phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục nghiên cứu, luận án gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của phát triển đội ngũ giáo viên chủ nhiệm ở trƣờng trung học cơ sở theo tiếp cận năng lực. Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn của phát triển đội ngũ giáo viên chủ nhiệm ở trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh theo tiếp cận năng lực. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên chủ nhiệm ở trƣờng trung học cơ sở theo tiếp cận năng lực. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Các nghiên cứu về giáo viên chủ nhiệm trƣờng phổ thông 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Trong các công trình nghiên cứu của mình, nhiều tác giả đã nhấn mạnh vị trí, vai trò quan trọng của GVCN. Theo tác giả Qi Shi & Leuwerke W.C [82], GVCN có vai trò rất quan trọng trong nhà trƣờng và có ảnh hƣởng lớn đối với HS.
Khi ai đó nhìn lại quãng thời gian đi học của mình, ngƣời đầu tiên họ nghĩ đến chính là GVCN của mình.N [83] cho rằng, làm GVCN là một công việc khó khăn và tốn nhiều thời gian, nhƣng rất đƣợc tôn trọng trong nhà trƣờng và trong xã hội; trong nhiều trƣờng hợp GVCN và lớp chủ nhiệm tƣơng tác nhƣ một gia đình lớn, do đó HS chịu ảnh hƣởng đáng kể từ cách hành xử của GVCN.S [87] đã chỉ ra các vai trò của GVCN: Duy trì kỷ luật, sĩ số, trật tự và an toàn của lớp học; Giao nhiệm vụ cho HS; Xây dựng tinh thần đồng đội và tình bạn giữa HS; Tƣ vấn tâm lý cho HS; Xác định các vấn đề và nhu cầu của HS; Thiết lập mối quan hệ GV - HS tích cực; Thực hành và khuyến khích sử dụng hiệu quả thời gian trong lớp học; Cung cấp hỗ trợ học tập cá nhân để giúp HS thành công; Giao tiếp với phụ huynh/ngƣời giám hộ để trao đổi về sự tiến bộ/ thiếu hụt của con em họ, các hoạt động và kỳ vọng. Theo tác giả Tharby A. [86], ngƣời GVCN hiệu quả phải đáp ứng tốt 6 vai trò: Hình mẫu về sự chuẩn mực; Giúp HS cảm thấy thoải mái trong học tập và sinh hoạt; Tạo nên mối quan hệ tích cực giữa HS với mọi ngƣời xung 9 quanh và thúc đẩy sự tôn trọng lẫn nhau; Lắng nghe HS từ những vấn đề nhỏ nhặt nhất; Định hƣớng thành công cho HS thông qua con đƣờng học tập; Khuyến khích HS tranh luận về những điều thiết thân đối với các em trong hiện tại và tƣơng lai; Khuyến khích HS đọc sách giải trí và nâng cao khả năng học tập. Nhƣ vậy, tuy cách diễn đạt khác nhau nhƣng các tác giả đƣợc đề cập tới ở trên đều thống nhất khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của GVCN, cho dù nhà trƣờng hiện đại có nhiều thay đổi.
