Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Xác Suất Thống Kê Tại Trường Trung Học Phổ Thông

Chuyên khảo Dạy học xác suất thống kê ở trường trung học phổ thông với công nghệ t phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực y tế

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Lý luận và PPDH bộ môn Toán học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

223
21
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Tổng quan những công trình liên quan đến đề tài luận án

1.2. Công trình nghiên cứu liên quan đến lý thuyết kết nối

1.3. Những công trình nghiên cứu về dạy học Xác suất - Thống kê

1.4. Lý thuyết kết nối trong dạy và học

1.4.1. Cơ sở khoa học của lý thuyết kết nối trong dạy và học

1.4.2. Quan niệm về lý thuyết kết nối trong dạy và học

1.4.3. Một số khái niệm liên quan đến lý thuyết kết nối

1.4.4. Các dạng kết nối trong dạy và học

1.4.5. Quan hệ giữa lý thuyết kết nối với một số lý thuyết dạy học và những yêu cầu mới của giáo dục

1.4.6. Quan hệ giữa lý thuyết kết nối với một số lý thuyết dạy học

1.4.7. Những yêu cầu về giáo dục trong giai đoạn hiện nay

1.5. Sự tương đồng và hỗ trợ giữa phương pháp dạy học theo lý thuyết kết nối với một số phương pháp dạy học tích cực khác

1.5.1. Sự tương đồng và hỗ trợ giữa phương pháp dạy học theo lý thuyết kết nối với phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

1.5.2. Sự tương đồng và hỗ trợ giữa phương pháp dạy học theo lý thuyết kết nối với phương pháp dạy học khám phá

1.5.3. Sự tương đồng và hỗ trợ giữa phương pháp dạy học theo lý thuyết kết nối với phương pháp dạy học hợp tác

1.5.4. Sự tương đồng và hỗ trợ giữa phương pháp dạy học theo lý thuyết kết nối với phương pháp tự học

1.6. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC NỘI DUNG XÁC SUẤT - THỐNG KÊ Ở TRƯỜNG THPT THEO LÝ THUYẾT KẾT NỐI

2.1. Mục đích, yêu cầu dạy học Xác suất - Thống kê ở trường Trung học phổ thông

2.2. Tổ chức khảo sát tình hình dạy và học Xác suất - Thống kê ở trường Trung học phổ thông

2.2.1. Những vấn đề cần khảo sát

2.2.2. Đối tượng và thời gian khảo sát

2.2.3. Phương pháp thu thập và phân tích số liệu

2.2.4. Kết quả khảo sát

2.2.4.1. Kết quả khảo sát giáo viên về việc khai thác và sử dụng các nguồn học liệu, về việc tổ chức cho học sinh thực hành trải nghiệm
2.2.4.2. Kết quả khảo sát giáo viên về mức độ và khả năng sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học Xác suất Thống kê ở trường Trung học phổ thông
2.2.4.3. Kết quả khảo sát giáo viên về khả năng sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học Xác suất Thống kê ở trường Trung học phổ thông
2.2.4.4. Kết quả khảo sát về việc những hoạt động của giáo viên trong từng bước của tiến trình dạy học Xác suất - Thống kê ở trường Trung học phổ thông
2.2.4.5. Kết quả khảo sát giáo viên về việc sử dụng các mối liên hệ (kết nối) trong quá trình dạy học Xác suất Thống kê ở trường Trung học phổ thông
2.2.4.6. Kết quả khảo sát học sinh về nhu cầu học tập nội dung Xác suất - Thống kê ở trên lớp
2.2.4.7. Kết quả khảo sát học sinh về nhu cầu tự học nội dung Xác suất - Thống kê ở trường Trung học phổ thông
2.2.4.8. Kết quả khảo sát học sinh về khả năng sử dụng công nghệ thông tin

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ NỘI DUNG CÁC NÚT KẾT NỐI VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC XÁC SUẤT - THỐNG KÊ THEO LÝ THUYẾT KẾT NỐI VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

3.1. Phương pháp thiết kế nội dung các nút kết nối

3.1.1. Nút 1 - kết nối tri thức

3.1.2. Nút 2 - kết nối nguồn học liệu

3.1.3. Nút 3 - kết nối công cụ, phương tiện dạy học

3.1.4. Nút 4 - kết nối các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

3.1.5. Nút 5 - kết nối giữa người dạy, người học và những người khác

3.2. Phương pháp tổ chức dạy học

3.3. Phương pháp sử dụng nội dung các nút kết nối

3.4. Phương pháp dạy học theo lý thuyết kết nối

3.5. Ý nghĩa, tác dụng của dạy học theo lý thuyết kết nối và những điểm cần lưu ý

3.6. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

4.1. Mục đích, tổ chức thực nghiệm sư phạm

4.1.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm

4.1.2. Tổ chức thực nghiệm sư phạm

4.1.3. Giáo án thực nghiệm sư phạm

4.1.3.1. Giáo án thứ nhất: Xác suất của biến cố (tiết 30 - lý thuyết)
4.1.3.2. Giáo án thứ hai: Xác suất của biến cố (tiết 33 - bài tập)

4.1.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

4.2. Thực nghiệm sư phạm vòng 1 (Năm học 2017 - 2018)

4.3. Thực nghiệm sư phạm vòng 2 (Năm học 2018 - 2019)

4.4. Kết quả nghiên cứu trường hợp

4.4.1. Tổ chức nghiên cứu trường hợp

4.4.2. Kết quả quan sát quá trình thực hiện giáo án tự học của nhóm HS

4.4.3. Kết quả khảo sát bằng phiếu hỏi ý kiến HS sau quá trình thực hiện tự học

4.5. Kết luận chương 4

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về dạy học xác suất thống kê

Dạy học xác suất thống kê ở trường trung học phổ thông (THPT) là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục hiện nay. Mục tiêu chính là trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về xác suất và thống kê, giúp các em có khả năng áp dụng vào thực tiễn. Trong bối cảnh hiện đại, việc sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học đã trở thành một yếu tố không thể thiếu. Theo nghiên cứu, việc tích hợp CNTT không chỉ giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy mà còn tạo ra môi trường học tập tương tác hơn. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc phát triển các kỹ năng phân tích dữ liệu và giải quyết vấn đề cho học sinh.

1.1. Lý do chọn đề tài

Lý do chọn đề tài dạy học xác suất thống kê theo lý thuyết kết nối với sự hỗ trợ của CNTT xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Trong thời đại công nghệ phát triển nhanh chóng, việc học tập không còn giới hạn trong lớp học mà cần mở rộng ra ngoài, cho phép học sinh tiếp cận và sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Việc áp dụng lý thuyết kết nối giúp tạo ra mối liên hệ giữa các kiến thức đã học và thực tiễn, từ đó nâng cao khả năng tư duy và giải quyết vấn đề của học sinh.

1.2. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của nghiên cứu là đề xuất phương pháp thiết kế và tổ chức dạy học xác suất thống kê theo lý thuyết kết nối. Điều này không chỉ giúp học sinh hiểu sâu hơn về nội dung học mà còn phát triển các kỹ năng mềm như làm việc nhóm, giao tiếp và tư duy phản biện. Nghiên cứu cũng nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của phương pháp này trong thực tiễn giảng dạy tại các trường THPT.

II. Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của dạy học xác suất thống kê dựa trên lý thuyết kết nối và ứng dụng CNTT. Lý thuyết kết nối được Siemens khởi xướng vào năm 2004, nhấn mạnh việc học tập diễn ra qua các kết nối trong mạng lưới thông tin. Điều này có nghĩa là học sinh không chỉ học từ giáo viên mà còn từ các nguồn thông tin khác nhau, từ đó hình thành kiến thức một cách đa dạng và phong phú. Việc áp dụng lý thuyết này trong dạy học xác suất thống kê sẽ tạo ra một môi trường học tập tích cực, giúp học sinh phát triển năng lực phân tích và tổng hợp thông tin.

2.1. Các phương pháp dạy học hiện đại

Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, các phương pháp dạy học tích cực như dạy học hợp tác, dạy học khám phá và dạy học theo dự án đã được áp dụng rộng rãi. Những phương pháp này không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động mà còn khuyến khích sự sáng tạo và khả năng làm việc nhóm. Sự kết hợp giữa lý thuyết kết nối và các phương pháp dạy học hiện đại sẽ tạo ra một môi trường học tập phong phú và hiệu quả hơn.

2.2. Vai trò của công nghệ thông tin trong giáo dục

Công nghệ thông tin đã trở thành một phần quan trọng trong giáo dục, đặc biệt trong việc dạy học xác suất thống kê. CNTT không chỉ hỗ trợ việc truyền đạt kiến thức mà còn giúp học sinh thực hành và áp dụng các khái niệm vào thực tế thông qua các phần mềm mô phỏng và các công cụ phân tích dữ liệu. Việc sử dụng CNTT trong dạy học không chỉ làm tăng sự hứng thú của học sinh mà còn giúp các em phát triển các kỹ năng cần thiết cho thế kỷ 21.

III. Thực trạng dạy học xác suất thống kê ở trường THPT

Thực trạng dạy học xác suất thống kê ở các trường THPT hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần khắc phục. Đầu tiên, nhiều giáo viên chưa được đào tạo bài bản về việc sử dụng CNTT trong giảng dạy, dẫn đến việc áp dụng công nghệ chưa hiệu quả. Thứ hai, tài liệu học tập và phương tiện dạy học còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng dạy học. Cuối cùng, sự tương tác giữa giáo viên và học sinh trong quá trình học tập còn thiếu, khiến học sinh không phát huy được tối đa khả năng của mình.

3.1. Khảo sát tình hình dạy học

Khảo sát tình hình dạy học xác suất thống kê cho thấy rằng giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp truyền thống, ít có sự đổi mới trong cách tiếp cận. Học sinh thường gặp khó khăn trong việc hiểu và áp dụng các khái niệm xác suất và thống kê vào thực tiễn. Do đó, cần thiết phải có những thay đổi trong phương pháp dạy học để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

3.2. Nhu cầu cải tiến phương pháp dạy học

Nhu cầu cải tiến phương pháp dạy học xác suất thống kê là rất cấp thiết. Giáo viên cần được đào tạo về các phương pháp dạy học hiện đại và cách sử dụng CNTT trong giảng dạy. Đồng thời, cần có sự đầu tư vào tài liệu và công cụ hỗ trợ dạy học, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập của học sinh.

IV. Đề xuất phương pháp dạy học xác suất thống kê

Đề xuất phương pháp dạy học xác suất thống kê theo lý thuyết kết nối với sự hỗ trợ của CNTT bao gồm việc thiết kế các bài học kết nối kiến thức lý thuyết với thực tiễn. Các giáo viên cần xây dựng các hoạt động học tập đa dạng, khuyến khích học sinh tự khám phá và áp dụng kiến thức vào các tình huống thực tế. Việc sử dụng các phần mềm mô phỏng và công cụ phân tích dữ liệu sẽ giúp học sinh hình thành và phát triển các kỹ năng cần thiết.

4.1. Thiết kế nội dung bài học

Nội dung bài học cần được thiết kế dựa trên các nút kết nối giữa các khái niệm xác suất và thống kê với các lĩnh vực khác nhau. Giáo viên có thể sử dụng các ví dụ thực tế để minh họa cho các khái niệm, giúp học sinh dễ dàng hình dung và áp dụng vào cuộc sống. Việc này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về nội dung học mà còn kích thích sự tò mò và ham học hỏi.

4.2. Tổ chức hoạt động học tập

Tổ chức các hoạt động học tập theo nhóm, giúp học sinh trao đổi ý tưởng và cùng nhau giải quyết các bài toán thực tế. Việc làm này không chỉ giúp học sinh rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm mà còn phát triển khả năng giao tiếp và thuyết trình. Đồng thời, giáo viên cần tạo điều kiện để học sinh sử dụng CNTT trong quá trình học tập, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy.

23/12/2024
Luận án tiến sĩ dạy học xác suất thống kê ở trường trung học phổ thông theo lý thuyết kết nối với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan những công trình liên quan đến đề tài luận án 1. Công trình nghiên cứu liên quan đến lý thuyết kết nối 1. Ở nước ngoài Từ những năm 80 của thế kỷ XX, Vygotsky (1978) đã quan tâm đến sự kết nối kiến thức giữa vùng kiến thức đã có với tri thức mới cần đạt được của học sinh, trong lý thuyết về “Vùng phát triển gần” (Zone of Proximal Development) (Hình 1.

Sơ đồ về vùng phát triển gần của Vygotsky Năm 1999, Engeström, Yrjö; Miettinen, Reijo; Punamäki, Raija-Leena đã xuất bản cuốn sách trình bày toàn diện về lý thuyết hoạt động (được khởi xướng bởi Vygotsky, Leontiev và Luria), với năm phần, của các tác giả từ mười quốc gia. Trong đó, phần đầu tiên của cuốn sách thảo luận về các vấn đề thuộc về lý thuyết hoạt động, phần thứ hai dành cho việc tiếp thu và phát triển ngôn ngữ, phần thứ ba bàn về sự kết hợp giữa trò chơi với các hoạt động học luan an tập và giáo dục, phần thứ tư đề cập đến ý nghĩa của công nghệ mới trong sự phát triển của các hoạt động và phần cuối cùng bao gồm các vấn đề về kết nối tri thức và công nghệ. [75] Năm 2005, Siemens đã cho rằng: Lý thuyết kết nối là một lý thuyết học tập trong thời đại kỹ thuật số phát triển, khi học tập không còn là hoạt động mang tính cá nhân; phong cách làm việc và chức năng hoạt động của mọi người đã bị thay đổi do sử dụng các công cụ mới. Trong lĩnh vực giáo dục, người ta đã thấy được tác động của các công cụ học tập mới và những thay đổi về môi trường học tập.

Lý thuyết kết nối cung cấp cái nhìn sâu sắc về các kỹ năng học tập cho người học trong kỷ nguyên số. [120] Siemens (2006), đã phân loại lý thuyết kết nối dựa theo cách tổ chức cho người học hoạt động và khám phá kiến thức trong một hệ sinh thái học tập kiểu kết nối mạng. Sự phân loại bắt đầu từ cơ bản rồi chuyển sang phức tạp hơn. [122][123] Stephen Downes (2006) đã có bài viết về “Mạng lưới học tập và kết nối kiến thức”.

Mục đích của bài viết này là phác thảo một số suy nghĩ về công nghệ học tập điện tử mới, môi trường học tập và lý thuyết kết nối. Ông cho rằng kiến thức và việc học kiến thức không phải là cái để “chuyển giao” hoặc “giao dịch”, mà kiến thức nằm trong một mạng lưới các kết nối được hình thành từ kinh nghiệm và tương tác trong một cộng đồng hiểu biết; Người học là thành viên của hệ thống mạng, được trao quyền, được suy nghĩ và tương tác trong mạng lưới kết nối đó theo những cách riêng. Đó là một cách tiếp cận học tập dựa trên các cuộc trò chuyện và tương tác, chia sẻ, sáng tạo và tham gia; việc học tập không phải là một hoạt động riêng biệt mà được nhúng vào các hoạt động có ý nghĩa như trò chơi, dự án. [72] luan an Rita Kop, Adrian Hill (2008) cho rằng lý thuyết kết nối đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển triết lý giáo dục mới, nó giúp người học ngày càng tự chủ hơn trong việc tìm hiểu kiến thức.

[116] Luận án của Suzanne Darrow (2009) nghiên cứu về lý thuyết học tập kết nối của Siemens. Tác giả đã nghiên cứu các nền tảng, điểm mạnh và điểm yếu của lý thuyết kết nối và tổng hợp kết luận thành một cơ sở kiến thức về các ứng dụng thực tế trong lớp học công nghệ ở bậc đại học. Tác giả đã chỉ rằng: Lý thuyết kết nối giúp sinh viên có được một phong cách học tập tích cực, sử dụng mạng xã hội thông minh và khuyến khích sinh viên tạo ra chương trình học tập phù hợp với mỗi cá nhân; Lý thuyết kết nối mở ra một viễn cảnh lạc quan khi các cá nhân cùng tạo ra kiến thức trong một môi trường toàn cầu được kết nối mạng. [129] Năm 2010, nhóm tác giả Mohamed Amine Chatti, Matthias Jarke và Christoph đã đề cập đến khái niệm về mạng học tập và việc học qua mạng.

Nhóm tác giả đã giới thiệu cách tiếp cận LTKN của Siemens và sau đó cung cấp một tài khoản cho các độc giả để có thể thảo luận về quan điểm học tập qua mạng. Sau đó, nhóm tác giả trình bày về hệ sinh thái tri thức, được xem như một bối cảnh xã hội phản ánh bản chất phức tạp và phạm vi rộng của các tri thức, đối chiếu hệ sinh thái tri thức với các hình thái xã hội phổ biến. [107] Frances Bell (2011) đưa ra nghiên cứu về vị trí của lý thuyết kết nối trong các công trình đổi mới dựa trên công nghệ. Theo tác giả công nghệ có thể mang đến những cơ hội vàng nhưng có thể để lại một số kết quả không mong muốn.

Tuy nhiên chúng ta có thể học hỏi từ những sai lầm của mình và có thể tối đa hóa các cơ hội thuận lợi trong tương lai. (2011) đưa ra mô hình kết nối chủ đề - một mô hình mới nhằm giảm bớt những khó khăn trong học Toán. Ông chỉ ra các khía cạnh mà lý thuyết kết nối cùng với các kỹ thuật và phương pháp tiếp cận từ thực tiễn sẽ luan an giúp việc học đạt được hiệu quả hơn. Tác giả cung cấp một khung lý thuyết để hỗ trợ người học có cơ hội tiếp cận việc học Toán dựa trên sự kết nối thông tin với mạng lưới tri thức hiện có.

Tác giả cũng cho rằng mô hình kết nối cần được nghiên cứu nhiều hơn nữa. [96] Nghiên cứu của Mehmet Şahin (2012) đã chỉ ra ưu điểm của LTKN là sử dụng những nguồn học liệu có sẵn mà PPDH truyền thống khó có thể tận dụng được. Tác giả đã chỉ ra sự cần thiết phải nghiên cứu và vận dụng lý thuyết kết nối trong thời đại kỹ thuật số. [103] Stephen Downes (2012) khẳng định tầm quan trọng của các nguyên tắc trong LTKN của Siemens.

Trên cơ sở các nguyên tắc đó, ông cho rằng học tập theo LTKN là một quá trình hòa nhập vào môi trường, khám phá và giao tiếp. Học tập không phải là vấn đề chuyển giao kiến thức từ người dạy sang người học, mà là sản phẩm của chính người học trong quá trình lặp lại các hành vi sáng tạo, thực hành trong thực tiễn. [73] Snit Sitti, Saroch Sopeerak, Narong Sompong (2013) nghiên cứu khám phá mô hình giảng dạy dựa trên LTKN nhằm nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng thực hành nâng cao nhận thức, cải thiện hiệu quả học tập của sinh viên ở Thái Lan. (2013) mô tả một nghiên cứu về một lớp học trực tuyến mà họ đã tham gia.

Nghiên cứu này tập trung vào ứng dụng của LTKN trong thực tế. Các giả đã tổng quan về LTKN, ý nghĩa, ứng dụng của nó trong khóa học trực tuyến. Có thể xem khóa học này là một ví dụ về việc vận dụng LTKN trong học tập. GV trong các khóa học trực tuyến cần tạo cơ hội học tập nhiều hơn cho HS, cần tận dụng các công nghệ mới và sử dụng chúng theo những cách mới hơn là dạy theo kiểu truyền thống trực tuyến.

Ý nghĩa của kết nối trong học tập trực tuyến nói chung và luan an trong lớp học trực tuyến nói riêng là rất lớn và hy vọng có thể có nhiều khóa học mới, nhiều cách học mới vận dụng LTKN. [48] Denzil Chetty (2013) đã xác định các nguyên tắc cốt lõi của LTKN và trình bày những triển vọng của quá trình chuyển đổi sư phạm dựa vào công nghệ. Để làm như vậy, tác giả đề xuất thiết kế lại không gian học tập, trong đó việc học không còn là hoạt động mang tính cá nhân mà là một quá trình hoạt động để có được kiến thức thông qua việc kết nối thông tin giữa những người học. Tác giả đưa ra khung học tập theo LTKN gồm bốn yếu tố (như các nút kết nối): Người học, Nội dung học tập, Bối cảnh học tập, Công nghệ học tập.

[66] Trong công trình của Jaszczyszyn E. và Szada-Borzyszkowska J. (2014), các tác giả đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học theo LTKN qua sự so sánh cách học này với cách học nhờ sự hỗ trợ của CNTT và cách học truyền thống. Tác giả chỉ ra rằng, việc học theo LTKN sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình dạy và học.

(2015) đã nghiên cứu “Sử dụng LTKN trong việc đọc, viết thông tin với máy tính bảng”. Tác giả trình bày tổng quan về LTKN, mối quan hệ giữa LTKN với các nguồn thông tin về những tri thức liên quan và việc sử dụng máy tính bảng trong quá trình dạy và học. Tác giả cung cấp một số ví dụ về cách tiếp cận đó và đề xuất trong tương lai nên đi sâu hơn nữa vào mạng lưới học tập và sự kết nối giữa các tài nguyên nhờ sử dụng máy tính bảng. [55] Ann Hill Duin và Joseph Moses (2015) nghiên cứu về sự kết nối liên văn hóa thông qua mạng học tập cá nhân trên cơ sở vận dụng LTKN.

Các tác giả cho rằng học tập theo LTKN chuyển trọng tâm từ mối quan hệ giáo viên - học sinh, tác giả - khán giả sang mối quan hệ tri thức - kiến thức. Các tác giả đã trực quan hóa mạng cá nhân làm cho những mối quan hệ đó trở nên rõ ràng và dễ hiểu hơn bởi những người tham gia. Tác giả hy vọng các cộng đồng luan an truyền thông và kỹ thuật chuyên nghiệp sẽ tham gia khớp nối và khám phá các mối kết nối liên văn hóa tạo cơ hội thuận lợi cho việc học tập giữa các nền văn hóa khác nhau. [45] Nghiên cứu của Sigitas Daukilas, Judita Kasperiūnienė (2015) đã chỉ ra rằng: Trong các nghiên cứu quốc tế, vai trò của giáo viên và học sinh trong PPDH theo LTKN đã trở nên rõ ràng hơn và ngày càng có nhiều hơn những PPDH kiểu này.

Từ đó các tác giả đi đến kết luận rằng giả thuyết “Học sinh ngày càng hài lòng hơn với các PPDH theo các nguyên tắc đặc trưng của LTKN” phần nào đã được chứng minh. [127] Nhóm tác giả AlDahdouh Alaa A., Osório, António J. và Susana Caires (2015) đã có bài báo “Những điều cần biết về mạng lưới kiến thức, sự học tập và LTKN”. Trong đó các tác giả quan niệm: Mạng là tập hợp các nút và các mối quan hệ; nút là bất kỳ đối tượng nào có thể kết nối được; mối quan hệ là một liên kết giữa hai đối tượng.

Chẳng hạn hình 1.2 biểu diễn một mạng gồm bốn nút (A, B, C, D), chúng được kết nối bởi bốn mối quan hệ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Xác Suất Thống Kê Tại Trường Trung Học Phổ Thông của tác giả Vũ Hồng Linh, dưới sự hướng dẫn của TS. Bùi Văn Nghị và TS. Trịnh Thanh Hải, được thực hiện tại Đại học Thái Nguyên vào năm 2020. Bài viết tập trung vào việc áp dụng lý thuyết kết nối và công nghệ thông tin trong dạy học xác suất và thống kê cho học sinh trung học phổ thông. Nó không chỉ cung cấp những phương pháp giảng dạy hiệu quả mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tích hợp công nghệ trong giáo dục, giúp nâng cao chất lượng dạy và học.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực giáo dục và quản lý giáo dục, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ về quản lý giáo dục quốc tế cho học sinh THPT Hà Nội trong bối cảnh hiện nay, nơi đề cập đến các phương pháp quản lý giáo dục hiện đại, và Luận án tiến sĩ về phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh vùng Tây Bắc trong dạy học hóa học phi kim, cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc phát triển năng lực học sinh trong bối cảnh giáo dục hiện đại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có thêm nhiều góc nhìn và kiến thức bổ ích trong lĩnh vực giáo dục.