Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO GIÁO VIÊN 1. Các khái niệm liên quan 1. Giáo viên Theo Wiki, giáo viên hay nghề giáo viên (tiếng Anh: Teacher) được coi là người giảng dạy, giáo dục cho học sinh, lên kế hoạch, tiến hành các tiết dạy học, thực hành và phát triển các khóa học nằm trong chương trình giảng dạy của nhà trường đồng thời cũng là người kiểm tra, ra đề, chấm điểm thi cho học sinh để đánh giá chất lượng từng người. Theo Khoản 1, điều 66, Luật Giáo dục 2019, “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong cơ sở giáo dục.
Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là giáo viên” [17]. Theo đó, giáo viên là người trực tiếp tham gia trực tiếp vào quá trình giúp học sinh rèn luyện những kỹ năng cần thiết trong việc thực hành các kiến thức lý thuyết và rèn luyện cho học sinh về lễ nghĩa, sự lễ phép với người khác. Có thể thấy, nhà giáo là cách gọi chung của giáo viên và giảng viên, chỉ chung người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường. Giáo viên là người giảng dạy mầm non, tiểu học, cấp hai, cấp ba, trình độ sơ cấp và trung cấp; giảng viên là người giảng dạy từ trình độ cao đẳng trở lên.
Giáo viên thực hiện công việc truyền đạt cho học sinh kiến thức, kĩ năng, giáo dục về đạo đức lối sống cho học sinh. Giáo viên thực hiện công việc công việc trồng người cao cả. Do đó, giáo viên được coi là ngành nghề có vai trò quyết định đến sự phát triển của xã hội. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên còn là những người khởi xướng các hoạt động phong trào, các cuộc thi bổ ích giúp học sinh học hỏi, khám phá những điều mới mẻ.
Hiện nay giáo viên được phân theo các cấp: Giáo viên 9 dạy học ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo viên tiểu học, giáo viên giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp, trung cấp. Nhu cầu Nhu cầu là đối tượng nghiên cứu phổ biến của các ngành khoa học nghiên cứu xã hội và sinh học. “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.88] Theo định nghĩa của Trần Kim Dung (2011) “Nhu cầu là những đòi hỏi của cá nhân để tồn tại và phát triển, nhu cầu thường là những đòi hỏi đi từ thấp tới cao, nhu cầu có tính phong phú, đa dạng, thay đổi theo bối cảnh (cá nhân và xã hội…)” [3].
Theo Phạm Thúy Hương, nhu cầu được hiểu là sự không đầy đủ về vật chất hay tinh thần mà làm cho một số hệ quả (tức hệ quả của việc thực hiện nhu cầu) trở nên hấp dẫn [10, tr. Nhu cầu không được thỏa mãn sẽ tạo ra sự căng thẳng và sự căng thẳng thường kích thích những hành động bên trong các cá nhân. Những động cơ này tạo ra một cuộc tìm kiếm nhằm có được các mục tiêu cụ thể mà nếu đạt được, sẽ thỏa mãn nhu cầu này và dẫn đến giảm căng thẳng. Theo đó, ta có thể chia nhu cầu thành hai nhóm: nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần.
Tùy thuộc vào đặc điểm tâm sinh lý, mức độ nhận thức, môi trường sống và làm việc; mỗi người sẽ có những nhu cầu khác nhau, chi phối hoạt động của họ, thậm chí tác động mạnh mẽ tới đời sống tâm lý của họ. "Nhu cầu" là những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, như thức ăn, nước uống, chỗ ở, quần áo, phương tiện đi lại, y tế, giáo dục và các nhu cầu xã hội. Nhu cầu là những yêu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển mà mỗi con người cần phải đáp ứng để có một cuộc sống khỏe mạnh và trọn vẹn. Nhu cầu cơ bản bao gồm các nhu cầu sinh lý như thức ăn, nước uống và nơi ở cũng như 10 các nhu cầu tâm lý và cảm xúc như tình yêu, tình cảm và cảm giác thân thuộc.
Đáp ứng nhu cầu cơ bản của một người là điều cần thiết cho sức khỏe tổng thể, vì nó giúp giảm căng thẳng và cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần. Để tạo động lực lao động cho NLĐ, việc tìm hiểu, xác định đúng nhu cầu của họ là tiền đề để nhà quản trị có những biện pháp phù hợp giúp thỏa mãn nhu cầu của người lao động; từ đó đưa ra những chính sách tác động trực tiếp và gián tiếp đến người lao dộng để họ được làm việc trong môi trường thoải mái nhất, yên tâm làm việc, thỏa sức sáng tạo và cống hiến cho doanh nghiệp. Nếu nhu cầu của người lao động không được thỏa mãn sẽ tạo ra sự bất mãn, tiêu cực lâu dần sẽ dẫn đến những căng thẳng và chi phối hoạt động của cá nhân. Những động cơ tác động đến con người sẽ khiến họ tìm cách thỏa mãn nhu cầu và giảm căng thẳng.
Mỗi người là một cá thể khác nhau, do đó để làm thỏa mãn tất cả nhu cầu là việc rất khó mà chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu trong từng giai đoạn phát triển của con người. Thỏa mãn với những thành tích đã đạt được, hoàn thành mục tiêu, kế hoạch đã đặt ra. Động cơ Theo nghĩa rộng nhất, động cơ được định nghĩa là điều thúc đẩy con người hành động. Ngược lại, hành động đáp ứng nhu cầu sẽ thúc đẩy sự tích cực cũng như xu hướng và phương hướng của nó.
Hành vi được gây ra trực tiếp bởi động lực. Động cơ là có tác dụng chi phối và thúc đẩy con người suy nghĩ và hành động [15, tr. Từ đó, hành vi của họ bị ảnh hưởng và họ có động lực làm việc theo nhu cầu của bản thân, gia đình và người khác. Động cơ nghề nghiệp là những sở thích, giá trị và mục tiêu có ảnh hưởng và hướng dẫn sự lựa chọn cũng như hành động của một người nào đó trong sự nghiệp của họ.
Nó được phát triển thông qua quá trình tự khám phá và suy ngẫm, đồng thời có thể được định hình bởi nhiều yếu tố bên ngoài khác nhau, chẳng hạn như gia đình, văn hóa và môi trường kinh tế xã hội. 11 Động lực nghề nghiệp có thể mang lại cho một cá nhân ý thức về định hướng và mục đích trong công việc, thúc đẩy niềm đam mê và thúc đẩy họ thành công và thành công trong sự nghiệp. Bằng cách hiểu và khai thác động lực nghề nghiệp của mình, một cá nhân có thể định hướng hành trình nghề nghiệp của mình với mục đích, sự thỏa mãn và tác động lớn hơn. Động cơ lao động có một số đặc điểm sau: Động cơ không dễ nhận biết vì nó ẩn chứa sâu bên trong con người.
Dựa vào những biểu hiện ra bên ngoài, bộc lộ cảm xúc ta có thể phát hiện ra động cơ lao động. Song, cũng chính vì khó khăn để phát hiện nên kết quả đánh giá thường sai lệch, nhiều hạn chế do động cơ có thể không đồng nhất với hành vi bên ngoài. Mỗi người có một hệ thống nhu cầu khác nhau không ai giống ai, chịu tác động của các yếu tố ngoại cảnh và biến đổi theo thời gian. Bên cạnh đó, động cơ của con người đôi khi là hành động vô thức.
Từ những phân tích khái niệm động cơ ở trên ta có thể đưa ra kết luận rằng việc nhận biết động cơ, mong muốn của người lao động là rất quan trọng để ra quyết định quản trị, tối ưu hóa lợi ích cho tổ chức, doanh nghiệp. Động lực và động lực lao động Động lực “Động lực là sự khao khát, tự nguyện của cá nhân nhằm tăng cường sự nỗ lực của cá nhân để đạt được mục tiêu hay kết quả nào đó” [15, tr.134] Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về khoa học quản lý, tâm lý con người xuất hiện nhiều định nghĩa khác nhau về động lực. Trải qua thời gian định nghĩa về động lực cũng có những cách hiểu khác nhau. Động lực là sự khao khát, nỗ lực để đạt được mục tiêu của mỗi cá nhân và tổ chức.
Theo khái niệm trong vật lý, động lực được hiểu là sự tác động lên chủ thể đối tượng để tạo ra một sự biến đổi trong điều kiện nhất định. Còn động lực trong triết học được hiểu là sự thúc đẩy sự vật hiện tượng phát triển. 12 Theo Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân, “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức” [2, tr. Theo Phạm Thúy Hương (2019) “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao” [10, tr.
Động lực được biểu hiện qua sự say mê làm việc, nỗ lực để đạt được mục tiêu của bản thân người lao động nói riêng cũng như của tổ chức chung. Do đó, động lực đóng một vai trò quan trọng trong kết quả và hiệu quả làm việc của mỗi người. Năng lực làm việc bị ảnh hưởng bởi đào tạo, kinh nghiệm, giáo dục và thực hành. Động lực làm việc có thể được tăng lên nhanh chóng và nó phải được tiếp tục và duy trì thường xuyên so với năng lực làm việc.
Động lực lao động Trong mỗi quá trình lao động tại mỗi tổ chức đều xuất hiện động lực lao động. Một số khái niệm tạo động lực lao động cũng làm rõ được nhiều khía cạnh của tạo động lực. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của tác giả Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân (2012) thì “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [2, tr. Theo giáo trình Hành vi tổ chức của Bùi Anh Tuấn (2009): “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [19, tr. Động lực lao động là sự sẵn lòng của nhân viên trong việc tự nguyện đóng góp nỗ lực và lao động để đạt được các mục tiêu của tổ chức.