CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO HƯỚNG XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục, trong đó có nghiên cứu về đội ngũ CBQL nói chung, CBQL trường tiểu học nói riêng. Các nghiên cứu thường tập trung vào vấn đề về năng lực quản lý, lãnh đạo nhà trường, về chuẩn hiệu trưởng, về mối quan hệ giữa cấp trưởng và cấp phó trong điều hành nhà trường… Cụ thể như: Nghiên cứu của Lynn Olson (2000) đã chỉ ra những phẩm chất, kỹ năng cho người hiệu trưởng trong bối cảnh mới đó là: phải là người có chuyên môn sư phạm, có phẩm chất, năng lực của nhà quản lý và nhà lãnh đạo; cần phải linh hoạt, đổi mới, có tầm nhìn chiến lược, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm [42].
Trong cuốn “School Principals: Core Actors in Educational Improvement, An Analysis of Seven Asian Countries” (UNESCO, 2004), các tác giả Maheswari Kandasamy và Lia Blaton đã nghiên cứu về hiệu trưởng của 7 nước Châu Á đã chỉ ra các tiêu chuẩn hiệu trưởng của các quốc gia như Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Sri Lanka, Pakistan, Nepal, Bangladesh và đã rút ra chuẩn tối thiểu cần có của một hiệu trưởng trường phổ và đánh giá hiệu trưởng trường trường phổ thông [46]. Tác giả Trần Thị Bạch Mai (2007) trong bài “Đào tạo bồi dưỡng hiệu trưởng - kinh nghiệm quốc tế và khả năng vận dụng vào điều kiện Việt Nam” đã nghiên cứu và phân tích chương trình đào tạo, bồi dưỡng hiệu trưởng của Trung Quốc cho thấy, các chương trình này tập trung vào bồi dưỡng kỹ năng quản lý sự thay đổi, quản lý xung đột, quản lý nhân sự, quản lý hiệu quả, huấn luyện và kèm cặp, quản lý chiến lược, công cụ tư duy chiến lược, lãnh đạo phát triển chương trình [28]. Trần Ngọc Giao (2007) khi bàn về“Năng lực và phát triển năng lực đối với 6 cán bộ quản lý giáo dục” đã chỉ ra những nhóm yêu cầu năng lực cơ bản của người cán bộ quản lý giáo dục bao gồm những vấn đề cơ bản sau: Nền tảng cá nhân và quản lý bản thân; năng lực lãnh đạo; năng lực tổ chức; năng lực quản lý tác nghiệp về giáo dục và đào tạo; năng lực hoạt động giáo dục; năng lực hoạt động xã hội; năng lực quản lý thông tin. Các năng lực này được đặt trên nền tảng phẩm chất và năng lực cá nhân [16].
Hà Thế Truyền trong bài viết: “Giao tiếp của cán bộ quản lý giáo dục” đã đề xuất các kỹ năng giao tiếp cụ thể của cán bộ quản lý giáo dục, như: Kỹ năng giao tiếp qua ngôn ngữ; kỹ năng giao tiếp qua văn bản; kỹ năng giao tiếp qua cử chỉ. Dự án SREM đã phát hành“Bộ tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học”, trong đó xác định, người quản lý cần có năng lực: Năng lực xác định tầm nhìn, mục tiêu, sứ mệnh của nhà trường; năng lực xây dựng chiến lược phát triển nhà trường; năng lực giám sát, đánh giá tiến độ thực hiện mục tiêu; năng lực xây dựng môi trường giáo dục theo định hướng kết quả;. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Nhà nước “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Bắc” do nhóm nghiên cứu Lê Kim Long và cộng sự (2019) đã tiến hành khảo sát 290 hiệu trưởng của sáu tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam về các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực lãnh đạo của hiệu trưởng. Theo nhóm tác giả này, vị trí địa lý, quy mô trường học và kết nối Internet là một trong những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đáng kể đến năng lực hiệu trưởng, đặc biệt tại các trường thuộc miền núi ở các tỉnh Tây Bắc.
Phân tích cho thấy rằng vị trí địa lý của một trường học và khả năng tiếp cận trường học về mặt địa lý có ảnh hưởng tương quan tới bốn năng lực lãnh đạo của hiệu trưởng, bao gồm: phát triển bản thân; tổ chức và hoạt động của trường; phát triển nguồn nhân lực; đảm bảo chất lượng giáo dục; kế hoạch chiến lược của nhà trường [23]. Như vậy, các nghiên cứu về cán bộ quản lý trường phổ thông và trường tiểu học đã tập trung vào vai trò đứng đầu nhà trường phổ thông của Hiệu trưởng để xác định cấu trúc của năng lực lãnh đạo nhà trường, trong đó nhấn mạnh đến năng lực lãnh đạo chuyên môn, lãnh đạo tổ chức, xây dựng văn hóa nhà trường và năng lực 7 kết nối cộng đồng. Các nghiên cứu về cộng đồng nghề nghiệp Trong tác phẩm “Nghiên cứu về cộng đồng: Khái niệm, cách tiếp cận và phân loại”, Phạm Hồng Tung (Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, ĐHQG Hà Nội) cho rằng “Cộng đồng là tập hợp người có sức bền cố kết nội tại cao, với những tiêu chí nhận biết và quy tắc hoạt động, ứng xử chung dựa trên sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, niềm tin và ý thức cộng đồng, nhờ đó các thành viên của cộng đồng cảm thấy có sự gắn kết họ với cộng đồng và với các thành viên khác của cộng đồng”[39]. Sharon Kruse, Karen Seashore Louis, and Anthony Bryk, (1994) trong bài “Building Professional Community in Schools” đã đề nghị các nhà nghiên cứu và nhà cải cách giáo dục không thể bỏ qua tác động của các quyết định và hành động mà giáo viên, cùng nhau làm việc trong một số hình thức liên hệ chuyên môn lâu dài, thực hiện để cải thiện kết quả hoạt động của trường.
Sự phản ánh tập thể, sự phát triển các tiêu chuẩn và kỳ vọng cũng như việc xây dựng kế hoạch hành động là những dấu hiệu nổi bật của một cộng đồng chuyên nghiệp phát triển tốt. Ở những trường có cộng đồng chuyên môn vững mạnh, giáo viên nhận được sự hỗ trợ nhiều hơn từ đồng nghiệp. Nghiên cứu cho thấy họ cảm thấy hiệu quả hơn trong công việc [44, tr. Chương trình Phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông (ETEP) thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tọa đàm “Phát triển cộng đồng học tập trong đội ngũ nhà giáo nhằm thực hiện thành công chương trình Giáo dục phổ thông 2018”.
Các cộng đồng học tập theo nhóm có chung mối quan tâm hoặc mục tiêu học tập, cùng tham gia để chia sẻ hoặc chuyển giao tri thức liên quan đến mối quan tâm đó. Đó là cộng đồng học tập giữa giáo viên cốt cán với nhau; giữa các giáo viên trong nhà trường phổ thông, cộng đồng học tập giữa giáo viên theo môn học của các trường phổ 8 thông với nhau; cộng đồng giữa giáo viên với giáo viên sư phạm tham gia bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông và cuối cùng là cộng đồng giữa giáo viên sư phạm trong trường; giữa giáo viên sư phạm theo bộ môn giữa các trường đại học sư phạm [40]. Như vậy, các nghiên cứu đã đề cập đến cộng đồng nghề nghiệp (hay cộng đồng học tập nghề nghiệp) và vai trò của nó trong đào tạo nghề, trong nâng cao kết quả làm việc của giáo viên, cán bộ quản lý trong và ngoài nhà trường. Các nghiên cứu về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học Các công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ cán bộ QLGD nói chung và cán bộ quản lý trường tiểu học nói riêng khá phong phú.G (2004) trong “Preparing leaders of school for the 21st Century: an international comparison of development programs in 15 countries” đã đề xuất muốn có hiệu trưởng giỏi cần phải có sự chuyển đổi từ những chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng từ bồi dưỡng các kỹ năng quản lý chung chung sang bồi dưỡng các kỹ năng quản lý cụ thể, giúp cho hiệu trưởng tạo dựng được cơ sở làm tốt công việc lãnh đạo, quản lý nhà trường.
Nghiên cứu của Mitch McCrimmon (2011) trong nghiên cứu về người quản lý cho rằng, việc bồi dưỡng cho hiệu trưởng phải kết hợp giữa nhu cầu của cá nhân và yêu cầu của công việc quản lý [43]. Những yêu cầu này được nhận ra một cách nhanh chóng và sâu sắc hơn nhờ sự hỗ trợ của các đồng nghiệp cùng làm công việc quản lý, lãnh đạo tại địa phương. Một số đề tài nghiên cứu về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý như: Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Nhà nước “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Bắc” do nhóm nghiên cứu Lê Kim Long và cộng sự (2019), trên cơ sở đánh giá thực trạng, đề tài đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý ngành giáo dục và đào tạo đáp ứng theo yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Các giải pháp được đề tài đề cập, như: Rà soát tổng thể, đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục vùng Tây Bắc hiện nay; Thực hiện quy hoạch, tạo nguồn đội ngũ giáo 9 viên và cán bộ quản lý giáo dục gắn với chiến lược phát triển vùng DTTS và miền núi nói chung và vùng Tây Bắc nói riêng; Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục vùng Tây Bắc; Bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục vùng Tây Bắc; Xây dựng cơ chế đảm bảo thực hiện hiệu quả công tác đào tạo và phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục vùng Tây Bắc; Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của nguồn nhân lực làm giáo viên và cán bộ QLGD, nhất là đối với cán bộ là người dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay; Gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục vùng Tây Bắc trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế….