mở đầu của các hoạt động chuỗi giá trị cơ bản. Về thực chất đây chính là hoạt động mua nguyên vật liệu đầu vào của mỗi doanh nghiệp; vừa là tiền đề và điều kiện cho các hoạt động chuỗi giá trị tiếp theo; vừa là một hoạt động cơ bản, nghĩa là nó cũng tạo nên giá trị và giá trị gia tăng cho doanh nghiệp trên thị trường nguồn của mỗi doanh nghiệp. Quản trị mua NVL cụ thể là các hoạt động liên quan tới việc thu mua, quản lý dòng NVL từ đầu vào cho đến công đoạn bảo quản trước khi đưa vào sản xuất, quản trị mua NVL là nhiệm vụ quan trọng của các doanh nghiệp sản xuất, giúp doanh nghiệp đảm bảo được tính nhịp nhàng và liên tục trong hoạt động. Bất kỳ sai sót nào trong quản trị mua nguyên vật liệu đều có thể gây ra những tổn thất nặng nề về kinh tế cũng như tổn hại uy tín của doanh nghiệp.
Thứ hai, nếu như hoạt động marketing và bán hàng là khâu kết nối doanh nghiệp với thị trường tiêu thụ cho đến người tiêu dùng cuối cùng và tạo nên chuỗi cung ứng hạ nguồn của doanh nghiệp, thì hoạt động mua NVL đầu vào chính là khâu kết nối các NCC trực tiếp và sau đó đến các NCC đầu tiên tạo nên chuỗi cung ứng thượng nguồn – cứ vậy kết nối 2 bậc này sẽ hình thành chuỗi cung ứng 1 ngành kinh doanh. Điều này đặt ra sự cần thiết và tầm nhìn của quản trị NVL cho doanh nghiệp. Akindipe (2014) đã nhận định: quản trị NVL đóng vai trò vô cùng quan trọng để doanh nghiệp có thể tổ chức sản xuất một cách hiệu quả. Nguyên liệu chất lượng có được cung cấp đủ số lượng vào đúng thời điểm hay không sẽ quyết định số lượng chất lượng của sản phẩm và thời điểm có thể giao hàng.
Quản trị NVL đóng vai trò quyết định tới hiệu quả của tất cả các hoạt động liên quan tới sản xuất. Bên cạnh những yếu tố như nhu cầu của thị trường, hoạt động của đối thủ cạnh tranh và chỉ số giá cả chung thì quản trị NVL cũng góp phần quyết định hiệu quả hoạt động, doanh thu và lợi nhuận cuối cùng của doanh nghiệp. Thứ ba, ngoài những yếu tố như nhu cầu của thị trường, hoạt động của đối thủ chỉ số giá cả chung thì việc quản trị tốt nguyên vật liệu cũng quyết định tới hiệu quả hoạt động, doanh thu và lợi nhuận cuối cùng của doanh nghiệp. Quayle (2006) đã chỉ ra rằng các doanh nghiệp chi khoảng 30% đến 75% tổng chi phí của doanh nghiệp để mua hàng hóa dịch vụ, chính vì vậy quản trị tốt mua hàng trong chuỗi cung cấp có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm một khoản chi phí đáng kể.
Nghiên cứu của Ondiek (2009) và Wild (1995) cũng chỉ ra rằng quản trị nguyên vật liệu bao gồm tất cả các chức năng quản trị luan an 2 vận hành từ việc mua nguyên liệu đầu vào cho tới tiến hành sản xuất rồi giao thành phẩm cho khách hàng [83, 105]. Để thực hiện những chức năng này, doanh nghiệp cần tiến hành các công tác quản trị như xác định nhu cầu sản xuất, lên lịch sản xuất và mua nguyên liệu, phân loại, phân phối và đánh giá nguyên liệu. Sự phối hợp triển khai hiệu quả các chức năng trên sẽ giúp doanh nghiệp tăng được kết quả kinh doanh của mình. Thứ tư, về nguyên lí – để phát triển một ngành công nghiệp sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh cho các thị trường, người tiêu dùng cuối cùng và / hoặc cung ứng trang thiết bị cho các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế đều cần phát triển công nghiệp phụ trợ để cung cấp các yếu tố ―đầu vào ‖, các chi tiết bán thành phẩm cho sản xuất thành phẩm.
Đây là một nội dung quản trị chuỗi cung ứng đảm bảo tính chủ động không lệ thuộc và chất lượng, hiệu quả quản trị NVL ―đầu vào‖ cho các doanh nghiệp may nói riêng và các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm tiêu dùng khác mà ngành may Việt Nam còn chưa được nghiên cứu và phát triển một cách hệ thống. Thứ năm, trên thực tế các doanh nghiệp may thuộc Vinatex hiện vẫn còn phụ thuộc 70% - 75% nguyên vật liệu ―đầu vào‖ vào các NCC nước ngoài và nhà nhập khẩu công nghiệp. Đây thực sự đang là bài toán khó cho nhiều doanh nghiệp may trong việc đáp ứng quy tắc xuất xứ ―từ sợi trở đi‖ theo quy định của các hiệp định thương mại. Tình trạng trên trong tình thế các doanh nghiệp may thuộc Vinatex đều có định hướng xuất khẩu là chủ yếu và do không chủ động nguồn nguyên vật liệu, phụ kiện có chất lượng nên phương thức xuất khẩu cũng chủ yếu là ―gia công xuất khẩu‖.
Bên cạnh đó, các chi phí liên quan đến vận chuyển, thủ tục hải quản và các chi phí khác phát sinh từ việc nhập khẩu nguyên phụ liệu cũng làm tăng chi phí mua NVL tại các doanh nghiệp may Việt Nam, cao hơn khoảng 25-30% so với các doanh nghiệp may ở Trung Quốc và Ấn Độ. Chính vì vậy, đối với các doanh nghiệp may Việt Nam thì quản trị mua NVL ngày càng đóng vai trò quan trọng. Xuất phát từ những lý do nêu trên,―ngành may Việt Nam, trong đó có Vinatex cần xây dựng những giải pháp có tính đột phá, dài hạn để ngày càng nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp may Việt Nam, tiếp tục thâm nhập vững vàng trên thị trường quốc tế với nhiều phương thức đa dạng tức là trong thời gian tới cần quan tâm, quản lý ổn định nguồn nguyên vật liệu đầu vào để thực hiện mục tiêu chiến lược đã được Chính phủ và Bộ Công Thương phê duyệt. Do vậy, việc chọn đề tài ―Quản trị mua nguyên vật liệu của các doanh nghiệp may thuộc Vinatex‖ làm luận án tiến sĩ của NCS thực sự có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn và sẽ đóng góp một phần quan trọng trong việc định hướng phát triển nguồn NVL phục vụ cho ngành may của Việt Nam nói chung và của Vinatex nói riêng khi xâm nhập vào thị trường quốc tế trong những năm tới khi bối cảnh Việt Nam đang đứng trước những cơ hội mới và thách thức về hội nhập kinh tế quốc tế, mà cụ thể là ký kết các Hiệp định thương mại tự do - FTAs.Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 2.
Các công trình nghiên cứu về mua và mua sắm Mua và mua sắm là những nội dung được các nhà khoa học dày công nghiên cứu từ rất lâu, có thể kể đến như công trình của Compton & Jessop (1995) đã định nghĩa ‗procurement‘ trong cuốn ―Dictionary of purchasing & supply”, là việc có được nguồn cung cấp hoặc dịch vụ bằng nhiều phương thức khác nhau (ví dụ như đi vay, chuyển nhượng, mua trả góp) trong đó có thể có hoặc không có sự cân nhắc [38]. Van Weele và Rozemeijer trong cuốn ―Revolution in purchasing‖ (1996), lại cho rằng ‗procurement‘ bao gồm tất cả các hoạt động cần thiết để đưa được sản phẩm từ NCC đến nơi nó được tiêu thụ [101]. ‗Procurement‘ cũng có thể hiểu là việc mua sắm (purchasing), kí kết hợp đồng và các hoạt động logistics bao gồm kiểm soát hàng tồn kho, xếp hàng vào kho, vận chuyển, kiểm soát chất lượng. Sự khác biệt giữa việc mua sắm (purchasing) và kí hợp đồng (contracting) đó là kí hợp đồng chính là thực hiện việc mua sắm (purchasing) cùng với những điều kiện cam kết quan trọng.
Còn theo tác giả An Thị Thanh Nhàn và cộng sự (2018) thì ‗Mua‘ lại là các hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo ra nguồn lực đầu vào. Mua còn được hiểu là tìm nguồn cung ứng, thảo hợp đồng cung ứng cũng như quản trị tồn kho [2]. Ngoài ra, khái niệm mua (procurement) thường được sử dụng khi nói đến hoạt động mua sắm (purchasing) của chính phủ. Trong cuốn ―Purchasing and materials management text and cases‖ của Dobler (1990) cho biết những hoạt động cụ thể của ‗purchasing‘ bao gồm việc tham gia vào quá trình phát triển các nhu cầu và chi tiết kĩ thuật cụ thể, điều hành các hoạt động phân tích giá trị, tiến hành khảo sát thị trường cung cấp, quản lí các hợp đồng mua sắm, quản lí chất lượng NCC, thuê các dịch vụ vận chuyển về nước [45].
Nghiên cứu của Dooley (1995) lại khẳng định quản lý mua sắm đang dần trở thành một yếu tố chiến lược quan trọng trong các quyết định quản trị [46]và theo Porter (1987) chuỗi giá trị là yếu tố mang tính chất nền tảng đối với hiệu quả vận hành của tổ chức[88]. Các nhà nghiên cứu khác cũng có cùng quan điểm trong việc đề cao vai trò của mua - purchasing bao gồm Crosby (1979), Schonberger (1986), Womack (1991), Elliott- Shircore và Steele (1985). Họ đã đưa ra một định nghĩa rõ ràng về mua sắm (purchasing), trong đó các tác giả khẳng định mua sắm (purchasing) là quá trình khi các công ty (hoặc tổ chức) kí kết hợp đồng với bên thứ ba để có được hàng hóa và dịch vụ cần thiết phục vụ mục tiêu kinh doanh sao cho tiết kiệm thời gian và chi phí nhất [42, 47, 63, 107]. Cụm từ purchasing và procurement thường được sử dụng như nhau, tuy nhiên, sự khác biệt ở đây là mua sắm (purchasing) quan tâm nhiều hơn đến việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ thương mại, trong khi đó mua (procurement) chú trọng hơn tới việc kiểm soát hàng hóa luan an 4 và việc giao hàng sau khi hợp đồng được kí kết hay đơn hàng được đặt.
Chiến lược mua Trong cuốn ―Purchasing and supply chain management strategies and realities‖ Quayle M. (2006) đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của hoạch định và chiến lược mua. Với môi trường kinh doanh ngày càng biến đổi mạnh mẽ cùng những thay đổi trong sản phẩm, quy trình sản xuất, kĩ thuật…doanh nghiệp phải có tầm nhìn xa, phải tìm hiểu và dự đoán trước về những thay đổi này để có kế hoạch đối phó phù hợp[75]. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp (corporate plan) để thiết lập những mục tiêu nền tảng cho mình, từ đó đưa ra chỉ dẫn hành động cho các bộ phận chuyên môn và điều phối công việc của các phòng ban này, đảm bảo các công việc được thực hiện một cách nhịp nhàng, giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu cuối cùng.
Để kế hoạch có tính khả thi cao và hiệu quả thì các yếu tố liên quan đến việc thu mua cần phải được quan tâm đúng mức vì nếu không có nguồn nguyên liệu phù hợp đúng lúc với giá cả hợp lí thì kế hoạch kinh doanh không thể thành công.