mở đầu, kết luận và khuyến nghị, Luận án gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên môn Giáo dục chính trị trƣờng trung cấp theo hƣớng chuẩn hóa. Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên môn Giáo dục chính trị trƣờng trung cấp hiện nay. Giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên môn giáo dục chính trị trƣờng trung cấp theo hƣớng chuẩn hóa.
Cùng các phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TRƢỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP THEO HƢỚNG CHUẨN HÓA VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Liên quan đến vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên (ĐNGV) môn Giáo dục chính trị (GDCT) trƣờng trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) theo hƣớng chuẩn hóa, các nghiên cứu đƣợc triển khai một cách hệ thống trên qui mô rộng trong nƣớc và ngoài nƣớc; có thể khái quát các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án thành hai nhóm: - Các nghiên cứu về ĐNGV và phát triển ĐNGV; - Nghiên cứu về giáo dục chính trị và ĐNGV môn học này ở trƣờng TCCN. Các nghiên cứu về giáo dục chính trị và phát triển ĐNGV môn học không ch đƣợc tổng quan các nghiên cứu trong nƣớc mà đã chú ý đến các nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế về phát triển ĐNGV của môn học có mục tiêu tƣợng tự nhƣ môn GDCT ở Việt Nam tại một số nƣớc trong khu vực và trên thế giới.
Các nghiên cứu về đội ngũ giáo viên và phát triển đội ngũ giáo viên Bàn về ngƣời thầy giáo XHCN, V. Lênin nhiều lần nhấn mạnh: “Chế độ xã hội chủ nghĩa phải thay đổi vị trí xã hội của người giáo viên, phải có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người thầy giáo thực hiện nhiệm vụ của họ” [61,tr.24]; từ đó ta có thể nhận thấy ví trí, vai trò ngƣời thầy trong xã hội XHCN luôn đƣợc đề cao và ở Việt Nam cũng vậy. Đánh giá vai trò, nhiệm vụ quan trọng của ngƣời giáo viên, báo cáo tổng kết của UNESCO cho rằng đã có sự thay đổi theo nhiều hƣớng nhƣng điển hình là: (1) Đảm nhận nhiều chức năng hơn, trách nhiệm nặng nề hơn trong lựa chọn nội dung dạy học và giáo dục; (2) Chuyển mạnh từ truyền thụ kiến thức sang việc tổ chức việc học cho học sinh, sử dụng nguồn tri thức của nhân loại. (3) thay đổi tính chất, quan hệ thầy trò; (4) Sử dụng rộng rãi hơn các phƣơng tiện dạy học.Cômenxki, một nhà giáo dục vĩ đại ngƣời Séc (Tiệp Khắc) là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân văn, là nhà hoạt động xã hội lớn của Tiệp Khắc trong những năm giữa thế k XVII [116] đã gọi ngƣời giáo viên là ngƣời chuyển giao ngọn đuốc của nền văn minh, là sợi dây chuyền giữa các thế hệ và coi chức vụ mà xã hội trao cho ngƣời giáo viên là chức vụ quang vinh mà dƣới ánh mặt trời này không có chức vụ nào ƣu việt cho bằng.
9 Về vị trí, tầm quan trọng của giáo viên: Raja Roy Singh - nguyên Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng cho rằng: Không một hệ thống giáo dục nào có thể vƣơn cao quá tầm những giáo viên làm việc cho nó [95]. Ông nhận định trong bối cảnh hiện nay, giáo viên phải coi ngƣời học có vai trò chủ đạo trong học tập. Chủ tịch Ủy ban Quốc tế về giáo dục thể ký XXI, nguyên Chủ tịch Hội đồng châu Âu (1985-1995), chuyên gia nổi tiếng của UNESCO, Jacques Delors [99] với hàng loạt khẳng định nêu rõ vai trò của ngƣời giáo viên và đội ngũ giáo viên, theo ông: Giáo viên giữ vai trò cốt tử trong việc chuẩn bị cho thể hệ trẻ không những đối mặt với tƣơng lai, với một niềm tin mà còn xây dựng tƣơng lai với quyết tâm và trách nhiệm, ông nhấn mạnh: Giáo viên đóng một vai trò quyết định trong việc hình thành và phát triển thái độ đối với việc học, cả thái độ tích cực lẫn thái độ tiêu cực. Họ còn khơi dậy sự ham hiểu biết, tính tự chủ, tinh thần nghiêm túc khoa học và đƣợc xem là nhƣ một tác nhân của sự thay đổi, thúc đẩy sự hiểu nhau và lòng khoan dung, trở lên sâu sắc hơn trong thế kỷ XXI.
Chính khách, nhà giáo dục và nguyên Tổng thống Argentina, Domingo Faustino Sarmiento - ngƣời đặt nền tảng cho hệ thống giáo dục Argentina cho rằng: giáo viên là những ngƣời làm việc tích cực nhất vì sự tiến bộ của dân tộc và đào tạo giáo viên là nhằm phục vụ lợi ích quốc gia [103]. Về giáo viên và quyền lực của giáo viên, quan điểm của Emile Durkheim (Nhà tƣ tƣởng giáo dục ngƣời Pháp) cho rằng: giáo viên phải tự chủ đƣợc những hành vi bạo lực vốn có trong mối quan hệ giữa học sinh và giáo viên, và rằng giáo viên phải là ngƣời chú ý đến tất cả những điều có thể tạo ra cho trẻ em cảm giác đoàn kết trong một tập thể [103]. Về “Đào tạo giáo viên” của Dimitri Glinos – Triết gia, chính khách, nhà cải cách giáo dục Hy Lạp luôn quan tâm đến hai lĩnh vực quan trọng là đào tạo giáo viên và sách giáo khoa. Ông mong muốn xây dựng nên hình ảnh điển hình của những ngƣời giáo viên dƣợc đào tạo cơ bản, có một vai trò sáng tạo trong hệ thống trƣờng học [103,tr.
Nhà giáo dục và học giả Nhật Bản, Fukuzawa [103], cho rằng: Thƣợng đế không sinh ra ngƣời này hơn hoặc kém ngƣời kia. Mọi sự bất bình đẳng giữa ngƣời khôn ngoan với ngƣời ngu ngốc, giữa ngƣời giầu với ngƣời nghèo đếu xuất phát từ giáo dục. Pete Hall and Alisa Simeral, các tác giả của cuốn sách “Building Teachers' Capacity for Success” [112] (tạm dịch là Xây dựng năng lực cho giáo viên để thành công) đã cho thấy trong giáo dục giáo viên là sức mạnh quan trọng nhất. Qua đó, các 10 tác giả đã cung cấp một kế hoạch đơn giản giúp giáo viên hình thành năng lực: tạo dựng sự hợp tác, gắn kết về chuyên môn để mang lại kết quả cao hơn cho học sinh.
Từ việc nghiên cứu hoạt động của giáo viên, tác giả Robert J.Marzano trong cuốn sách “What Works in Schools” [113] (tạm dịch là: “Làm gì trong trƣờng học”) đã xác định các việc gì mà giáo viên cần phải làm trong trƣờng học và khẳng định rằng: giáo viên là ngƣời có ảnh hƣởng mạnh mẽ nhất đến thành tích, kết quả học tập của học sinh; qua đó, tác giả còn cung cấp cho bạn đọc các hành động cụ thể và khả thi của ngƣời giáo viên nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo. Trong cuốn sách “The Art and Science of Teaching” (tạm dịch là: “Nghệ thuật và khoa học giảng dạy”), tác giả Robert J.Marzano đã cho thấy mặc dù chiến lƣợc, kế hoạch giảng dạy trên lớp đƣợc nghiên cứu, xây dựng một cách rõ ràng, khoa học nhƣng với ngƣời biết sử dụng chúng mới là một nghệ thuật, mà ch ngƣời giáo viên mới làm đƣợc điều này [114]. Theo đó, tác giả cũng trình bày một mô hình đảm bảo chất lƣợng giảng dạy để cân bằng với sự cần thiết của dữ liệu dựa trên nghiên cứu với sự cần thiết không kém quan trọng để hiểu đƣợc điểm mạnh, điểm yếu của từng học sinh với hệ thống 10 câu hỏi nhằm thiết kế giảng dạy thành công. Về chất lượng nhà giáo, Tác giả Nguyễn Văn Cƣờng nêu: Tổ chức Hợp tác Phát triển châu Âu nhận định gồm 5 nội dung: 1/ Kiến thức phong phú về phạm vi chƣơng trình và nội dung bộ môn giảng dạy; 2/ Kỹ năng sƣ phạm, kể cả việc có đƣợc „kho kiến thức‟ về phƣơng pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phƣơng pháp đó; 3/ Có tƣ duy phản ánh trƣớc mỗi vấn đề và có năng lực tự phê bình, nét rất đặc trƣng của nghề dạy học; 4/ Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của ngƣời khác; 5/ Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học [24].
Những năm qua, các tổ chức giáo dục quốc tế và các nhà khoa học của mỗi nƣớc trong quá trình nghiên cứu luôn coi trọng vị trí, vai trò, chất lƣợng, phẩm chất của giáo viên nói riêng và ĐNGV nói chung và dần đi đến thống nhất những tiêu chí chuẩn hóa ĐNGV, cùng những giải pháp, kinh nghiệm về quản lý, phát triển ĐNGV đáp ứng cải cách giáo dục và đào tạo, cung ứng nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mội quốc gia và toàn nhân loại. Các nghiên cứu về phát triển ĐNGV với tƣ cách là yếu tố quyết định đến chất lƣợng giáo dục: Nhiều nghiên cứu trong nƣớc và nƣớc ngoài đều cho thấy ĐNGV là một trong những nhân tố quyết định chất lƣợng giáo dục và đào tạo. Một số nghiên cứu đã ch ra giáo viên là ai? Họ có vai trò, chức năng, nhiệm vụ gì? Họ là ngƣời truyền cảm hứng và là yếu tố quan trọng, có ảnh hƣởng đến thành tích, kết quả học tập của học sinh. Về phương diện các cấp độ phát triển giáo viên, Michael Fullan, Andy Hargreaves [117] cho rằng: 1/ Phát triển tâm lý (có 4 cấp độ); 2/ Phát triển chuyên 11 môn nghiệp vụ (có 6 cấp độ) gồm: Phát triển các kỹ năng tồn tại, Thành thạo các kỹ năng dạy học cơ bản, Mở rộng sự linh hoạt chuyên môn, Trở thành chuyên gia, góp phần phát triển chuyên môn của đồng nghiệp, tham gia đƣa ra quyết sách giáo dục ở mọi cấp độ; 3/Phát triển chu k nghề nghiệp (với 5 cấp độ): Khởi động nghề nghiệp, Ổn định gắn bó nghề nghiệp, Các thách thức và mối quan tâm mới, trở thành chuyên nghiệp, chuẩn bị về hƣu.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới đều coi các điều kiện cơ bản đảm bảo chất lƣợng và sự phát triển của giáo dục gồm: 1/Môi trƣờng kinh tế của giáo dục; 2/ Chính sách và các công cụ thể chế hóa giáo dục; 3/ Cơ sở vật chất kỹ thuật và tài chính; 4/ĐNGV và ngƣời học; 5/ Nghiên cứu giáo dục, lý luận giáo dục và thông tin giáo dục. Nhƣ vậy, ĐNGV nói chung, giáo viên nói riêng là một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo chất lƣợng và sự phát triển của giáo dục. Ở Việt Nam, hơn bảy mƣơi năm phát triển giáo dục luôn gắn liền với lịch sử nghiên cứu các vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên, là quãng thời gian không ngừng xây dựng, phát triển và trƣởng thành của ĐNGV trong hệ thống giáo dục quốc dân.