Cùng với nghiên cứu vị trí, vai trò của GVCN, nhiều tác giả còn nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ của GVCN trƣờng phổ thông. Theo Qi Shi & Leuwerke W.C [82], GVCN ở trƣờng phổ thông có các chức năng, nhiệm vụ chính sau đây: Lãnh đạo, tổ chức, quản lý lớp học mình chủ nhiệm theo đúng các quy định của nhà trƣờng và nhà nƣớc; Hƣớng dẫn, trợ giúp HS trong mọi mặt học tập và đời sống tinh thần, xã hội; Giáo dục đạo đức, kỷ luật, tƣ tƣởng cho HS; Cùng chia sẻ mọi trách nhiệm nuôi dƣỡng, dạy dỗ trẻ em với cha mẹ HS; Trợ giúp lãnh đạo nhà trƣờng trong việc thực hiện kế hoạch giảng dạy và các chính sách, biện pháp giáo dục; Thực hiện các chức năng tƣ vấn tâm lý, tình cảm nghề nghiệp, cuộc sống cho HS. G [90] nhấn mạnh, một ngƣời GVCN tuyệt vời sẽ xây dựng những mối quan hệ tích cực giữa tất cả HS trong lớp; dùng thời gian chủ nhiệm của mình để củng cố tinh thần đoàn kết và truyền cảm hứng học tập cho HS; khuyến khích một môi trƣờng có sự tôn trọng lẫn nhau, cũng nhƣ quan tâm thƣờng xuyên, hết mức có thể đến từng cá nhân HS; thiết lập mối liên hệ quan trọng giữa HS, nhà trƣờng và phụ huynh.A [89], GVCN không chỉ chịu trách nhiệm về HS của mình trong thời gian học tập trên lớp mà ngay cả thời gian HS sinh hoạt ngoài phạm vi nhà trƣờng; đồng thời GVCN cũng có nhiệm vụ xây dựng và duy trì bầu không khí cộng đồng tích cực trong lớp học để mọi HS có cơ hội hiểu biết và gần gũi nhau; phát hiện các vấn đề, khó khăn của HS và phối hợp với cán bộ tƣ vấn để giải quyết. 10 Qua các công trình nghiên cứu nói trên, các tác giả đều thống nhất ở những chức năng, nhiệm vụ cơ bản của GVCN trƣờng phổ thông, đó là quản lý toàn diện HS của một lớp học; xây dựng tập thể lớp vững mạnh; tƣ vấn tâm lý, giúp đỡ HS trong học tập và sinh hoạt; làm cầu nối giữa nhà trƣờng với HS và phụ huynh.
Các công trình nghiên cứu ở trong nước Các tác giả Nguyễn Văn Hộ [30], Nguyễn Dục Quang [51], Phan Thanh Long [46]. trong công trình nghiên cứu của mình đều khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của GVCN ở trƣờng phổ thông. Có thể khái quát từ nghiên cứu của các tác giả nói trên về vị trí, vai trò quan trọng của GVCN ở trƣờng phổ thông qua một số nhận định sau đây: Thứ nhất: GVCN là ngƣời thiết kế tổ chức quan hệ phối hợp các lực lƣợng trong và ngoài nhà trƣờng nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, phát triển tiềm năng của xã hội và nhà trƣờng, phát huy tốt nhất, tối đa khả năng của HS để họ trở thành chủ thể của sự phát triển nhân cách. Thứ hai: GVCN chiếm vị trí trung tâm, trụ cột trong quá trình giáo dục HS, là linh hồn của lớp học, là ngƣời cố vấn đáng tin cậy dẫn dắt, định hƣớng giúp HS biết vƣơn lên tự hoàn thiện và phát triển nhân cách.
Thứ ba: GVCN là ngƣời đại diện quyền lợi, nguyện vọng chính đáng của tập thể HS, là “cầu nối” giữa các lớp với Hiệu trƣởng và các thầy cô giáo. Thứ tư: GVCN có ảnh hƣởng to lớn đến sự phát triển nhân cách HS; HS càng nhỏ tuổi thì vai trò và ảnh hƣởng của GVCN càng lớn. Thứ năm: GVCN là ngƣời chịu trách nhiệm chính và trực tiếp kết quả học tập, rèn luyện của HS lớp mình phụ trách; có ảnh hƣởng to lớn đến sự phát triển nhân cách HS. Từ các nghiên cứu nói trên cho thấy, GVCN có vị trí, vai trò và có ảnh hƣởng lớn đến giáo dục HS trong nhà trƣờng phổ thông.
Chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu đối với GVCN trƣờng phổ thông cũng đƣợc các tác giả trong nƣớc quan tâm nghiên cứu. Theo tác giả Hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỉ [57], 11 sau mấy trăm năm (kể từ thời J. Cômenxki), chức năng cơ bản nhất của GVCN vẫn là đại diện của hiệu trƣởng quản lý hoạt động học tập, sinh hoạt của một lớp học trong nhà trƣờng. Tuy nhiên, nội hàm của chức năng cơ bản nhất này đã có những thay đổi quan trọng.
Tác giả Hà Nhật Thăng [59] đã so sánh chức năng, nhiệm vụ của GVCN trƣớc đây và hiện nay; từ đó chỉ ra những điểm khác biệt về chức năng, nhiệm vụ của GVCN trƣớc đây và hiện nay, đó là: Cố vấn cho HS trong tổ chức các hoạt động giáo dục; phối hợp với các lực lƣợng xã hội tạo điều kiện không gian, thời gian cho HS học tập, rèn luyện; giúp HS và tập thể lớp tự đánh giá quá trình rèn luyện theo mục tiêu giáo dục; phát hiện năng khiếu và sở thích của HS; kế hoạch hóa việc tổ chức bồi dƣỡng, rèn luyện các kỹ năng cho HS, nhất là những kỹ năng sống; xây dựng Hội cha mẹ HS thành lực lƣợng tham gia trực tiếp vào các hoạt động của lớp chủ nhiệm. Xuất phát từ những vấn đề đang nổi lên trong đời sống học đƣờng của HS hiện nay, tác giả Phạm Minh Hùng [33] đã nêu lên 5 chức năng, nhiệm vụ của GVCN: GVCN là ngƣời tháo gỡ những “xung đột” trong các nhóm HS; GVCN là ngƣời định hƣớng dƣ luận cho tập thể lớp học; GVCN là ngƣời tƣ vấn tâm lý cho học sinh; GVCN là ngƣời định hƣớng giá trị cho HS. Cùng với các nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ của GVCN, một số tác giả cũng nghiên cứu về yêu cầu đối với GVCN trong giai đoạn hiện nay. Tác giả Phạm Khắc Chƣơng, Hồ Thị Nhật [13] cho rằng, GVCN trƣờng phổ thông phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: Có đạo đức nghề nghiệp; thƣờng xuyên phải bồi dƣỡng kiến thức văn hóa khoa học để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lƣợng dạy học trong xã hội hiện đại; có nhiệt tình và kỹ năng hoạt động xã hội; có khả năng hợp tác, đoàn kết thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ; bảo vệ sự tôn vinh của nghề thầy giáo.
Các tác giả khác nhƣ Bùi Thị Loan, Nguyễn Thành Vân [45] đã đƣa ra những yêu cầu đối với ngƣời GVCN trƣờng phổ thông trong giai đoạn hiện nay, đó là: Yêu nghề, yêu trẻ; lòng nhân ái, vị tha của ngƣời thầy giáo; rèn luyện kỹ năng hoạt động xã hội. 12 Tác giả Hà Văn Hải [24] lại phác họa mô hình ngƣời GVCN trƣờng phổ thông thời kì đổi mới giáo dục, với những yêu cầu về phẩm chất năng lực nhƣ sau: 1) Về phẩm chất: Niềm tin vào cuộc sống và xã hội; sự đồng cảm với con ngƣời; có thế giới quan khoa học, có lý tƣởng nghề nghiệp trong sáng, có lòng yêu nghề; công bằng và khéo léo đối xử sƣ phạm; có tình yêu thƣơng HS và say mê nghề nghiệp; luôn là tấm gƣơng sáng cho mọi ngƣời noi theo; tính cởi mở, lòng vị tha, chân thành; năng động trong cuộc sống; kiên định về đạo đức; tự chủ và tự kiềm chế; yêu cầu cao đối với bản thân và HS. 2) Về năng lực: độc lập, tự chủ, sáng tạo trong hoạt động sƣ phạm; chuẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tƣợng; thiết kế, tổ chức thực hiện, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch dạy học và giáo dục. Các nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên chủ nhiệm trƣờng phổ thông 1.
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Làm thế nào để phát triển đội ngũ GVCN trƣờng phổ thông một cách có hiệu quả? Đó là câu hỏi đƣợc đặt ra trong rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nƣớc ngoài về GVCN.