tổ chức đảm bảo chất lƣợng trên thế giới [5].
Theo quan điểm của tiến sĩ Phạm Xuân Thanh: „„Ở các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á, những định nghĩa về chất lƣợng giáo dục đại học đƣợc chấp nhận gần nhƣ không có sự tranh cãi”. Theo Chƣơng trình Cải cách Giáo dục Đại học ở các nƣớc này , khái niệm chất lƣợng giáo dục đại học vẫn chƣa đƣợc xác định rõ ràng, mặc dù việc thực hiện đảm bảo chất lƣợng ở các nƣớc này hầu nhƣ theo nghĩa “chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu”. Tuy nhiên, sự phù hợp với mục tiêu đƣợc hiểu rất khác nhau giữa các quốc gia tuỳ theo đặc điểm văn hoá, hệ thống quản lý giáo dục và tình hình kinh tế xã hội của các nƣớc. Sự phù hợp với mục tiêu có thể bao gồm việc đáp ứng đòi hỏi của những ngƣời quan tâm nhƣ các nhà quản lý, nhà giáo hay các nhà nghiên cứu giáo dục đại học.
Sự phù hợp với mục tiêu còn bao gồm cả sự đáp ứng hay vƣợt qua các chuẩn mực đã đƣợc đặt ra trong giáo dục và đào tạo. Sự phù hợp với mục tiêu cũng đề cập đến những yêu cầu về sự hoàn thiện của đầu ra, hiệu quả của đầu tƣ. Mỗi một trƣờng đại học cần xác định nội dung của sự phù hợp với mục tiêu trên cơ sở bối cảnh cụ thể của nhà trƣờng tại thời điểm xác định mục tiêu đào tạo của mình. Sau đó chất lƣợng là vấn đề làm sao để đạt đƣợc các mục tiêu đó‟‟ [15].
15 Chất lƣợng giáo dục có thể đƣợc hiểu theo nghĩa tốt, xuất sắc (đào tạo đƣợc những học sinh xuất sắc), theo nghĩa hoàn chỉnh (không giảng dạy trái với những điều cần dạy), theo nghĩa phù hợp với mục tiêu (đáp ứng yêu cầu của xã hội, của ngƣời tuyển dụng, của ngƣời học), theo nghĩa đáng giá để đầu tư, theo nghĩa có giá trị gia tăng. Đối với các nƣớc đang phát triển nhƣ nƣớc ta thì khái niệm này còn có tính khuyến khích nhằm đạt đƣợc chất lƣợng trong từng giai đoạn nhất định. Mục tiêu giáo dục phổ thông của chúng ta là “giúp học sinh phổ thông phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con ngƣời Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tƣ cách và trách nhiệm công dân.” Nhƣ vậy, có thể xem chất lƣợng giáo dục của 4 thành phần cơ bản [18] - Yếu tố đầu vào của hệ thống giáo dục : + Các nguồn vật chất: Cơ sở vật chất của nhà trƣờng, sách giáo khoa, tài liệu học tập, thƣ viện, trang thiết bị v.v; + Con ngƣời tham gia giáo dục : Các nhà quản lí giáo dục, giáo viên, học sinh v.v; + Đầu tƣ về tài chính cho mỗi học sinh; tỉ lệ GDP dành cho giáo dục v. - Quá trình giáo dục của hệ thống: + Thời gian dành cho học tập; + Phƣơng pháp dạy học; + Tƣơng tác giữa giáo viên và học sinh; + Quy mô lớp học v.
- Kết quả giáo dục (Yếu tố đầu ra): + Những phẩm chất, giá trị của ngƣời học đƣợc đào tạo: kiến thức, kỹ năng v.v; 16 + Sự trƣởng thành của ngƣời dạy trong quá trình giáo dục… - Các yếu tố ảnh hƣởng : + Các điều kiện về kinh tế , văn hoá - xã hội; + Kiến thức về giáo dục cộng đồng, cơ sở hạ tầng, dân tộc, tôn giáo, + Nguồn lực dành cho giáo dục; + Sự mong đợi của công chúng. Từ những quan niệm về chất lƣợng giáo dục của các học giả trong và ngoài nƣớc, khi gắn với chất lƣợng giáo dục phổ thông nói chung và đặc biệt là đối với giáo dục ở bậc THCS nói riêng thì chất lƣợng giáo dục đƣợc quan niệm nhƣ là vấn đề sự phù hợp của hệ thống giáo dục và những ảnh hƣởng của nó đối với chất lƣợng giáo dục. Sự phù hợp của giáo dục là khía cạnh quan trọng nhất của chất lƣợng giáo dục, quyết định đầu vào (input), quá trình ( process) và đầu ra (outcome). Trong các hợp phần tạo thành chất lƣợng giáo dục, chúng ta thấy một trong những yếu tố hết sức quan trọng để tạo ra chất lƣợng của giáo dục đó chính là quá trình giáo dục.
Đối với giáo dục phổ thông quá trình giáo dục đƣợc cụ thể hoá là quá trình dạy và học. Trong quá trình dạy và học thì yếu tố ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng của quá trình đó là chất lƣợng giảng dạy của đội ngũ giáo viên. Vì vậy, thực trạng chất lƣợng giảng dạy của đội ngũ giáo viên ở phổ thông hiện cần phải đƣợc thƣờng xuyên đánh giá để điều chỉnh nhằm phù hợp với xu thế phát triển của xã hội.