Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE NÂNG CAO NHAN THỨC CHÍNH TRI CUA DOI NGU GIAO VIÊN BAC TRUNG HOC Ở HUYỆN YEN SƠN 1. Một số khái niệm co bản 1. Khai niệm nhận thức chính trị Nhận thức (tiếng Anh: cognition) là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các qui frình như tri thức, sự chú ý, trí nhớ, sự đánh giá, sự ước lượng, sự lí luận, sự tính toán, việc giải quyết van dé, việc đưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử dụng ngôn ngữ. Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thé.
Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn. Sự nhận thức của con người vừa ý thức, vừa vô thức, vừa cụ thể, vừa trừu tượng và mang tính trực giác. Quá trình nhận thức sử dụng tri thức có sẵn và tạo ra tri thức mới. Cac gui trinh được phân tích theo các góc nhìn khác nhau ở tùy các lĩnh vực khác nhau như ngôn ngữ học, thần kinh học, tâm thần học, tâm lý học, giáo dục, triết học, nhân loại học, sinh học, logic và khoa học máy tính,.
Trong tâm lý học và triết học, khái niệm về nhận thức liên quan chặt chẽ đến các khái niệm trừu tượng như trí óc và trí tuệ, bao gồm các chức năng tâm thần, các quá trình tâm thần (tâm trí) và các trạng thái của các thực thể thông minh (như cá nhân, nhóm, tô chức, máy tự động cao cấp và trí tuệ nhân tạo). 1] Cách sử dụng khái niệm này khác nhau trong từng ngành học. Vi dụ như trong tâm lý học và khoa học nhận thức, "nhận thức" thường đề cập đến việc các chức năng tâm lý của một cá nhân xử lý thông tin. Nó còn được sử dụng trong một nhánh của tâm lý học xã hội - ý thức xã hội, dé giai thich vé những thai độ, sự phân loại va động luc nhóm.
Trong tam lý học nhận thức va kỹ thuật nhận thức, "nhận thức" thông thường được coi là quá trình xử lý thông tin của tâm trí người tham gia hay người điều hành hoặc của bộ não. Chính trị (tiéng Anh: Politics) là lĩnh vực thể hiện quan hệ giữa Các gi1a1 cấp, cũng như các dân tộc và các quốc gia VỚI van đề gianh, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào công việc của Nhà nước và xã hội, là hoạt động thực tiễn của giai cấp, các đảng phái chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối và những mục tiêu đã dé ra nhằm thỏa mãn lợi ích. Trước khi chính trị học ra đời với tư cách là một khoa học (political science) nghiên cứu chính trị như một chỉnh thể, có đối tượng, phương pháp, khái niệm, phạm tru., đã có rất nhiều các quan niệm, quan điểm, thậm chí là tư tưởng, học thuyết của các học giả khác nhau bàn về các khía cạnh của chính trị. Hiện nay, trên thế gidi, CÓ nhiều cách hiểu khác nhau về chính trị: Nghệ thuật của phép cai trị; Những công việc của chung; Sự thỏa hiệp và đồng thuận; Quyền lực và cách phân phối tài nguyên hay lợi ích.
Chính trị là nghệ thuật hay khoa học vận hành và quản lý xã hội bằng quyền lực Nhà nước nhưng nó phải bị hạn chế băng luật pháp và được giám sát bởi người dân thông qua các tô chức xã hội, nghề nghiệp, tôn giáo. Chính trị theo nghĩa rộng hơn là hoạt động của con người nhăm làm ra, gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung mà những luật lệ này tác động trực tiếp lên cuộc sông của những người góp phan làm ra, gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung đó. 12 Nhận thức chính trị là biêu hiện tong hợp cả pham chat và năng lực, thé hiện ở việc xử lý những diễn biến phức tạp trong thực tiễn đặt ra đúng với quan điểm, đường lối của giai cấp cầm quyền và kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhận thức chính trị thể hiện ngay ở hành vi, lỗi sống và quá trình thực hiện công việc được giao.
Nhận thức đó được hình thành trong quá trình học tập, làm việc và nó là sự kết tinh các phẩm chất tâm lý tích cực, tốt đẹp dé từ đó thé hiện ra ngoài bằng các hành động thé hiện sự kiên định, ý chí trung thành với “lý tưởng” mà mình đã tin và đã chọn. Nhận thức chính tri cao thể hiện ở sự vững vang của quan điểm, lập trường; ở sự “nhạy bén chính tri’, sự tôn trọng chuân mực “chân, thiện, mỹ” để ứng xử một cách đúng đắn, sáng tạo trong đời sống chính trị - xã hội. Khái niệm về giáo viên Đội ngũ Trong Từ điển Tiếng Việt, khái nệm “đội ngữ” được định nghĩa như sau: - Đội ngũ là một khối đông người được tập hợp và tổ chức thành lực lượng chiến đấu. Thí dụ: Các đơn vị đã chỉnh té đội ngũ.
- Đội ngũ là một tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặc một nghề nghiệp, thành một lực lượng. Thí dụ: Đội ngũ những người viết văn trẻ, đội ngũ nha giao. Như vậy, mặc dù có những định nghĩa khác nhau về đội ngũ nhưng các định nghĩa này đều thê hiện: Đội ngũ là một số đông người được tập hợp thành một lực lượng dé cùng thực hiện một hay nhiều chức năng; họ có thể cùng hoặc không cùng nghề nghiệp. Giáo viên Luật Giáo dục (năm 2005) Điều 70 quy định: Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác.
Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mam non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên. [49] 13 Như vậy, Giáo viên là người giảng dạy, giáo dục, lên kế hoạch, tiến hành các tiết dạy học, thực hành và phát triển các khóa học nằm trong chương trình giảng dạy của nhà trường đồng thời cũng là người kiểm tra, ra đề, chấm điểm thi cho học sinh để đánh gia chất lượng từng học trò. Giáo viên nam được gọi la /hẩy giáo, giáo viên nữ được gọi là cô giáo. Đội ngũ giáo viên Đội ngũ GV là tập hợp các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục.
Họ được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đề ra cho các cơ sở giáo dục. Đội ngũ GV là lực lượng tham gia trực tiếp vào quá trình giáo dục nhằm đào tạo những con người có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực đáp ứng được những yêu cầu của xã hội, bồi dưỡng và phát triển nhân tài cho đất nước. Họ gắn bó với nhau thông qua lợi ích vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật và thé chế xã hội. Hoạt động trong tâm của nhà trường là day học và giáo dục.
Dé phát triển toàn diện HS, đội ngũ GV là lực lượng trực tiếp thực hiện chương trình giáo dục của cấp học. Chất lượng giáo dục của HS phần lớn do đội ngũ GV quyết định. Do đó phát triển đội ngũ GV vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của nhà trường. Nhận thức chính trị cua giáo viên Ở Việt Nam hiện nay, nâng cao nhận thức chính trị có vai trò lớn nhằm thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Nâng cao nhận thức chính trị đang là yêu cầu hàng đầu trong việc nâng cao năng lực hoạt động và đạo đức công vụ của cán bộ, đảng viên, trong đó có đội ngũ giáo viên trung học. nâng cao nhận thức chính tri giúp cán bộ, dang viên dám nghĩ, dám làm, tận tụy phục vụ Nhà nước, nhân dân; tránh được các âm mưu “diễn biên”, các cám do tư lợi. 14 Hiện nay, Việt Nam đang đây mạnh sự nghiệp CNH, HĐH, mở rộng hội nhập quốc tế trong bối cảnh trong nước và thế giới có những thuận lợi, song khó khăn thách thức cũng rất lớn, nhiều vấn đề mới đặt ra cả lý luận và thực tiễn. Thực tiễn đòi hỏi phải không ngừng nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, trong đó có đội ngũ giáo viên.
Vì vậy, Nâng cao nhận thức chính trị cho đội ngũ giáo viên là nâng cao nhận thức về việc quán triệt thực hiện chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến ngành và bản thân đội ngũ giáo viên; nâng cao năng lực hoạt động và đạo đức công vụ của người giáo viên, giúp cán bộ, giáo viên dám nghĩ, dám làm, tận tụy phục vụ Nhà nước, nhân dân. Nâng cao nhận thức chính trị cho đội ngũ giáo viên chính là phản ánh sự biến đổi về nhận thức thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà giáo ở bậc trung học, hướng đến nâng cao toàn diện chất lượng đội ngũ giáo viên và chất lượng giáo dục, theo những yêu cầu mới, ngày càng cao của nghề nghiệp. Nâng cao nhận thức chính trị cho đội ngũ giáo viên trung học là một khâu quan trọng của toàn bộ công tác phát triển đội ngũ giáo viên của hệ thống giáo dục. Vị trí, vai trò của đội ngũ giáo viên bậc trung học ở huyện Yên Sơn Từ xưa đến nay, người thầy (thầy giáo, cô giáo) bao giờ cũng được xã hội tôn vinh và kính trọng.
Nghề giáo được coi là một trong những nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục. Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế, văn hóa. Người coi việc day học là một nghề đào luyện những thế hệ con người xây dựng xã hội.
Phát biểu tại Trường Đại học sư phạm Hà Nội (10 - 1964), Người nói: “Còn gì vẻ vang hơn nghề đảo tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ 15 nghĩa cộng san. Người thay giáo tốt, người thầy giáo xứng đáng là người thay vẻ vang nhất, dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương. Song những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh.